Các tin tặc vừa thực hiện chiến dịch lừa đảo tinh vi bằng cách lợi dụng tính năng Claude Artifacts để phát tán mã độc. Đã có ít nhất 29 tổ chức bị nhiễm trojan điều khiển từ xa (SectopRAT) do nhầm tưởng đây là trang tải ứng dụng chính thức. Tính năng này vốn cho phép AI tạo tài liệu tương tác hoặc đoạn mã để chia sẻ công khai qua các đường link trực tuyến.
Mặc dù Anthropic đã gắn cảnh báo miễn trừ trách nhiệm trên các Artifact, kẻ tấn công vẫn tạo ra một trang giả mạo giao diện tải Claude Desktop. Nạn nhân truy cập sẽ bị chuyển hướng sang tên miền độc hại và vô tình tải về SectopRAT. Đây là loại mã độc nguy hiểm có khả năng đánh cắp thông tin cá nhân, tài khoản ngân hàng, mật khẩu và dữ liệu nội bộ.
Đáng chú ý, trang Artifact độc hại này được đẩy lên vị trí đầu tiên trên kết quả tìm kiếm Bing thông qua quảng cáo. Việc liên kết dẫn về chính tên miền hợp pháp claude.ai đã khiến người dùng hoàn toàn mất cảnh giác và không thể phân biệt. Điều này vượt qua các khuyến cáo an ninh mạng thông thường vốn chỉ bảo người dùng kiểm tra tên miền trước khi nhấp chuột.
Các nghiên cứu viên an ninh mạng tại Huntress đã phát hiện bất thường khi hệ thống SOC liên tục phát cảnh báo từ ngày 21 đến 22.7. Hàng loạt hành vi cài đặt tệp ClaudeDesktop.exe lạ, can thiệp Windows Defender và duy trì ẩn nấp trái phép đã diễn ra tại 29 tổ chức. Sự việc cho thấy mức độ xâm nhập nguy hiểm và có tính tổ chức cao của chiến dịch này.
Hiện Anthropic đã gỡ bỏ Artifact độc hại khỏi hệ thống nhưng trang này đã kịp ghi nhận hơn 7.000 lượt truy cập. Chuyên gia nhận định số lượng nạn nhân thực tế có thể còn cao hơn do nhiều tổ chức nằm ngoài phạm vi theo dõi. Đây là lời cảnh tỉnh lớn về nguy cơ tiềm ẩn từ các nền tảng AI công cộng hiện nay.
Tin Gốc: Thanh Niên
Khoa Học Công Nghệ
'Điểm nghẽn' dữ liệu và hạ tầng trong chuyển đổi số tại Việt Nam

Đánh giá được đưa ra tại Diễn đàn cấp cao Chuyển đổi số Việt Nam - châu Á 2026, do Hiệp hội Phần mềm và dịch vụ công nghệ thông tin (Vinasa) tổ chức sáng 28/5 tại Hà Nội.
Trong bài phát biểu của ông Nguyễn Duy Ngọc, Phó trưởng ban thường trực Ban chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, do Tổ giúp việc gửi đến sự kiện, đặc biệt nhấn mạnh vai trò của chuyển đổi số và dữ liệu. Tuy nhiên bài viết cũng chỉ ra những khó khăn trên hành trình đi tới mục tiêu tăng trưởng hai con số đang gặp những lực cản, điểm nghẽn nội tại nằm ở chất lượng dữ liệu và hạ tầng nền tảng. Việc tạo lập dữ liệu số bảo đảm tính "đúng, đủ, sạch, sống" trên quy mô quốc gia và tại các tổ chức, doanh nghiệp còn rất hạn chế. Phần lớn các cơ sở dữ liệu vẫn đang trong quá trình xây dựng, hoàn thiện. Dữ liệu còn phân tán, rời rạc, cát cứ, thiếu kết nối và chia sẻ một cách đồng bộ, liên thông giữa các cấp, các ngành, các địa phương.
