Giữa hội trường hội thảo “Nâng chất Robusta Việt từ gốc” tại Lâm Đồng chiều 24-7, khi các chuyên gia đang nói về công nghệ, thị trường và những tiêu chuẩn quốc tế ngày càng khắt khe, một nông dân đứng lên xin phát biểu.
Ông không hỏi giá cà phê sắp tăng hay giảm. Ông nói về đất.
“Phải xem người nông dân là một doanh nghiệp. Đã kinh doanh thì phải tính đầu vào, đầu ra, ghi chép sổ sách, làm sao năm sau hiệu quả hơn năm trước” – ông nói.
Một hecta cà phê tốn bao nhiêu tiền phân bón, nước tưới, nhân công? Khoản nào giúp cây khỏe hơn, khoản nào chỉ làm chi phí phình lên? Không có sổ sách, người trồng có thể thu nhiều quả nhưng chưa chắc biết mình lời bao nhiêu.
Nhiều lần mang mẫu đất đi phân tích, người nông dân này nhận ra cây phát triển kém không phải lúc nào cũng do thiếu dinh dưỡng. Có vườn đất mất cân đối, độ pH không phù hợp, bộ rễ suy yếu nên càng bón thêm càng tốn tiền.
Ông ví đất bạc màu như người đau dạ dày, cho ăn nhiều chưa chắc đã hấp thu được. Câu chuyện từ một mảnh vườn nhỏ chạm đúng nghịch lý lớn của ngành cà phê Việt Nam. Theo Hiệp hội Cà phê – Ca cao Việt Nam, cả nước hiện có khoảng 730.000ha cà phê, trong đó Robusta chiếm tới 95%, tập trung chủ yếu tại Tây Nguyên và một số tỉnh Đông Nam Bộ.
Sản lượng hằng năm đạt khoảng 1,8-2 triệu tấn, đưa Việt Nam đứng thứ hai thế giới về sản xuất cà phê, chiếm khoảng 18% nguồn cung toàn cầu. Khoảng 1,5 triệu tấn được xuất khẩu, tương đương 43% lượng Robusta giao dịch trên thế giới.
Đằng sau những con số này là sinh kế của khoảng 600.000 hộ dân, cùng lợi thế lớn về vùng nguyên liệu tập trung và khả năng cung ứng ổn định.
Nhưng hơn 91% cà phê xuất khẩu vẫn ở dạng hạt nhân. Trong nhóm doanh nghiệp xuất khẩu cà phê rang xay, hòa tan, hơn 81% là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Việt Nam đang mạnh ở khâu trồng và bán nguyên liệu, trong khi phần giá trị lớn hơn từ chế biến sâu, xây dựng thương hiệu đến phân phối vẫn chưa nằm nhiều trong tay doanh nghiệp và nông dân trong nước.
Tại Bình Đông Farm, trang trại hơn 110ha với phần lớn diện tích trồng Robusta, câu chuyện ứng dụng công nghệ không bắt đầu bằng những phần mềm phức tạp hay màn hình dày đặc dữ liệu. Ông Nguyễn Thanh Lộc, giám đốc sản xuất Bình Đông Farm, cho biết việc đầu tiên là giữ được nước.
Trang trại xây dựng gần 25 hồ chứa, đập tràn cùng hệ thống dẫn nước để tích trữ trong mùa mưa và chủ động tưới khi nắng kéo dài. Theo ông Lộc, nguồn nước chưa được kiểm soát thì cảm biến hiện đại đến đâu cũng khó cứu được cây.
Hai năm qua, trang trại thử nghiệm thiết bị theo dõi nhiệt độ, độ ẩm, độ pH và một số chỉ số của đất. Dữ liệu được gửi về hệ thống quản lý, giúp bộ phận kỹ thuật biết khu vực nào cần tưới, nơi nào phải điều chỉnh dinh dưỡng.
Thay vì chờ đất khô mới bơm nước, thấy lá vàng mới tăng phân, người vận hành có thể can thiệp sớm và giảm dần cách chăm sóc dựa vào kinh nghiệm cảm tính.
“Giá thị trường không phải điều người nông dân quyết định được, nhưng chất lượng trong quá trình canh tác thì có thể chủ động”, ông Lộc nói.
Theo ông, chuyển một vườn cà phê truyền thống sang sản xuất chất lượng cao mất ít nhất ba năm. Cây già phải được thay dần, chồi mới được nuôi, đất được phục hồi, hệ thống nước phải được làm lại trước khi tính đến số hóa.
