Đánh giá được đưa ra tại Diễn đàn cấp cao Chuyển đổi số Việt Nam – châu Á 2026, do Hiệp hội Phần mềm và dịch vụ công nghệ thông tin (Vinasa) tổ chức sáng 28/5 tại Hà Nội.
Trong bài phát biểu của ông Nguyễn Duy Ngọc, Phó trưởng ban thường trực Ban chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, do Tổ giúp việc gửi đến sự kiện, đặc biệt nhấn mạnh vai trò của chuyển đổi số và dữ liệu. Tuy nhiên bài viết cũng chỉ ra những khó khăn trên hành trình đi tới mục tiêu tăng trưởng hai con số đang gặp những lực cản, điểm nghẽn nội tại nằm ở chất lượng dữ liệu và hạ tầng nền tảng. Việc tạo lập dữ liệu số bảo đảm tính “đúng, đủ, sạch, sống” trên quy mô quốc gia và tại các tổ chức, doanh nghiệp còn rất hạn chế. Phần lớn các cơ sở dữ liệu vẫn đang trong quá trình xây dựng, hoàn thiện. Dữ liệu còn phân tán, rời rạc, cát cứ, thiếu kết nối và chia sẻ một cách đồng bộ, liên thông giữa các cấp, các ngành, các địa phương.
“Chưa thể biến dữ liệu thành dòng chảy giá trị kinh tế bởi cơ chế liên thông còn nghẽn, các nền tảng số phát triển còn manh mún, chưa đồng bộ. Đặc biệt một số nền tảng cốt lõi chưa thực sự thân thiện, dễ tiếp cận cho đại đa số người dân và doanh nghiệp”, bài viết đề cập. Thêm nữa, một số vấn đề còn tồn tại như sự chưa đồng bộ về thể chế cho các mô hình kinh doanh mới; hạ tầng số và hạ tầng năng lượng còn chưa đủ sẵn sàng cho làn sóng trí tuệ nhân tạo diện rộng. Nhân lực công nghệ lõi như chip bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, an ninh mạng còn thiếu hụt.
Chuyển nhận thức sang hành động thực chất
Gọi năm 2026 là cột mốc trong chuyển từ nhận thức sang hành động thực chất, Phó trưởng ban thường trực Ban chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số cho rằng việc kiến tạo động lực mới cho tăng trưởng hai con số đòi hỏi phải có những tư duy đột phá, hành động quyết liệt và không đi theo những lối mòn cũ.
Trong gợi mở cho diễn đàn, ông nhắc đến việc tập trung vào các định hướng chiến lược gồm: đột phá thể chế cho đổi mới sáng tạo; chuyển đổi số gắn với tái cấu trúc hệ thống; xây dựng hạ tầng số và liên thông dữ liệu; làm chủ công nghệ lõi, hướng tới tự chủ số; và phát triển nguồn nhân lực công nghệ số mang tầm nhìn toàn cầu.
Trong đó, ông Ngọc nhấn mạnh cần sớm cụ thể hóa tinh thần Nghị quyết 57, xây dựng các hành lang pháp lý minh bạch, thông thoáng và an toàn, các cơ chế thử nghiệm vượt trội cho AI, dữ liệu lớn, bán dẫn, tài sản số và chuyển tư duy quản lý sang kiến tạo để doanh nghiệp công nghệ tham gia giải các bài toán lớn của quốc gia.
Ông đề nghị các bộ ngành, địa phương tập trung xây dựng dữ liệu sạch, chuẩn hóa theo nguyên tắc “đúng, đủ, sạch, sống”, đồng thời thúc đẩy kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa khu vực công và tư. Việt Nam cần chuyển từ “ứng dụng công nghệ” sang “làm chủ công nghệ lõi” và tự chủ số, tham gia nghiên cứu các công nghệ chiến lược như AI, chip bán dẫn, IoT, 5G và tương lai là 6G, đồng thời thúc đẩy tự động hóa quy mô lớn gắn với phát triển năng lượng xanh bền vững.
Tại sự kiện, Thứ trưởng Khoa học và Công nghệ Bùi Hoàng Phương cũng nhấn mạnh năm 2026 là năm có ý nghĩa bản lề đối với Việt Nam, trong đó, cần tập trung vào động lực tăng trưởng mới là đổi mới sáng tạo dựa trên khoa học, công nghệ và chuyển đổi số.
Từ thực tế của Bộ Khoa học và Công nghệ khi làm việc với các bộ, ngành, địa phương, ông Phương nhấn mạnh việc triển khai chuyển đổi số “không phải chỉ cần mua thiết bị công nghệ, phần mềm, AI, đầu tư các cơ sở dữ liệu, hay các hệ thống công nghệ thông tin, công nghệ số – mà quan trọng hơn là hướng dẫn người dân, cơ quan, tổ chức thay đổi tư duy, thay đổi cách làm việc hiệu quả hơn bằng công nghệ.
“Khi gặp vướng mắc, khó khăn trong việc xử lý công việc, phải có tư duy làm thế nào để dùng công nghệ giải quyết được bài toán này”, ông Phương nói.
Theo Thứ trưởng Bùi Hoàng Phương, năm 2025, Việt Nam đã rà soát, sửa đổi, bổ sung hầu như toàn bộ hành lang pháp lý trong lĩnh vực khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Lần đầu tiên Việt Nam có Luật Chuyển đổi số, Luật Công nghiệp công nghệ số, Luật Trí tuệ nhân tạo và Luật Dữ liệu cùng hệ thống văn bản hướng dẫn thi hành. Điều này được đánh giá đã từng bước tạo nên hành lang pháp lý đồng bộ cho không gian phát triển mới. “Năm 2026 sẽ là giai đoạn tăng tốc”, Thứ trưởng Phương nói.