"Chưa thể biến dữ liệu thành dòng chảy giá trị kinh tế bởi cơ chế liên thông còn nghẽn, các nền tảng số phát triển còn manh mún, chưa đồng bộ. Đặc biệt một số nền tảng cốt lõi chưa thực sự thân thiện, dễ tiếp cận cho đại đa số người dân và doanh nghiệp", bài viết đề cập. Thêm nữa, một số vấn đề còn tồn tại như sự chưa đồng bộ về thể chế cho các mô hình kinh doanh mới; hạ tầng số và hạ tầng năng lượng còn chưa đủ sẵn sàng cho làn sóng trí tuệ nhân tạo diện rộng. Nhân lực công nghệ lõi như chip bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, an ninh mạng còn thiếu hụt.
Chuyển nhận thức sang hành động thực chất
Gọi năm 2026 là cột mốc trong chuyển từ nhận thức sang hành động thực chất, Phó trưởng ban thường trực Ban chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số cho rằng việc kiến tạo động lực mới cho tăng trưởng hai con số đòi hỏi phải có những tư duy đột phá, hành động quyết liệt và không đi theo những lối mòn cũ.
Trong gợi mở cho diễn đàn, ông nhắc đến việc tập trung vào các định hướng chiến lược gồm: đột phá thể chế cho đổi mới sáng tạo; chuyển đổi số gắn với tái cấu trúc hệ thống; xây dựng hạ tầng số và liên thông dữ liệu; làm chủ công nghệ lõi, hướng tới tự chủ số; và phát triển nguồn nhân lực công nghệ số mang tầm nhìn toàn cầu.
Trong đó, ông Ngọc nhấn mạnh cần sớm cụ thể hóa tinh thần Nghị quyết 57, xây dựng các hành lang pháp lý minh bạch, thông thoáng và an toàn, các cơ chế thử nghiệm vượt trội cho AI, dữ liệu lớn, bán dẫn, tài sản số và chuyển tư duy quản lý sang kiến tạo để doanh nghiệp công nghệ tham gia giải các bài toán lớn của quốc gia.
Ông đề nghị các bộ ngành, địa phương tập trung xây dựng dữ liệu sạch, chuẩn hóa theo nguyên tắc "đúng, đủ, sạch, sống", đồng thời thúc đẩy kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa khu vực công và tư. Việt Nam cần chuyển từ "ứng dụng công nghệ" sang "làm chủ công nghệ lõi" và tự chủ số, tham gia nghiên cứu các công nghệ chiến lược như AI, chip bán dẫn, IoT, 5G và tương lai là 6G, đồng thời thúc đẩy tự động hóa quy mô lớn gắn với phát triển năng lượng xanh bền vững.
Tại sự kiện, Thứ trưởng Khoa học và Công nghệ Bùi Hoàng Phương cũng nhấn mạnh năm 2026 là năm có ý nghĩa bản lề đối với Việt Nam, trong đó, cần tập trung vào động lực tăng trưởng mới là đổi mới sáng tạo dựa trên khoa học, công nghệ và chuyển đổi số.
Từ thực tế của Bộ Khoa học và Công nghệ khi làm việc với các bộ, ngành, địa phương, ông Phương nhấn mạnh việc triển khai chuyển đổi số "không phải chỉ cần mua thiết bị công nghệ, phần mềm, AI, đầu tư các cơ sở dữ liệu, hay các hệ thống công nghệ thông tin, công nghệ số - mà quan trọng hơn là hướng dẫn người dân, cơ quan, tổ chức thay đổi tư duy, thay đổi cách làm việc hiệu quả hơn bằng công nghệ.
"Khi gặp vướng mắc, khó khăn trong việc xử lý công việc, phải có tư duy làm thế nào để dùng công nghệ giải quyết được bài toán này", ông Phương nói.
Theo Thứ trưởng Bùi Hoàng Phương, năm 2025, Việt Nam đã rà soát, sửa đổi, bổ sung hầu như toàn bộ hành lang pháp lý trong lĩnh vực khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Lần đầu tiên Việt Nam có Luật Chuyển đổi số, Luật Công nghiệp công nghệ số, Luật Trí tuệ nhân tạo và Luật Dữ liệu cùng hệ thống văn bản hướng dẫn thi hành. Điều này được đánh giá đã từng bước tạo nên hành lang pháp lý đồng bộ cho không gian phát triển mới. "Năm 2026 sẽ là giai đoạn tăng tốc", Thứ trưởng Phương nói.