Công nghệ vì thế không phải chiếc đũa thần khoác lên một vườn cây cũ. Nó chỉ phát huy khi đất, nước và giống đã được xử lý từ gốc.
Ông Nguyễn Thiện Chân, chi cục phó Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh Lâm Đồng, cho rằng công nghệ phải được thiết kế phù hợp với người sử dụng, nhất là khi lao động tại nhiều vùng cà phê đang ngày càng lớn tuổi.
Không thể yêu cầu mỗi nông dân vừa làm vườn, vừa đọc dữ liệu, phân tích đất, tính lượng nước tưới và vận hành cả một hệ thống số. Thiết bị phải đủ đơn giản để họ đóng, mở nước bằng vài thao tác. Phần tính toán nên do hợp tác xã, doanh nghiệp hoặc cán bộ kỹ thuật đảm nhiệm.
Nhưng để làm được điều này, các hộ phải liên kết thành vùng nguyên liệu. Nếu mỗi nhà trồng một giống, chăm sóc một kiểu, thu hoạch vào những thời điểm khác nhau, máy móc khó dùng chung, dữ liệu khó chuẩn hóa và chất lượng lô hàng không thể ổn định.
Theo báo cáo kinh tế - xã hội tháng 5 và 5 tháng đầu năm của Cục Thống kê (Bộ Tài chính), nhiều lĩnh vực của nền kinh tế tiếp tục ghi nhận xu hướng phục hồi và tăng trưởng khả quan.
Trong đó, sản xuất công nghiệp tiếp tục đóng vai trò là điểm sáng. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) trong tháng 5 tăng 8,8% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 5 tháng, IIP tăng 9,1%, mức cao nhất trong vòng 4 năm trở lại đây.
Đáng chú ý, ngành chế biến, chế tạo tiếp tục giữ vai trò dẫn dắt với mức tăng 9,5%, đóng góp 7,4 điểm phần trăm vào tăng trưởng chung của toàn ngành. Một số ngành ghi nhận mức tăng mạnh như sản xuất kim loại tăng 20,2%; sản xuất xe có động cơ tăng 18%; sản xuất hóa chất tăng 16,9%; sản phẩm khoáng phi kim loại tăng 16,2%.
Bên cạnh đó, đầu tư tiếp tục là động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tổng vốn đầu tư thực hiện từ ngân sách Nhà nước trong 5 tháng đầu năm ước đạt 254.100 tỷ đồng, tương đương 24% kế hoạch năm và tăng 11,2% so với cùng kỳ.
Đặc biệt, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đăng ký vào Việt Nam đạt 24,81 tỷ USD, tăng mạnh 34,9% so với cùng kỳ năm trước. Vốn FDI thực hiện đạt 9,75 tỷ USD, tăng 9,6% và là mức cao nhất trong 5 năm qua. Trong đó, lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục thu hút lượng vốn ngoại lớn nhất.
Ở khu vực doanh nghiệp, số lượng doanh nghiệp thành lập mới tiếp tục tăng mạnh. Trong 5 tháng đầu năm, cả nước có hơn 94.800 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, tăng 42,1% so với cùng kỳ năm trước. Cùng với đó, gần 47.800 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, nâng tổng số doanh nghiệp gia nhập và tái gia nhập thị trường lên hơn 142.600.
Hoạt động thương mại và dịch vụ cũng phục hồi rõ nét. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng trong 5 tháng đầu năm ước đạt khoảng 3,18 triệu tỷ đồng, tăng 11,2% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu lưu trú, ăn uống tăng 13,3% và du lịch lữ hành tăng 12,2%, cho thấy nhu cầu tiêu dùng và du lịch tiếp tục cải thiện.
Thu ngân sách Nhà nước trong 5 tháng đạt gần 1,34 triệu tỷ đồng, tương đương 53% dự toán năm và tăng 15,3% so với cùng kỳ. Trong khi đó, chi ngân sách ước đạt 843.700 tỷ đồng, tăng 3,1%, tập trung cho các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và đầu tư.
Hoạt động xuất nhập khẩu tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực với tổng kim ngạch đạt 445,12 tỷ USD, tăng 25% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, xuất khẩu đạt 215,66 tỷ USD (tăng 19,5%) và nhập khẩu đạt 229,46 tỷ USD (tăng 30,8%).
Tuy nhiên, cán cân thương mại đã chuyển sang nhập siêu 13,8 tỷ USD, trái ngược với mức xuất siêu 5,1 tỷ USD của cùng kỳ năm trước. Khu vực kinh tế trong nước ghi nhận mức nhập siêu lớn, trong khi khu vực FDI tiếp tục duy trì xuất siêu.
