Do đó Thủ tướng cho rằng cần phải chuyển đổi tư duy tiếp cận, xử lý công việc trước những yêu cầu mới, vấn đề mới. Đặc biệt trong tham mưu, hoạch định và điều hành chính sách vĩ mô, chính sách tài chính.
Thủ tướng yêu cầu Bộ Tài chính tập trung xây dựng Đảng bộ trong sạch, vững mạnh, toàn diện, đổi mới lề lối làm việc, tạo bước chuyển căn bản trong chất lượng hiệu quả. Khẩn trương cụ thể hóa các nghị quyết, kết luận của Trung ương, Quốc hội và Chính phủ với các chương trình hành động cụ thể, phân công rõ nhiệm vụ.
Rà soát bổ sung và giao mục tiêu tăng trưởng kế hoạch tài chính quốc gia, vay trả nợ công, đầu tư công trung hạn trên từng lĩnh vực. Quy định rõ một cơ quan đầu mối chịu trách nhiệm về quản lý khu công nghiệp, khu kinh tế, khu thương mại tự do, doanh nghiệp nhà nước.
Xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật, tổng rà soát hệ thống pháp luật. Bao gồm hợp nhất hai luật ngân sách nhà nước và đầu tư công, sửa đổi Luật Đấu thầu, Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, Luật Hải quan…
Xây dựng để triển khai đề án xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập quốc tế, nghị quyết về mô hình phát triển đất nước trong giai đoạn mới dựa trên khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Đánh giá một số cơ chế, chính sách đặc thù tại một số địa phương để triển khai ra toàn quốc.
Trong quý 2, hoàn thành lập, điều chỉnh, phê duyệt các quy hoạch để đồng bộ, thống nhất với yêu cầu tăng trưởng hai con số. Hoàn thiện pháp luật để xử lý triệt để tài sản công, rà soát, bổ sung hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, định mức kinh tế kỹ thuật của ngành.
Người đứng đầu Chính phủ cũng giao bộ khẩn trương hoàn thiện các kịch bản điều hành tăng trưởng với các phương án khác nhau. Tăng cường phối hợp liên ngành trong điều hành kinh tế vĩ mô, quản lý giá, nhất là Ngân hàng Nhà nước, Bộ Công Thương.
Về thu, chi ngân sách nhà nước, Thủ tướng nhấn mạnh yêu cầu bảo đảm vai trò chủ đạo của ngân sách Trung ương và tính trung lập của chính sách thuế. Nghiên cứu hoàn thiện quy định về các sắc thuế, mở rộng và chống xói mòn cơ sở thuế, khai thác các nguồn thu còn dư địa, chống thất thu, chú trọng nuôi dưỡng nguồn thu, tạo động lực cho phát triển.
Thực hiện hiệu quả các chính sách về miễn, giảm thuế, phí, lệ phí để hỗ trợ doanh nghiệp, người dân. Triển khai có hiệu quả quy định về nâng ngưỡng doanh thu hộ kinh doanh không phải nộp thuế lên 1 tỉ đồng. Đẩy mạnh tiết kiệm chi thường xuyên, tăng chi cho đầu tư phát triển.
Tăng cường kỷ luật, kỷ cương, đẩy mạnh phân bổ, giải ngân vốn đầu tư công, đánh giá hiệu quả kinh tế – xã hội các dự án đầu tư công. Thực hiện phân bổ vốn đầu tư công trung hạn, bố trí vốn tập trung, trọng điểm, kiên quyết chống dàn trải, manh mún, giảm ít nhất 30% tổng số dự án so với trước.
Có các giải pháp đủ mạnh để phát triển thị trường chứng khoán thực sự trở thành kênh huy động vốn trung và dài hạn quan trọng của nền kinh tế, bao gồm hoàn thiện quy định trái phiếu doanh nghiệp, thúc đẩy phát triển trung tâm tài chính quốc tế; cơ cấu lại Tổng công ty Đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước, tiến tới thành lập quỹ đầu tư quốc gia.
Hoàn thiện phương án đẩy mạnh sắp xếp, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước bảo đảm hiệu quả, không thất thoát, lãng phí, tiếp tục thu hút các nhà đầu tư nước ngoài. Xây dựng đề án cải cách tổng thể thị trường tài chính Việt Nam gắn với thực hiện mục tiêu tăng trưởng cao.
Tập trung cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, cắt giảm thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh, thời gian thực hiện, chi phí tuân thủ. Hoàn thiện tiêu chí phân loại doanh nghiệp nhà nước, vốn nhà nước, phối hợp với tập đoàn, tổng công ty đẩy nhanh tiến độ các dự án trọng điểm.