Ông đề nghị các Bộ, ngành, doanh nghiệp công nghệ số, cần chủ động trực tiếp nắm bắt bài toán, khó khăn vướng mắc thực tế hàng ngày của người dân, doanh nghiệp, cơ quan tổ chức ở cả trung ương và địa phương, thay vì chờ đợi người dân phản ánh; đề xuất các phương án, cách thức đột phá trong sử dụng công nghệ số để giải quyết các bài toán. Khi thành công, hiệu quả phải lan tỏa cách thức triển khai trong phạm vi rộng.
"Nếu quá trình chuyển đổi số của Việt Nam có thể thực hiện được theo định hướng này thì sẽ thực sự trở thành 'Hành động đột phá, lan tỏa kết quả'", ông nói.
Tại sự kiện, đại diện Vinasa cho rằng cộng đồng doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam đã chuyển từ giai đoạn "ứng dụng thụ động" sang làm chủ công nghệ, với năng lực tự xây dựng hạ tầng AI, Cloud, phát triển mô hình ngôn ngữ lớn bản địa hóa, triển khai tác tử AI tự động hóa và số hóa toàn trình dịch vụ công tại nhiều địa phương.
Tuy nhiên, theo lãnh đạo Vinasa, ngành công nghệ đang đối mặt nhiều thách thức như giới hạn của mô hình tăng trưởng dựa trên nhân sự, áp lực về hạ tầng vật lý và năng lượng xanh, cùng khoảng trống pháp lý cho các công nghệ sâu và công nghệ mới.
Theo đại diện hiệp hội, cộng đồng doanh nghiệp công nghệ cần đẩy mạnh đầu tư R&D để tham gia các lĩnh vực mới như robotics, bán dẫn, lượng tử và kinh tế tầm thấp, đồng thời đưa AI vào sản xuất, nông nghiệp và đời sống thực tế. Ngoài ra, cần đẩy mạnh việc "bình dân hóa công nghệ", bằng cách đóng gói các công nghệ phức tạp thành những giải pháp AI đơn giản, chi phí thấp để hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và hộ kinh doanh tiếp cận công nghệ.
Tin Gốc: Vnexpress
Khoa Học Công Nghệ
'Sinh viên hào hứng với AI, nhưng thấy bất định về tương lai'

Trong bối cảnh AI đang trở thành một trong những công nghệ nền tảng của nền kinh tế số, các trường đại học phải thay đổi cách đào tạo để theo kịp nhu cầu của thị trường lao động. Chia sẻ với VnExpress bên lề sự kiện South Summit 2026 ngày 3-5/6 tại Madrid, bà Rafif Srour, Phó hiệu trưởng Trường Khoa học và Công nghệ - Đại học IE (Tây Ban Nha), đã phân tích những kỹ năng sinh viên cần trang bị, vai trò mới của giáo dục đại học và cách cân bằng giữa năng lực công nghệ với tư duy phản biện trong thời AI.
- Tháng trước, sinh viên ở Mỹ từng la ó bài phát biểu tốt nghiệp về AI của cựu CEO Google Eric Schmidt, cho thấy sự lo lắng ngày càng lớn về tác động của AI đối với tương lai. Phản ứng tương tự được ghi nhận trong sinh viên Đại học IE thế nào?
- Chúng tôi chưa ghi nhận phản ứng như vậy từ sinh viên của mình, nhưng chắc chắn đang chứng kiến những lo ngại ngày càng gia tăng xoay quanh AI và tương lai việc làm. Điều thú vị là mức độ lo lắng khác nhau đáng kể tùy từng giai đoạn trong hành trình học tập của sinh viên.
Sinh viên năm nhất nhìn chung khá hào hứng với AI. Các em xem đây là công nghệ mang tính trao quyền và chứa đựng nhiều cơ hội. Tuy nhiên, đồng thời nhiều em cũng đánh giá thấp tầm quan trọng của việc xây dựng nền tảng vững chắc về toán học, thống kê và tư duy thuật toán, bởi các công cụ AI hiện có thể tạo ra câu trả lời gần như lập tức. Một trong những thách thức giáo dục lớn nhất hiện nay của chúng tôi là giúp sinh viên hiểu rằng nền tảng kỹ thuật cốt lõi vẫn rất quan trọng, thậm chí có thể còn quan trọng hơn trước. Những sinh viên có nền tảng kỹ thuật mạnh thường đón nhận AI theo hướng tích cực hơn, bởi công nghệ này giúp mở rộng năng lực và tăng tốc quá trình học tập của họ.
