Trong cuộc phỏng vấn ngày 10/5 với NBC News, Bộ trưởng Năng lượng Mỹ Chris Wright nhận được câu hỏi liệu ông có ủng hộ tạm ngừng thu thuế xăng liên bang hay không. Wright trả lời: “Chính phủ ủng hộ mọi biện pháp có thể hạ giá xăng bán lẻ và giảm chi phí cho người Mỹ”.
Khi được hỏi liệu Tổng thống Mỹ Donald Trump có ủng hộ không, Wright cho biết: “Chúng tôi cởi mở với mọi ý tưởng. Tất nhiên mọi giải pháp đều phải chấp nhận đánh đổi”.
Thuế xăng liên bang của Mỹ hiện ở mức 18 cent một gallon (0,05 USD một lít). Hồi tháng 3, các nghị sĩ Dân chủ tại Quốc hội Mỹ đã đề xuất tạm ngừng thu thuế này đến tháng 10.
Giá xăng tại Mỹ đã tăng hơn 50% kể từ đầu chiến sự, chạm mốc trung bình 4,52 USD một gallon (1,19 USD một lít) hôm 10/5, theo số liệu của Hiệp hội Ôtô Mỹ (AAA).
Wright từ chối dự báo liệu giá xăng trung bình nước này có thể lên 5 USD một gallon (1,32 USD mỗi lít) hay không. “Tôi không thể dự báo giá năng lượng trong ngắn hạn hay trung hạn”, ông nói, nhưng nhấn mạnh “Mỹ hiện ở vị thế rất thuận lợi”, với sản lượng dầu và khí tự nhiên lớn.
Hồi tháng 3, Wright từng dự báo giá xăng “nhiều khả năng” xuống dưới 3 USD một gallon vào hè này. Tuy nhiên, sau 8 tuần, giá xăng vẫn tiếp tục tăng và chưa có dấu hiệu sớm quay về mức trước chiến sự, trong bối cảnh Iran tiếp tục phong tỏa eo biển Hormuz.
Các chuyên gia cho rằng dù việc Mỹ phong tỏa các cảng của Iran có thể làm giảm nguồn thu dầu mỏ của nước này, Tehran nhiều khả năng vẫn chịu đựng được áp lực này trong nhiều tháng.
Việc Mỹ sắp bước vào mùa hè – cao điểm sử dụng nhiên liệu, được đánh giá là một rào cản lớn với Tổng thống Trump và đảng Cộng hòa trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ tháng 11. Khi chiến sự chưa có dấu hiệu hạ nhiệt, giới phân tích cho rằng giá nhiên liệu tại Mỹ có thể tiếp tục vượt các kỷ lục cũ.
Tin Gốc: Vnexpress

Ghi nhận của VnExpress ở một số chi nhánh của 4 chuỗi đồ uống nổi tiếng tại TP HCM cho thấy nhiều quán thường xuyên phát nhạc để phục vụ khách hàng. Những bài hát này đều nằm trong nhóm dẫn đầu xu hướng thưởng thức của khán giả đại chúng, nhất là người trẻ. Nhân viên tại các cửa hàng này cho biết họ mở playlist thịnh hành trên các ứng dụng nghe nhạc hoặc mở từ "kho", ứng dụng vận hành trên toàn chuỗi.
Đại diện một chuỗi đồ uống nói các nền tảng trực tuyến là nguồn phát nhạc chính cho toàn chuỗi có hơn chục cửa hàng này. Công ty sẽ không quy định playlist cụ thể mà trao quyền tự chủ cho từng chi nhánh, nhưng sẽ lưu ý cần đáp ứng một số tiêu chí như ưu tiên playlist thịnh hành, bài hát đang là xu hướng trên mạng xã hội hoặc phù hợp với "gu" của tệp khách hàng tại từng chi nhánh.
"Quy trình trên đã trở thành điều phổ biến trong ngành dịch vụ đồ uống", người này cho hay.
Chủ một quán trà sữa tại phường Tân Hưng (TP HCM) cũng cho biết mở playlist thịnh hành từ các nền tảng là một trong những công việc được chị làm tự động mỗi ngày. Chị nói đã "ý thức" được vấn đề bản quyền nên bỏ 65.000 đồng mỗi tháng để mua gói nghe nhạc (subscription). Theo chủ quán, việc đóng phí cho nền tảng đồng nghĩa với việc chị có thể sử dụng không giới hạn.