Xét theo thị trường, Mỹ vẫn là đối tác xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 69,6 tỷ USD, trong khi Trung Quốc tiếp tục là thị trường nhập khẩu lớn nhất với kim ngạch đạt 92,6 tỷ USD.
Trong năm 2025, doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ của Petrovietnam đạt 633.157 tỉ đồng, tăng 13% so với năm trước. Lợi nhuận gộp về bán hàng và cung cấp dịch vụ tăng mạnh từ mức 54.719 tỉ đồng năm 2024 lên 70.715 tỉ đồng năm 2025 (tăng 29,2%).
Phân chia theo lĩnh vực, doanh thu từ lĩnh vực tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí là 41.028 tỉ đồng, chế biến dầu khí là 166.498 tỉ đồng, công nghiệp khí là 52.043 tỉ đồng, công nghiệp điện là 58.802 tỉ đồng, dịch vụ dầu khí chất lượng cao là 40.315 tỉ đồng.
Lĩnh vực thương mại và phân phối mang về doanh thu nhiều nhất cho tập đoàn với 433.284 tỉ đồng. Ngành dịch vụ tài chính là 21.907 tỉ đồng và các khoản doanh thu khác là 24.001 tỉ đồng.
Khoản thu nhập khác của Petrovietnam năm 2025 là 8.690 tỉ đồng, tăng gần 183% so với năm trước đó. Trong đó phần lớn đến từ thu hồi khoản nợ đã xử lý tại PVcomBank là 2.710 tỉ đồng, cùng các khoản khác cũng tại ngân hàng này là 4.861 tỉ đồng.
Trong doanh thu hoạt động tài chính, lãi từ tiền gửi và tiền cho vay của tập đoàn tăng từ 12.148 tỉ đồng lên 14.367 tỉ đồng.
Đặc biệt một số khoản tăng mạnh như lãi chênh lệch tỉ giá là 3.525 tỉ đồng, tăng 71,3%; lãi kinh doanh ngoại hối lên mức 912,9 tỉ đồng, tăng 17%; tiền cổ tức và lợi nhuận được chia cũng tăng lên 241,8 tỉ đồng, tăng 246,7%...
Đối với phần chi phí của Petrovietnam ghi nhận, chi phí quản lý doanh nghiệp tăng mạnh nhất từ 20.588 tỉ đồng lên 26.683 tỉ đồng, trong khi chi phí bán hàng chỉ từ 7.131 tỉ đồng lên 7.795 tỉ đồng và các chi phí khác tăng từ 1.778 tỉ đồng lên 1.916 tỉ đồng.
Tuy nhiên chi phí tài chính giảm từ 8.607 tỉ đồng còn 7.409 tỉ đồng nhờ giảm chi phí lãi vay từ 4.407 tỉ đồng xuống còn 4.017 tỉ đồng.
Lợi nhuận trước thuế hợp nhất đạt 66.602 tỉ đồng, tăng 29% so với năm 2024. Lợi nhuận sau thuế của tập đoàn này ghi nhận ở mức gần 52.379 tỉ đồng, tăng 38,9% so với năm trước.
Theo báo cáo hợp nhất, vốn chủ sở hữu của Petrovietnam ghi nhận trong năm tài chính là 593.946 tỉ đồng. Tổng tài sản hợp nhất của tập đoàn này là 1,178 triệu tỉ đồng, tăng 98.151 tỉ đồng so với đầu năm và quy mô tài sản ở mức trên 1 triệu tỉ đồng.
Petrovietnam cũng nắm giữ lượng tiền mặt với gần 899 tỉ đồng, tiền gửi ngân hàng không kỳ hạn là 51.329 tỉ đồng, giảm so với hồi đầu năm 2025 là 58.869 tỉ đồng.
Các khoản tương đương tiền là 35.767 tỉ đồng, nâng tổng số tiền và khoản tương đương tiền mà tập đoàn nắm giữ là 88.017 tỉ đồng, giảm so với số đầu năm là 136.381 tỉ đồng.
Khoản tiền gửi có kỳ hạn của tập đoàn lên tới 288.335 tỉ đồng, tăng 6,4%. Như vậy, tập đoàn này đang nắm giữ khoản tiền gửi rất lớn gồm cả có kỳ hạn và không kỳ hạn lên tới 339.664 tỉ đồng - bằng tới hơn nửa doanh thu của tập đoàn.