Nhóm có mức độ lo lắng cao nhất là sinh viên chuẩn bị tốt nghiệp. Dù chưa có dữ liệu quy mô lớn, qua trao đổi với sinh viên và đối tác doanh nghiệp, tôi có thể cảm nhận những lo ngại về thị trường lao động. Việc tuyển dụng ở cấp độ entry-level (mới vào nghề) trong một số lĩnh vực công nghệ đang trở nên cạnh tranh hơn, và sinh viên bắt đầu đặt câu hỏi về việc sự nghiệp của họ sẽ thay đổi ra sao trong một nền kinh tế được dẫn dắt bởi AI.
Tôi cho rằng cảm xúc chủ đạo lúc này không phải sợ hãi, mà là sự bất định. Sinh viên hào hứng trước những khả năng AI mang lại, nhưng cũng đang cố gắng hình dung vai trò của mình sẽ ra sao trong một thế giới thay đổi rất nhanh.
- Bà nhắc đến một thế giới thay đổi rất nhanh, vậy các trường đại học đã thích nghi đủ nhanh với AI chưa hay nhiều nơi vẫn đang tiếp tục đào tạo cho "một thế giới không còn tồn tại"?
- Tôi nghĩ các trường đại học trên khắp thế giới đều đang đối mặt với cùng một bài toán. Thật không thực tế nếu tiếp tục giảng dạy theo đúng cách của 5 năm trước. Phần lớn tổ chức giáo dục đang cố gắng thích nghi, dù một số nơi có thể chuyển đổi nhanh hơn nhiều nơi khác.
Có những lý do mang tính cấu trúc khiến sự thay đổi trong môi trường học thuật diễn ra chậm hơn. Tuy nhiên, trường nào càng linh hoạt càng có lợi thế cạnh tranh trong việc thu hút và giữ chân sinh viên. Chẳng hạn tại IE, chúng tôi cập nhật chương trình đào tạo hàng năm cho các ngành khoa học dữ liệu, toán ứng dụng và khoa học máy tính, ở cả bậc đại học lẫn sau đại học. Những chủ đề như kiến trúc dữ liệu, mô hình ngôn ngữ lớn (LLM) hay agentic AI đã được tích hợp vào chương trình học.
Tuy nhiên, đó chỉ là những thay đổi dễ thấy nhất. Thách thức sâu xa hơn không đơn thuần là bổ sung các môn học liên quan đến AI, mà là phải tư duy lại toàn bộ mô hình sư phạm. AI không chỉ thay đổi những gì sinh viên cần học, mà còn thay đổi cách họ học, cách họ làm việc và cách họ tương tác với tri thức.
Một trong những điểm mạnh của IE là nhiều giảng viên cũng đang làm việc trong ngành công nghiệp, giúp đưa các thực tiễn mới và công nghệ mới nổi trực tiếp vào lớp học. Nhưng về lâu dài, sự chuyển đổi mà giáo dục đại học cần thực hiện sẽ vượt xa việc chỉ cập nhật nội dung môn học.
- AI thay đổi cách sinh viên học tập và làm việc. Đâu sẽ là những kỹ năng quan trọng nhất các trường đại học công nghệ cần giúp họ phát triển trong 5 năm tới?
- Bất kỳ cuộc thảo luận nào về các kỹ năng của tương lai cũng cần bắt đầu từ việc hiểu rõ đặc điểm của thế hệ sinh viên hiện nay. Các em đang lớn lên trong môi trường của những câu trả lời tức thì, khả năng tập trung ngắn và sự kích thích số liên tục. Vì vậy, với vai trò là những nhà giáo dục, chúng tôi cần củng cố những kỹ năng đòi hỏi chiều sâu thay vì tốc độ.