Không chỉ hai trường hợp trên, hiện nay hầu hết nhà hàng, quán cà phê đều diễn ra tình trạng này.
Tuy nhiên, thực tế nhiều nền tảng phát nhạc trực tuyến như Spotify, Apple Music hay YouTube Music hiện nay đều quy định rõ trong điều khoản và điều kiện rằng giới hạn dịch vụ cho mục đích cá nhân, phi thương mại. Tài khoản mà người dùng trả phí hằng tháng chỉ cho phép nghe riêng tư, không quảng cáo, tải về nghe ngoại tuyến hoặc dùng thêm các tính năng nâng cao. Các nền tảng đều nêu rõ người dùng không có quyền mở nhạc tại quán cà phê, nhà hàng, cửa hàng, phòng gym, trường học hoặc tại các sự kiện có yếu tố kinh doanh.
Chia sẻ với VnExpress, ông Đỗ Duy Thanh, Giám đốc Công ty Tư vấn FnB Director và Sáng lập Horeca Business School, nói trong ngành dịch vụ ăn uống, âm nhạc không chỉ "mở cho có không khí", mà còn là một thành phần của trải nghiệm dịch vụ. Khách đến nhà hàng, quán cà phê, quán bar hay lounge không chỉ để mua món ăn và đồ uống, họ mua trạng thái cảm xúc được tạo nên từ không gian, ánh sáng, mùi hương, cách phục vụ, món ăn và cả âm thanh. Âm nhạc vì vậy tác động rất sớm đến cảm nhận của khách hàng.
Thế nhưng, theo ông Thanh, mức độ tuân thủ bản quyền âm nhạc trong ngành dịch vụ ăn uống hiện nay không đồng đều. Nhóm khách sạn lớn, chuỗi nhà hàng, trung tâm thương mại, thương hiệu quốc tế hoặc mô hình có vốn đầu tư bài bản thường quan tâm đến vấn đề này sớm hơn. Họ có bộ phận pháp lý, vận hành và quy trình kiểm soát rủi ro rõ ràng hơn. Trong khi đó, nhiều quán độc lập, quán cà phê nhỏ, nhà hàng gia đình hoặc mô hình mới khởi nghiệp vẫn chưa xem bản quyền âm nhạc là một hạng mục tuân thủ cần được quản lý nghiêm túc.
Nguyên nhân đầu tiên được ông Thanh nêu ra là thói quen của thị trường. Trong nhiều năm, âm nhạc trong quán ăn, quán cà phê thường được xem là thứ có sẵn, dễ mở và gần như miễn phí. Chủ quán có thể mở nhạc từ điện thoại, máy tính, tivi, nền tảng nghe nhạc hoặc video trực tuyến mà không nghĩ đó là hành vi sử dụng âm nhạc trong môi trường kinh doanh.
Nguyên nhân thứ hai là nhiều người hiểu sai về từ "miễn phí". Những bản nhạc ghi "free", "no copyright", "royalty-free" hay "không bản quyền" không đồng nghĩa với việc nhà hàng được quyền phát miễn phí trong không gian kinh doanh. Nhiều người không phân biệt rõ giữa miễn phí nghe, tải, dùng cho cá nhân và quyền phát nhạc tại một địa điểm thương mại.
Ở góc nhìn của người hành nghề pháp lý, Luật sư Đào Tiến Phong, Giám đốc Công ty luật Investpush Legal, lý giải việc hiểu lầm rằng đã mua gói nghe nhạc từ các nền tảng sẽ được toàn quyền sử dụng xuất phát từ việc đánh đồng giữa quyền sử dụng cá nhân và quyền khai thác thương mại. Nhiều người mua không hiểu hết các quy định của Luật Sở hữu trí tuệ. Bên bán và cả bên mua cũng không truyền tải các quy định này cho nhau. Theo luật, khi mua gói nghe nhạc, người dùng thực chất chỉ đang trả tiền để được cấp quyền tiếp cận và sử dụng bản sao tác phẩm phục vụ nhu cầu cá nhân, không nhằm mục đích thương mại.