Thực hiện nghiêm túc chỉ đạo về dự trữ quốc gia. Tăng cường khả năng phân tích, dự báo nắm tình hình để chủ động, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống. Bộ phối hợp với Bộ Công Thương nghiên cứu, xây dựng kho dự trữ chiến lược xăng dầu quốc gia.
Tại hội nghị, TS Nguyễn Quốc Thập - Chủ tịch Hội Dầu khí Việt Nam - cho rằng trong giai đoạn phát triển mới của đất nước, đặt ra yêu cầu cao hơn cho ngành dầu khí. Đó là chúng ta cần một nền năng lượng an toàn hơn, linh hoạt, cạnh tranh, xanh và tự chủ hơn. Tuy nhiên nhìn vào thực tế, các điều kiện thuận lợi của ngành dầu khí không còn như trước.
Nhiều mỏ chủ lực đã qua thời kỳ khai thác tốt nhất, nên việc gia tăng trữ lượng ngày càng khó hơn. Các dự án mới thường xa, sâu hơn, phức tạp, rủi ro hơn với yêu cầu về vốn, công nghệ, tiêu chuẩn môi trường và năng lực quản trị ngày càng cao.
Ông Trần Thanh Tùng, Phó vụ trưởng Vụ Dầu khí, Than (Bộ Công Thương), cũng chỉ ra những thách thức lớn, đó là sự mâu thuẫn giữa nhu cầu năng lượng phục vụ phát triển kinh tế (dự kiến trên 10%) với thực trạng nguồn cung nội địa bị suy giảm.
Trên thực tế, các mỏ dầu khí chủ lực của Việt Nam sau thời gian dài khai thác đã bước vào giai đoạn suy giảm sản lượng tự nhiên từ 15-30% mỗi năm.
Công tác gia tăng trữ lượng gặp nhiều khó khăn khi các phát hiện mới chủ yếu là mỏ nhỏ, cận biên, hiệu quả kinh tế thấp hoặc nằm ở vùng nước sâu, xa bờ với địa chất phức tạp và nhạy cảm.
Các nguồn năng lượng khác như thủy điện bị khai thác tối đa. Các mỏ than lộ thiên đến nay đã suy giảm sản lượng, đòi hỏi chi phí cao và công nghệ tiên tiến.
Trong khi đó nguồn điện tái tạo lại đòi hỏi nguồn đầu tư lớn và tính ổn định chưa cao. Hệ thống hạ tầng năng lượng chưa đáp ứng yêu cầu, trong khi tỉ lệ nội địa hóa của ngành vẫn chưa cao.
Những điểm nghẽn về thể chế, pháp lý vẫn còn tồn tại. Đặc biệt là yêu cầu hoàn thiện khung pháp lý cho năng lượng mới thu hút nhà đầu tư tham gia như điện gió ngoài khơi, hydrogen xanh, amonia xanh, thu giữ và lưu trữ carbon…
Thêm nữa là vấn đề thiếu nguồn lực tài chính triển khai các dự án năng lượng mới trong bối cảnh giá nhiên liệu sơ cấp tăng phi mã, đặc biệt là giá LNG. Chính sách giá năng lượng vẫn còn những bất cập và còn tình trạng bù chéo. Việc duy trì mức giá năng lượng ổn định để bảo đảm ổn định vĩ mô và kiểm soát lạm phát là một áp lực cực kỳ lớn.
Dù vậy, nhìn nhận vào những cơ hội, ông Thập cho rằng ngành dầu khí không chỉ tiếp tục giữ vững vai trò truyền thống mà còn mở rộng sang một không gian công nghiệp - năng lượng rộng hơn.
Đó là lĩnh vực khí, LNG, điện khí, lọc hóa dầu giá trị cao, dịch vụ kỹ thuật cao, điện gió ngoài khơi, CCS/CCUS, hydrogen, amonia, chuyển đổi số, quản trị phát thải và các chuỗi giá trị năng lượng mới...
Để tận dụng cơ hội, Chủ tịch Hiệp hội Dầu khí nhấn mạnh yêu cầu hoàn thiện cơ chế, chính sách để tháo gỡ các vướng mắc, mở ra không gian thể chế. Trong đó việc sửa đổi Luật Dầu khí và các cơ chế chính sách liên quan có vai trò lớn để mở không gian phát triển cho chuỗi giá trị dầu khí, phát triển mỏ nhỏ, mỏ cận biên, tận thu tài nguyên, nâng cao hệ số thu hồi, thúc đẩy dịch vụ kỹ thuật cao, năng lượng ngoài khơi…
Đồng tình, trong bối cảnh ngành năng lượng phải đáp ứng yêu cầu kép là đảm bảo an ninh năng lượng, chuyển dịch năng lượng theo cam kết Net Zero và nhu cầu tăng trưởng hai con số, ông Tùng cho rằng cần giải quyết các nút thắt như đột phá về thể chế, tăng tính tự chủ năng lượng gắn với tăng năng lực nội tại, cũng như đảm bảo tính hài hòa giữa an ninh, giá cả và bền vững.