Tư duy phân tích chuyên sâu, khả năng tổng hợp và tư duy phản biện sẽ ngày càng trở nên quan trọng. Ngay cả khi các hệ thống AI có thể tạo ra bản tóm tắt hay đưa ra lời giải, sinh viên vẫn cần năng lực đánh giá thông tin, nhận diện những lập luận yếu và kết nối các ý tưởng giữa nhiều lĩnh vực khác nhau.
Trong tương lai, AI có thể trở nên giỏi hơn trong việc giải quyết vấn đề về mặt kỹ thuật, nhưng con người vẫn phải đặt đúng câu hỏi, loại bỏ nhiễu thông tin, xác định mục tiêu rõ ràng và đưa ra quyết định trong điều kiện bất định.
Tôi cũng tin khả năng làm việc nhóm, tính thích nghi và tư duy hệ thống sẽ trở thành những kỹ năng thiết yếu. Người thành công trong kỷ nguyên AI không nhất thiết ghi nhớ được nhiều thông tin nhất, mà có thể tích hợp tri thức, hợp tác hiệu quả và làm việc cùng các hệ thống thông minh.
- Trước nhu cầu đó, đặc biệt trong bối cảnh nhiều quốc gia thiếu hụt nhân lực AI, khoa học máy tính và khoa học dữ liệu, sai lầm phổ biến mà các trường đại học mắc phải khi vội vàng mở chương trình đào tạo AI là gì?
- Một trong những sai lầm lớn nhất là xem AI như một xu hướng nhất thời thay vì một lĩnh vực được xây dựng trên nền tảng kỹ thuật chuyên sâu. Thậm chí, tồn tại quan điểm rằng khoa học máy tính có thể trở nên lỗi thời vì AI. Theo tôi, ngược lại mới đúng. Những lĩnh vực này sẽ còn trở nên quan trọng hơn nữa.
AI vừa là một công cụ, vừa là một năng lực cốt lõi. Việc triển khai chương trình AI quá nhanh, trong khi chưa thực sự hiểu nhu cầu của ngành công nghiệp hay kỹ năng dài hạn sinh viên cần có thường dẫn tới các chương trình hời hợt, chỉ tập trung vào những ứng dụng đang "hot".
Một chương trình đào tạo AI bài bản cần nền tảng vững chắc về khoa học máy tính, toán học, thống kê, kỹ thuật hệ thống và tư duy thuật toán. Sinh viên không chỉ cần học cách sử dụng hệ thống AI, mà phải hiểu cách xây dựng, kiểm chứng và đánh giá chúng một cách phản biện.
Tôi cho rằng việc củng cố nền tảng khoa học máy tính đồng thời tích hợp kỹ thuật AI (AI engineering) một cách chiến lược là hướng đi bền vững hơn nhiều để đào tạo thế hệ nhân lực AI tiếp theo, bao gồm cả người sử dụng và người phát triển.
- Nhưng dù đã thay đổi chương trình đào tạo, nếu AI có thể tự động hóa công việc ở cấp độ entry-level, cơ hội nào cho sinh viên mới ra trường tích lũy kinh nghiệm?
- Đây là một trong những câu hỏi quan trọng nhất chúng ta cần đặt ra lúc này, và thành thật mà nói, cũng là một trong những mối lo lớn nhất của tôi.
Trước đây, vị trí entry-level cho phép kỹ sư hay chuyên viên phân tích trẻ xây dựng trực giác nghề nghiệp, phát triển chiều sâu kỹ thuật và học hỏi từ trải nghiệm thực tế. Nếu nhiều công việc trong số đó nay được tự động hóa, chúng ta có nguy cơ đối mặt khoảng trống chuyên môn trong tương lai, bởi thế hệ trẻ có thể mất đi cơ hội hình thành hiểu biết thực tiễn ở mức sâu.
Qua trao đổi với nhiều lãnh đạo doanh nghiệp, tôi nhận thấy mối lo này ngày càng phổ biến. Nhiều người bắt đầu e ngại trong tương lai chúng ta sẽ thiếu những kỹ sư thực sự hiểu hệ thống nền tảng, bởi quá nhiều quy trình đã được tự động hóa ngay từ đầu.