Các chủ quán cũng cần phân biệt được không gian riêng tư và không gian công cộng. Quán cà phê là một cơ sở kinh doanh thương mại và là địa điểm mà công chúng có thể tiếp cận. Do đó, hành vi phát nhạc tại đây không còn là nhu cầu giải trí cá nhân mà đã trở thành một công cụ hỗ trợ hoạt động kinh doanh. Khi bản chất mục đích sử dụng thay đổi, giới hạn quyền của người mua cũng thay đổi, từ đó phát sinh nghĩa vụ trả tiền bản quyền.
Căn cứ theo các quy định của Luật Sở hữu trí tuệ, luật sư chỉ ra quán cà phê bị ràng buộc bởi các quy định về quyền tài sản thuộc quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc và quyền liên quan với bản ghi âm, ghi hình.
Với quyền tác giả, việc phát nhạc tại quán cà phê là hành vi "biểu diễn tác phẩm trước công chúng gián tiếp". Đây là quyền tài sản độc quyền của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả. Do đó, khi khai thác và sử dụng quyền này, quán cà phê phải được sự cho phép và trả tiền bản quyền, cùng các quyền lợi vật chất khác (nếu có). Luật sư lưu ý thêm đa số các nền tảng phát nhạc không được cấp quyền đại diện thu tiền bản quyền tác phẩm.
Với các quyền liên quan, việc mở nhạc tại quán cà phê được xếp vào trường hợp sử dụng bản ghi âm, ghi hình đã công bố nhằm mục đích thương mại trong hoạt động kinh doanh. Theo quy định tại Luật Sở hữu trí tuệ, quán cà phê không bắt buộc phải xin phép nhưng phải trả tiền bản quyền theo thỏa thuận cho người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình và tổ chức phát sóng kể từ khi sử dụng.
Do đó, để tránh vi phạm bản quyền âm nhạc, Luật sư Đào Tiến Phong khuyến nghị khi có nhu cầu sử dụng âm nhạc, các cơ sở F&B cần liên hệ với các tổ chức như Trung tâm Bảo vệ Quyền tác giả Âm nhạc Việt Nam (VCPMC) hoặc Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Việt Nam (RIAV) để hỏi xem họ có được ủy quyền để cấp quyền sử dụng hay không, từ đó ký kết hợp đồng và đóng phí để sử dụng. Nếu họ không được ủy quyền, chủ quán phải liên hệ với chủ sở hữu bài hát.
Theo quy định của Nghị định 17/2023, số tiền bản quyền chi trả (tính theo năm) = Mức lương cơ sở x Hệ số điều chỉnh. Với quán cà phê hoặc giải khát, hệ số điều chỉnh được tính theo diện tích.
Các địa điểm có diện tích từ 15 m2 trở xuống, hệ số điều chỉnh là 0,35. Nếu diện tích từ trên 15 m2 đến 50 m2, hệ số điều chỉnh cho mỗi m2 tăng thêm là 0,04. Còn với cơ sở có diện tích trên 50 m2, hệ số điều chỉnh cho mỗi m2 tăng thêm là 0,02. Bảng dưới đây minh họa số tiền bản quyền âm nhạc tối đa cho các quán cà phê chia theo diện tích:
Diện tích
Hệ số điều chỉnh
Tiền bản quyền mỗi năm (đồng)
15 m2
30 m2
50 m2
60 m2
100 m2
Không ít doanh nghiệp F&B cho rằng khi phải tuân thủ phí bản quyền sẽ tạo ra gánh nặng chi phí mới. Chủ tiệm trà sữa tại phường Tân Hưng (TP HCM) cho biết với diện tích hơn 30 m2, nếu đúng quy định, chị phải đóng gần 3 triệu đồng mỗi năm. Trong khi đó, lợi nhuận quán tạo ra chỉ "dăm ba triệu".
"Các hàng quán mở nhạc cũng là một cách hỗ trợ PR miễn phí cho bài hát và ca sĩ cũng được hưởng lợi. Do đó, bắt chúng tôi gánh thêm khoản phí bản quyền thì không công bằng lắm", chị nói thêm.