Ông Tạ Đình Thi, Phó chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội, thì cho rằng ngành dầu khí cần tối ưu chuỗi giá trị, đặc biệt là gắn khai thác, chế biến dầu khí với các ngành năng lượng mới như điện gió ngoài khơi, LNG. Thúc đẩy xu thế dầu khí năng lượng, số hóa, tích hợp thông tin dữ liệu trên biển. Gắn với phát triển các mô hình hợp tác quốc tế, thử nghiệm có kiểm soát.
Theo đó, ông Đinh Trường Chinh (cựu Chủ tịch hội đồng quản trị Công ty cổ phần HDTC), ông Đinh Chí Minh (cựu Tổng giám đốc Công ty cổ phần HDTC, anh trai ruột của ông Đinh Trường Chinh), bà Đinh Ngọc Thiên Hương (chị gái ông Chinh), ông Võ Bửu (cựu Giám đốc Công ty TNHH Đầu Tư và Phát triển Nhà Mỹ Vân), Nguyễn Thị Hồng Mai (cựu nhân viên Công ty cổ phần HDTC) bị truy tố về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, tham ô tài sản.
Thông qua việc nắm cổ phần chi phối 70% tại Công ty cổ phần Phát triển và Kinh doanh nhà và giữ chức Chủ tịch hội đồng quản trị, ông Đinh Trường Chinh đã quyết định không bàn giao tài sản cho khách hàng theo hợp đồng ký từ năm 1998.
Ông Chinh còn chỉ đạo ông Đinh Chí Minh chiếm đoạt phần giá trị tài sản mà bà Văn Bảo Ngọc, bà Nguyễn Thị Hạnh, ông Hà Văn Cun và bà Trương Thanh Tâm đã nhận chuyển nhượng từ công ty. Sau đó, các tài sản này tiếp tục được chuyển nhượng cho khách hàng khác, thu tổng cộng 199 tỉ đồng.
Ngoài ra, ông Đinh Trường Chinh còn chỉ đạo bà Đinh Ngọc Thiên Hương, ông Đinh Chí Minh, ông Võ Bửu (môi giới), bà Nguyễn Thị Hồng Mai (soạn thảo hợp đồng chuyển nhượng) thực hiện việc chuyển nhượng các nền đất của Công ty HDTC cho các khách hàng nhưng kê khai giá trị thu về cho Công ty HDTC thấp hơn giá thực tế bán, chiếm đoạt tổng số tiền chênh lệch 141,7 tỉ đồng sử dụng theo mục đích của ông Chinh.
Theo cáo trạng, dù biết rõ các nền đất đã được ký hợp đồng chuyển nhượng cho khách hàng trước thời điểm cổ phần hóa và chưa được giải quyết hợp pháp, ông Đinh Chí Minh vẫn thực hiện theo chỉ đạo của ông Đinh Trường Chinh.
Ông Minh trực tiếp thỏa thuận giá bán với môi giới và khách hàng mới. Đồng thời, ông chỉ đạo nhân viên lập hồ sơ chuyển nhượng, ký duyệt thủ tục bàn giao nền đất để hoàn tất việc chuyển nhượng cho người khác. Ngoài ra, ông Minh trực tiếp tham gia thỏa thuận giá bán thực tế, nhận, quản lý và chuyển giao tiền chênh lệch ngoài sổ sách theo chỉ đạo của ông Chinh.
Còn bà Đinh Ngọc Thiên Hương (hiện đã bỏ trốn) trực tiếp quản lý việc chuyển nhượng nhiều nền đất thuộc dự án An Phú - An Khánh giai đoạn từ năm 2016 đến tháng 9-2018.
Theo cáo trạng, bà Hương trực tiếp thỏa thuận giá chuyển nhượng thực tế với khách hàng, ký các biên bản thỏa thuận và phiếu nhận tiền. Bà cũng chỉ đạo lập hồ sơ chuyển nhượng với giá thấp hơn thực tế nhằm che giấu khoản chênh lệch ngoài sổ sách.