Theo tôi, một trong những giải pháp tốt nhất là tăng cường mạnh mẽ hơn sự gắn kết giữa doanh nghiệp và chương trình đào tạo đại học. Sinh viên cần tiếp cận môi trường thực tế sớm hơn thông qua dự án, phòng lab, chương trình thực tập, học tập ứng dụng và hợp tác với doanh nghiệp. Tại IE, đây cũng là điều chúng tôi đang chủ động thúc đẩy trong các chương trình STEM.
Thách thức hiện không còn đơn thuần là truyền đạt kiến thức, mà là làm sao tạo ra những con đường thực sự hiệu quả để sinh viên tích lũy kinh nghiệm trong một môi trường làm việc được tăng cường bởi AI.
- Là lãnh đạo tại một trường về khoa học công nghệ, bà nhìn nhận gì về quan điểm trong kỷ nguyên AI, lập trình có thể kém quan trọng hơn so với những kỹ năng như sáng tạo, tư duy hệ thống hay khả năng xác định vấn đề?
- Quan điểm này có phần đúng. Các hệ thống AI tiên tiến có thể tạo ra mã lập trình ở trình độ thậm chí vượt qua nhiều kỹ sư junior (cơ bản). Vì vậy, vai trò của lập trình viên chắc chắn sẽ thay đổi.
Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa coding sẽ biến mất. Sinh viên vẫn cần đủ hiểu biết kỹ thuật để kiểm chứng, diễn giải, xử lý lỗi, tối ưu và đánh giá một cách phản biện các giải pháp do AI tạo ra. Coding trong tương lai có thể sẽ ít xoay quanh việc tự viết từng dòng lệnh, mà thiên về giám sát, điều phối và cải thiện hệ thống thông minh.
Đồng thời, những kỹ năng như tư duy hệ thống, sáng tạo, giao tiếp và xác định đúng vấn đề sẽ trở nên có giá trị hơn rất nhiều. Trong nhiều trường hợp, thách thức lớn nhất không còn là giải quyết một vấn đề về mặt kỹ thuật, mà là xác định đúng vấn đề cần giải quyết ngay từ đầu.
Kỹ sư của tương lai nhiều khả năng sẽ là người kết hợp được hiểu biết kỹ thuật với tư duy chiến lược và năng lực liên ngành.
- Nếu thiết kế một trường đại học từ đầu trong kỷ nguyên AI, bà sẽ làm gì khác đi?
- Tôi sẽ suy nghĩ lại về ba lĩnh vực lớn: cách đánh giá, phương pháp giảng dạy và mức độ gắn kết với doanh nghiệp.
Trước tiên, tôi cho rằng hệ thống đánh giá cần thay đổi một cách căn bản. Mô hình truyền thống - phụ thuộc nhiều vào ghi nhớ và các bài kiểm tra tiêu chuẩn hóa - đang dần trở nên kém phù hợp trong một thế giới mà AI có thể truy xuất và tạo ra thông tin gần như ngay lập tức.
Thứ hai, tôi sẽ thiết kế chương trình xoay quanh việc học ứng dụng, học theo dự án và học liên ngành ngay từ đầu. Sinh viên cần liên tục làm việc với các bài toán thực tế thay vì tách rời lý thuyết và thực hành.
Thứ ba, tôi sẽ tích hợp doanh nghiệp sâu hơn vào mô hình giáo dục. Các trường đại học không thể vận hành tách biệt khỏi tốc độ thay đổi của công nghệ. Đội ngũ giảng viên, hoạt động nghiên cứu và chương trình đào tạo cần kết nối chặt chẽ với thực tế đang thay đổi của thị trường.
Tuy nhiên, tôi vẫn sẽ duy trì việc đào tạo nghiêm ngặt về toán học, khoa học và tư duy phân tích. Kỷ nguyên AI không làm giảm tầm quan trọng của những nền tảng cốt lõi; nếu có, nó còn khiến chúng trở nên quan trọng hơn.
- Việt Nam có lực lượng sinh viên trẻ và rất quan tâm đến công nghệ. Theo bà, đâu là lợi thế lớn nhất của các thị trường mới nổi trong cuộc đua AI?
- Một trong những lợi thế lớn nhất của các thị trường mới nổi là sự linh hoạt.