Khảo sát của iPOS trên 3.000 doanh nghiệp ngành F&B, chủ yếu ở Hà Nội và TP HCM, cho thấy hơn 57% cho rằng áp lực từ các chính sách tuân thủ pháp lý là một trong những rào cản ảnh hưởng đến biên lợi nhuận trong năm trước. Phần lớn hộ kinh doanh F&B không chỉ đối mặt với chi phí hành chính mà còn với chi phí phát sinh từ quá trình chuẩn hóa vận hành. Điều này thường bao gồm việc triển khai hóa đơn điện tử khởi tạo từ máy tính tiền, hoàn thiện chứng từ và kê khai thuế, đầu tư phần mềm bán hàng - kế toán. Xét riêng từng đầu việc, mỗi khoản có thể không quá lớn, nhưng khi cộng dồn lại, chúng làm tăng chi phí cố định và thời gian quản trị.
Ông Đỗ Duy Thanh nhìn nhận bản quyền âm nhạc có thể trở thành gánh nặng nếu doanh nghiệp tiếp cận theo cách bị động. Ngược lại, nếu được quản lý đúng, đây không phải là nguyên nhân chính bào mòn lợi nhuận.
Ông phân tích, doanh nghiệp hiện phải gánh nhiều khoản, từ tiền thuê mặt bằng, nguyên liệu, nhân sự, điện nước, khấu hao, truyền thông, chiết khấu nền tảng, thuế, phí ngân hàng, phần mềm, sửa chữa, hao hụt và nhiều chi phí nhỏ khác. Trong bức tranh đó, bản quyền âm nhạc không phải lúc nào cũng là khoản lớn nhất, nhưng là một khoản chi phí tuân thủ khiến chủ quán cảm thấy áp lực hơn, vì trước đây nhiều người chưa đưa vào cấu trúc giá thành.
Vấn đề lớn hơn không nằm ở bản quyền âm nhạc riêng lẻ, mà ở hiện tượng cộng dồn chi phí tuân thủ. Thuế rõ ràng hơn, hóa đơn chặt chẽ hơn, lao động phải chuẩn hơn, an toàn thực phẩm nghiêm ngặt hơn, phòng cháy chữa cháy đầy đủ hơn, nhãn hiệu phải được bảo vệ tốt hơn, giờ thêm bản quyền âm nhạc. Khi tất cả cùng đi vào chi phí vận hành, doanh nghiệp buộc phải tính lại mô hình lợi nhuận.
Ông Thanh cho rằng bản quyền âm nhạc không nên được nhìn như "kẻ bào mòn lợi nhuận". Điều gây tổn hao lợi nhuận lớn nhất vẫn là tư duy kinh doanh thiếu hệ thống: thiết kế mô hình sai, định giá chưa bao gồm đầy đủ chi phí, kiểm soát giá vốn kém, năng suất lao động thấp, chi phí cố định cao và quản lý vận hành thiếu kỷ luật.
Cách tiếp cận đúng theo ông này là đưa bản quyền âm nhạc vào ngân sách vận hành ngay từ đầu. Với mô hình nhạc nền, đó là một chi phí tuân thủ định kỳ. Với mô hình ẩm thực giải trí, đó là một phần của giá vốn chương trình hoặc chi phí sản phẩm trải nghiệm. Khi chi phí đã được nhận diện đúng, doanh nghiệp có thể điều chỉnh giá vé, phụ thu âm nhạc, giá đồ uống, gói đặt bàn hoặc chính sách sự kiện.
Các chuyên gia nhìn nhận năm 2026 đánh dấu giai đoạn ngành dịch vụ ăn uống bước vào môi trường tuân thủ cao hơn và đây là điều không thể tránh khỏi. "Một thị trường càng trưởng thành, chi phí tuân thủ càng rõ ràng. Doanh nghiệp không nên chỉ than phiền, mà cần đặt câu hỏi: Mô hình kinh doanh đã đủ khỏe để hấp thụ chi phí tuân thủ hay chưa?", ông nêu quan điểm.
Tin Gốc: Vnexpress

Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang lấy ý kiến dự thảo quy định về xác định dự án xanh, tuần hoàn và tiêu chuẩn môi trường, xã hội, quản trị (ESG).
Cơ quan soạn thảo đề xuất kết quả đánh giá ESG là một trong những cơ sở để xác định dự án đủ điều kiện được hỗ trợ lãi suất.