Nợ phải trả của Petrovietnam lên tới 584.184 tỉ đồng, gần bằng vốn chủ sở hữu của tập đoàn. Trong số này, nợ ngắn hạn là 333.016 tỉ đồng và nợ dài hạn là 251.167 tỉ đồng, với mức tăng chung của khoản nợ phải trả là 11,6% so với năm trước.
Mặc dù nhiều doanh nghiệp trực thuộc Petrovietnam kinh doanh có lãi như Tổng Công ty Khí Việt Nam (PVGas), Vietsovpetro, Lọc hóa dầu Bình Sơn, các công ty Đạm Cà Mau, Đạm Phú Mỹ. Tuy nhiên, một số đơn vị vốn có nhiều tồn tại trong hoạt động kinh doanh vẫn chưa thực sự được khắc phục và tiềm tàng nợ xấu.
Trong đó các khoản nợ xấu của tập đoàn ghi nhận tại báo cáo hợp nhất chủ yếu nằm ở các đơn vị thành viên. Đơn cử như PVGas là 3.442 tỉ đồng, Công ty Cổ phần xây lắp dầu khí là 1.266 tỉ đồng, Tổng công ty Dầu Việt Nam là 893 tỉ đồng; Công ty Điện lực Dầu khí là 747,5 tỉ đồng...
Đáng chú ý một số đơn vị vẫn ghi nhận khoản nợ và lỗ lớn như Công ty Cổ phần Hóa dầu và Xơ sợi Việt Nam (VNPoly) có nợ phải trả ngắn hạn là 3.673 tỉ đồng, lỗ lũy kế là 7.837 tỉ đồng, vượt vốn góp chủ sở hữu.
Công ty Cổ phần Xây lắp dầu khí (PetroCons) lỗ lũy kế là 4.035 tỉ đồng, nợ phải trả ngắn hạn là 1.486 tỉ đồng. Hay với PVcomBank đang thực hiện xử lý tài chính và áp dụng các chính sách đặc thù theo phương án cơ cấu lại gắn xử lý nợ xấu...
Trong cuộc phỏng vấn ngày 10/5 với NBC News, Bộ trưởng Năng lượng Mỹ Chris Wright nhận được câu hỏi liệu ông có ủng hộ tạm ngừng thu thuế xăng liên bang hay không. Wright trả lời: "Chính phủ ủng hộ mọi biện pháp có thể hạ giá xăng bán lẻ và giảm chi phí cho người Mỹ".
Khi được hỏi liệu Tổng thống Mỹ Donald Trump có ủng hộ không, Wright cho biết: "Chúng tôi cởi mở với mọi ý tưởng. Tất nhiên mọi giải pháp đều phải chấp nhận đánh đổi".
Thuế xăng liên bang của Mỹ hiện ở mức 18 cent một gallon (0,05 USD một lít). Hồi tháng 3, các nghị sĩ Dân chủ tại Quốc hội Mỹ đã đề xuất tạm ngừng thu thuế này đến tháng 10.
Giá xăng tại Mỹ đã tăng hơn 50% kể từ đầu chiến sự, chạm mốc trung bình 4,52 USD một gallon (1,19 USD một lít) hôm 10/5, theo số liệu của Hiệp hội Ôtô Mỹ (AAA).
Wright từ chối dự báo liệu giá xăng trung bình nước này có thể lên 5 USD một gallon (1,32 USD mỗi lít) hay không. "Tôi không thể dự báo giá năng lượng trong ngắn hạn hay trung hạn", ông nói, nhưng nhấn mạnh "Mỹ hiện ở vị thế rất thuận lợi", với sản lượng dầu và khí tự nhiên lớn.
Hồi tháng 3, Wright từng dự báo giá xăng "nhiều khả năng" xuống dưới 3 USD một gallon vào hè này. Tuy nhiên, sau 8 tuần, giá xăng vẫn tiếp tục tăng và chưa có dấu hiệu sớm quay về mức trước chiến sự, trong bối cảnh Iran tiếp tục phong tỏa eo biển Hormuz.
Các chuyên gia cho rằng dù việc Mỹ phong tỏa các cảng của Iran có thể làm giảm nguồn thu dầu mỏ của nước này, Tehran nhiều khả năng vẫn chịu đựng được áp lực này trong nhiều tháng.
Việc Mỹ sắp bước vào mùa hè - cao điểm sử dụng nhiên liệu, được đánh giá là một rào cản lớn với Tổng thống Trump và đảng Cộng hòa trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ tháng 11. Khi chiến sự chưa có dấu hiệu hạ nhiệt, giới phân tích cho rằng giá nhiên liệu tại Mỹ có thể tiếp tục vượt các kỷ lục cũ.