Nhiều nền kinh tế mới nổi đang xây dựng các hệ sinh thái số mới thay vì phải hiện đại hóa những hệ thống và hạ tầng đã tồn tại hàng chục năm. Họ thường ít bị ràng buộc hơn bởi các cấu trúc tổ chức phân mảnh, quy trình cũ hay nền tảng công nghệ lỗi thời - những yếu tố có thể làm chậm đổi mới tại các thị trường phát triển hơn.
Điều này tạo ra cơ hội để triển khai các hệ thống AI-native (được thiết kế ngay từ đầu với AI là thành phần cốt lõi) nhanh hơn và linh hoạt hơn. Trong một số trường hợp, các thị trường mới nổi thậm chí có thể "nhảy cóc" qua những giai đoạn phát triển công nghệ truyền thống.
Ngoài ra còn có một lợi thế về mặt văn hóa. Dân số trẻ tại các thị trường mới nổi thường có khả năng thích nghi cao, tinh thần khởi nghiệp mạnh và động lực lớn trong việc tham gia các ngành công nghiệp dựa trên công nghệ. Khi kết hợp với khả năng tiếp cận ngày càng tốt hơn với hạ tầng số và các nền tảng tri thức toàn cầu, điều này tạo ra tiềm năng rất lớn cho đổi mới sáng tạo tốc độ cao.
Trong khi đó, các thị trường lâu đời đôi khi phải đối mặt với sức ì lớn hơn trong quá trình chuyển đổi, bởi họ phải cập nhật, tự động hóa và tái cấu trúc hệ thống hiện có ở quy mô lớn. Ngược lại, thị trường mới nổi có cơ hội thiết kế những hệ thống hoàn toàn mới ngay từ đầu với AI là yếu tố cốt lõi.
Tin Gốc: Vnexpress
Khoa Học Công Nghệ
Việt Nam đứng thứ 2 Đông Nam Á, thứ 7 thế giới về chuyển đổi địa chỉ Internet thế hệ mới

Đó là thông tin mới nhất về tình hình phát triển IPv6 (thế hệ địa chỉ Internet phiên bản mới nhất) tại Việt Nam ở Hội nghị VNNIC Internet Conference 2026, diễn ra ngày 19-6, tại TP.HCM.
Với chủ đề “Triển khai IPv6-Only - Động lực phát triển hạ tầng số quốc gia”, hội nghị thu hút sự tham gia của gần 400 lãnh đạo, CEO và các chuyên gia hàng đầu về Internet trong nước và quốc tế.
Theo ông Phạm Đức Long - Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ, Việt Nam đang chứng kiến một trong những biến chuyển quan trọng nhất của Internet. “IPv6 phản ánh cách chúng ta chuẩn bị hạ tầng cho tương lai, hạ tầng có khả năng mở rộng lớn hơn, hiệu quả hơn, an toàn hơn và sẵn sàng đáp ứng sự phát triển mới”, ông Long nói.
Những năm qua Việt Nam đã lựa chọn phát triển Internet không chỉ là người sử dụng công nghệ, mà là một quốc gia chủ động tham gia quá trình phát triển Internet thế hệ mới.
Việt Nam hiện là một trong số các quốc gia sử dụng IPv6 cao trên thế giới, với tỉ lệ sử dụng IPv6 đạt 67,68%, cao gấp 1,6 lần mức trung bình toàn cầu.
Trong đó có khoảng 95 triệu thuê bao Internet băng rộng (bao gồm cả di động và cố định) đang hoạt động ổn định trên nền tảng IPv6. 86% các bộ, ngành, địa phương đã hoàn thành chuyển đổi IPv6 cho cổng thông tin điện tử và cổng dịch vụ công trực tuyến.
Nhờ đó Việt Nam đã tích lũy được những kinh nghiệm, cũng như chính sách để tổ chức triển khai IPv6 trên quy mô lớn và phối hợp hiệu quả giữa cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng kỹ thuật.
“Với những kinh nghiệm đó đã củng cố niềm tin rằng một quốc gia đang phát triển có thể chủ động và tiếp tục triển khai công nghệ mới một cách thành công. Việt Nam mong muốn là một thành viên tích cực, có trách nhiệm, có đóng góp tích cực cho sự phát triển của Internet trên phạm vi toàn cầu”, Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ chia sẻ.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