Thay vì phụ thuộc vào quy trình thẩm định từ bên ngoài, doanh nghiệp có thể chủ động xây dựng hệ thống quản trị, báo cáo và đối chiếu với bộ tiêu chí để xác định mức độ đáp ứng tiêu chuẩn ESG, và đây là căn cứ để họ vay vốn xanh.
Cơ chế này cũng tạo cơ hội cho các hộ, cá nhân kinh doanh nếu đáp ứng các tiêu chí về môi trường, xã hội và quản trị, có thể sử dụng kết quả để đề xuất hỗ trợ lãi suất khi vay vốn tại các tổ chức tín dụng, quỹ tài chính ngoài ngân sách.
Theo dự thảo, các lĩnh vực có khả năng tiếp cận dòng vốn xanh gồm năng lượng tái tạo (điện gió, điện mặt trời), xe điện và hạ tầng sạc, nông nghiệp bền vững theo các tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP...
Hỗ trợ lãi suất là nguồn lực từ ngân sách nhà nước, nên cơ chế kiểm soát cũng được đặt ra chặt chẽ. Dự thảo quy định rõ trách nhiệm duy trì tiêu chí của chủ đầu tư trong suốt thời gian hưởng hỗ trợ. Trường hợp dự án không còn đáp ứng các tiêu chí xanh, tuần hoàn hoặc không áp dụng đầy đủ khung tiêu chuẩn ESG, doanh nghiệp phải chủ động thông báo cho ngân hàng, cơ quan chức năng để dừng hỗ trợ hoặc thu hồi xác nhận.
Ngoài ra, trong 30 ngày kể từ khi được hỗ trợ lãi suất, doanh nghiệp có trách nhiệm thông báo tới cơ quan chuyên môn của UBND cấp tỉnh để cập nhật vào cơ sở dữ liệu theo dõi, đánh giá hiệu quả chính sách. Để tiếp cận vốn xanh, họ cũng phải xây dựng hệ thống báo cáo định kỳ, công khai và đáp ứng số lượng tiêu chí ESG, tùy quy mô.
Theo các chuyên gia, việc chuẩn hóa tiêu chí ESG và gắn với ưu đãi tín dụng là xu hướng tất yếu khi Việt Nam thúc đẩy chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng bền vững. Tuy nhiên, để chính sách phát huy hiệu quả, cần bảo đảm cân bằng giữa việc tạo thuận lợi cho doanh nghiệp và kiểm soát rủi ro thực thi.
Gia Chính
Nguồn: https://vnexpress.net/doanh-nghiep-co-the-tu-danh-gia-esg-de-vay-von-xanh-5057812.html

Mùa trái cây nhiệt đới trong nước đang vào cao điểm thu hoạch nhưng tại các chợ, siêu thị và cửa hàng trái cây, hàng nhập khẩu vẫn xuất hiện dày đặc với chủng loại ngày càng đa dạng.
Chị Loan, ở phường Gia Định, cho biết những năm trước muốn mua nho Mỹ chỉ có vài lựa chọn phổ biến, còn nay có đủ nho xanh, nho đỏ, nho đen với nhiều mức giá khác nhau. Giá bán cũng thấp hơn trước, dao động 130.000-250.000 đồng một kg, giảm 10-15% so với cùng kỳ năm ngoái.
Không chỉ nho, các loại táo, cam nhập khẩu từ Mỹ, Trung Quốc, Australia hay New Zealand cũng xuất hiện ngày càng nhiều tại các chợ, siêu thị và cửa hàng trái cây.
Tại chợ Phạm Văn Hai, phường Tân Sơn Hòa, bà Hồng, chủ một sạp trái cây, cho biết hàng nhập khẩu hiện chiếm khoảng một nửa lượng hàng bày bán. Theo bà, nhu cầu với trái cây ngoại tăng đều trong những năm gần đây, đặc biệt vào các dịp lễ, Tết hoặc mùa quà tặng.
"Phần lớn khách làm giỏ quà biếu đều chọn hàng nhập khẩu vì mẫu mã đồng đều, màu sắc bắt mắt và bảo quản được lâu hơn", bà nói. Nhờ nguồn cung dồi dào và chủng loại đa dạng hơn trước, trái cây ngoại hiện không chỉ xuất hiện ở các cửa hàng chuyên doanh mà còn phủ rộng tại siêu thị, cửa hàng tiện lợi và các sàn thương mại điện tử.