Ngoài ra, bà Hương còn trực tiếp nhận và quản lý nhiều khoản tiền chênh lệch từ khách hàng theo phân công của ông Đinh Trường Chinh, với tổng số tiền 82,1 tỉ đồng trong giai đoạn này.
Theo Ban Pháp chế - Liên đoàn thương mại và công nghiệp Việt Nam (VCCI), từ đầu tháng 3 đến nay, Mỹ đã khởi xướng 3 cuộc điều tra theo Mục 301 Đạo luật Thương mại 1974 liên quan đến Việt Nam. Nếu đưa ra kết luận bất lợi, phía Mỹ có thể áp dụng các biện pháp đáp trả như thuế quan hoặc các biện pháp phi thuế.
Liên quan đến vấn đề này, ông Chu Thắng Trung, Phó cục trưởng Cục Phòng vệ thương mại (Bộ Công Thương), cho biết thời gian qua, nhiều nền kinh tế tiếp tục sử dụng các công cụ điều tra phòng vệ thương mại, điều tra theo Mục 301, Mục 232 và nhiều biện pháp khác nhằm bảo vệ lợi ích kinh tế cũng như ngành sản xuất trong nước.
Theo ông, mặc dù điều tra theo Mục 301 và điều tra phòng vệ thương mại là những công cụ pháp lý khác nhau, song đều phản ánh xu hướng môi trường thương mại quốc tế ngày càng đặt ra những yêu cầu chặt chẽ hơn và tiêu chuẩn tuân thủ cao hơn đối với hàng hóa nhập khẩu.
Lãnh đạo Cục Phòng vệ thương mại đánh giá nguy cơ hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam tiếp tục phải đối mặt với các vụ điều tra phòng vệ thương mại trong thời gian tới vẫn ở mức cao. Đây là xu hướng đã diễn ra trong nhiều năm qua và nhiều khả năng sẽ tiếp tục khi quy mô xuất khẩu của Việt Nam ngày càng mở rộng.
"Nguyên nhân xuất phát từ hai yếu tố chính. Thứ nhất là sự thay đổi trong chính sách thương mại của nhiều nền kinh tế lớn. Thứ hai là tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam ở mức tích cực, kéo theo nguy cơ phát sinh các vụ việc phòng vệ thương mại", ông nói.
Phó cục trưởng Cục Phòng vệ thương mại cho rằng đây là quy luật phổ biến trong thương mại quốc tế, không chỉ đối với Việt Nam mà đối với tất cả các nền kinh tế có độ mở lớn và năng lực xuất khẩu cao.
Bên cạnh đó, xu hướng tái cơ cấu chuỗi cung ứng toàn cầu cũng khiến các thị trường nhập khẩu ngày càng quan tâm đến các yếu tố như xuất xứ hàng hóa, nguồn gốc nguyên liệu, tỷ lệ giá trị gia tăng tạo ra tại nước xuất khẩu cũng như các yêu cầu về minh bạch trong chuỗi cung ứng. Đây đều là những yếu tố có thể làm gia tăng rủi ro phát sinh các vụ điều tra trong thời gian tới.
Để hỗ trợ doanh nghiệp, Cục Phòng vệ thương mại sẽ tiếp tục nâng cao hiệu quả hệ thống cảnh báo sớm, kịp thời cung cấp thông tin để doanh nghiệp chủ động ứng phó với các vụ điều tra.
Đồng thời, cơ quan này sẽ tăng cường tập huấn, hướng dẫn doanh nghiệp nâng cao năng lực quản trị dữ liệu, chi phí, tuân thủ quy định về xuất xứ, truy xuất nguồn gốc, minh bạch chuỗi cung ứng và sử dụng nguyên liệu nhập khẩu.
Ngoài ra, ông Trung cho biết sẽ phối hợp với các hiệp hội, địa phương kiểm soát gian lận xuất xứ, chuyển tải bất hợp pháp và hành vi lợi dụng Việt Nam để né tránh biện pháp phòng vệ thương mại.
Cục sẽ tiếp tục đồng hành cùng doanh nghiệp trong toàn bộ quá trình xử lý vụ việc, từ phổ biến quy định pháp luật, hướng dẫn trả lời bản câu hỏi điều tra, chuẩn bị hồ sơ đến hỗ trợ thẩm tra và làm việc với cơ quan điều tra nước ngoài nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp Việt Nam.
Lãnh đạo Cục khuyến nghị doanh nghiệp chủ động nâng cao năng lực quản trị và tuân thủ các quy định để giảm thiểu rủi ro trước các cuộc điều tra thương mại ngày càng gia tăng.