Không chỉ ở chợ truyền thống, trái cây nhập khẩu còn phủ rộng tại siêu thị, cửa hàng tiện lợi và các sàn thương mại điện tử, giúp người tiêu dùng dễ dàng tiếp cận hơn trước.
Sức tiêu thụ tăng cùng nguồn cung dồi dào đã đẩy kim ngạch nhập khẩu rau quả tăng mạnh. Theo số liệu Hải quan, 5 tháng đầu năm, Việt Nam chi 1,3 tỷ USD nhập khẩu rau quả, tăng 31% so với cùng kỳ năm ngoái. Tốc độ này cao hơn đáng kể mức tăng 20% của xuất khẩu rau quả.
Trong 10 thị trường cung ứng lớn nhất, hầu hết đều ghi nhận tăng trưởng mạnh. Trung Quốc tiếp tục dẫn đầu với kim ngạch hơn nửa tỷ USD, tăng 49% so với cùng kỳ. Mỹ đứng thứ hai với 325 triệu USD, tăng 32%. Các thị trường như Campuchia, Australia, Thái Lan, New Zealand và Ấn Độ cũng tăng 26-70%. Chỉ Chile và Hàn Quốc ghi nhận mức giảm.
Theo ông Đặng Phúc Nguyên, Tổng thư ký Hiệp hội Rau quả Việt Nam, xu hướng này phản ánh mức độ hội nhập ngày càng sâu của Việt Nam với thị trường toàn cầu. Khi nhiều hiệp định thương mại tự do được thực thi, hoạt động xuất nhập khẩu diễn ra theo hướng hai chiều nhằm tận dụng lợi thế thương mại của mỗi bên.
"Nhiều FTA được ký kết thì hàng nhập khẩu cũng tăng lên. Đây là nguyên tắc cùng có lợi giữa các bên tham gia", ông nói.
Theo tính toán của hiệp hội, nhập khẩu rau quả 6 tháng đầu năm ước đạt gần 1,6 tỷ USD, tăng gần 30% so với cùng kỳ năm ngoái. Nếu duy trì đà tăng trưởng hiện nay, nhập khẩu rau quả cả năm có thể đạt gần 4 tỷ USD, mức cao nhất từ trước tới nay.
Theo các doanh nghiệp nhập khẩu, một trong những nguyên nhân khiến trái cây ngoại ngày càng phổ biến là thuế nhập khẩu giảm mạnh. Việc thực thi các hiệp định thương mại tự do như EVFTA, CPTPP hay ACFTA đã kéo thuế nhiều mặt hàng về mức thấp, thậm chí 0%.
Từ năm 2025, thuế nhập khẩu cherry Mỹ giảm từ 10% xuống 5%, táo Mỹ từ 8% xuống 5%. Trong khi đó, phần lớn trái cây Trung Quốc được hưởng thuế nhập khẩu 0% nếu đáp ứng quy tắc xuất xứ theo Hiệp định Thương mại tự do ASEAN - Trung Quốc.
Bên cạnh yếu tố thuế, hệ thống logistics lạnh ngày càng hoàn thiện và sự cạnh tranh giữa các nhà nhập khẩu cũng giúp giảm chi phí phân phối. Nhờ đó, nhiều loại trái cây từng thuộc phân khúc cao cấp nay trở nên phổ biến hơn, xuất hiện rộng rãi từ siêu thị đến các sàn thương mại điện tử.
Tuy nhiên, sự gia tăng nhanh của trái cây nhập khẩu cũng tạo áp lực cạnh tranh đáng kể lên sản phẩm trong nước, đặc biệt ở phân khúc trung cấp. Nhiều loại trái cây nội địa gặp khó trong cạnh tranh về mẫu mã, khả năng bảo quản và tính ổn định của nguồn cung.
Theo ông Nguyên, trái cây các tỉnh phía Nam năm nay được mùa, nguồn cung dồi dào trong khi lượng hàng nhập khẩu tiếp tục tăng, khiến giá nhiều mặt hàng trên thị trường giảm mạnh so với các năm trước.
Tin Gốc: Vnexpress