Ông đề nghị các Bộ, ngành, doanh nghiệp công nghệ số, cần chủ động trực tiếp nắm bắt bài toán, khó khăn vướng mắc thực tế hàng ngày của người dân, doanh nghiệp, cơ quan tổ chức ở cả trung ương và địa phương, thay vì chờ đợi người dân phản ánh; đề xuất các phương án, cách thức đột phá trong sử dụng công nghệ số để giải quyết các bài toán. Khi thành công, hiệu quả phải lan tỏa cách thức triển khai trong phạm vi rộng.
“Nếu quá trình chuyển đổi số của Việt Nam có thể thực hiện được theo định hướng này thì sẽ thực sự trở thành ‘Hành động đột phá, lan tỏa kết quả'”, ông nói.
Tại sự kiện, đại diện Vinasa cho rằng cộng đồng doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam đã chuyển từ giai đoạn “ứng dụng thụ động” sang làm chủ công nghệ, với năng lực tự xây dựng hạ tầng AI, Cloud, phát triển mô hình ngôn ngữ lớn bản địa hóa, triển khai tác tử AI tự động hóa và số hóa toàn trình dịch vụ công tại nhiều địa phương.
Tuy nhiên, theo lãnh đạo Vinasa, ngành công nghệ đang đối mặt nhiều thách thức như giới hạn của mô hình tăng trưởng dựa trên nhân sự, áp lực về hạ tầng vật lý và năng lượng xanh, cùng khoảng trống pháp lý cho các công nghệ sâu và công nghệ mới.
Theo đại diện hiệp hội, cộng đồng doanh nghiệp công nghệ cần đẩy mạnh đầu tư R&D để tham gia các lĩnh vực mới như robotics, bán dẫn, lượng tử và kinh tế tầm thấp, đồng thời đưa AI vào sản xuất, nông nghiệp và đời sống thực tế. Ngoài ra, cần đẩy mạnh việc “bình dân hóa công nghệ”, bằng cách đóng gói các công nghệ phức tạp thành những giải pháp AI đơn giản, chi phí thấp để hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và hộ kinh doanh tiếp cận công nghệ.
Theo các bác sĩ, những hình ảnh do AI tạo ra thường vượt xa giới hạn sinh lý của cơ thể con người, thậm chí tiềm ẩn nhiều rủi ro nếu cố gắng tái hiện ngoài đời thực.
Bác sĩ da liễu thẩm mỹ Rachel Westbay cho biết bà vốn đã quen với những yêu cầu “khó chiều” từ bệnh nhân.
Bà từng thấy có người mang ảnh thời trẻ hoặc người nổi tiếng đến và mong mình có thể “hô biến” khuôn mặt như vậy.
Tuy nhiên, đầu năm nay, bà thực sự sốc khi một bệnh nhân bước vào phòng khám ở Upper East Side cùng một bức ảnh giống như tranh biếm họa: Môi căng phồng quá mức, đôi mắt to như búp bê.
Điều đáng nói là bức ảnh đó được tạo ra bởi ChatGPT.
“Giống như ai đó nói rằng họ muốn trông như nàng tiên cá Ariel vậy”, bác sĩ Rachel Westbay chia sẻ với tờ Business Insider.
AI đang dần xuất hiện ngày càng nhiều trong các phòng khám thẩm mỹ. Thay vì để bác sĩ quyết định kết quả “sau phẫu thuật”, nhiều bệnh nhân chủ động dùng các công cụ tạo ảnh AI như ChatGPT, Nano Banana hay các ứng dụng filter để dựng nên phiên bản đẹp nhất của chính mình.
Các bác sĩ cho rằng điều này khiến họ phải đối mặt với một bài toán khó. Đó là phải giải thích cho bệnh nhân hiểu đâu là giới hạn mà phẫu thuật có thể đạt tới và đâu là điều cơ thể con người hoàn toàn không thể chịu đựng.
Một khảo sát do Trung tâm Y khoa Beth Israel Deaconess công bố năm ngoái cho thấy những người thường sử dụng AI chỉnh sửa ảnh có kỳ vọng “cao hơn đáng kể” về kết quả phẫu thuật thẩm mỹ.
Bác sĩ Steven Williams, cựu Chủ tịch Hiệp hội Phẫu thuật Thẩm mỹ (Mỹ) cho biết ông từng gặp nhiều bệnh nhân mang theo ảnh AI mô phỏng nâng ngực, tạo hình cơ thể hay sửa mũi.
“Cơ thể con người không phải đất sét”
Daina Jenkins (60 tuổi) quyết định thực hiện một ca phẫu thuật căng da mặt sau nhiều năm tìm hiểu và cân nhắc.
“Nếu thứ gì đang chảy xệ, phình ra hay trễ xuống thì tôi sẽ nâng nó lên, hút nó đi hoặc chỉnh sửa nó”, bà nói vui.
Sau khi chọn được bác sĩ phù hợp, Jenkins nhận ra phòng khám không cung cấp hình ảnh mô phỏng hậu phẫu.
Vì vậy, bà tự tìm đến ChatGPT, mô tả các thủ thuật can thiệp mình định làm và yêu cầu AI tạo hình ảnh sau phẫu thuật.
Kết quả hiện ra là một khuôn mặt với làn da không tì vết, quai hàm sắc lẹm và đôi môi căng mọng, hoàn toàn khác với diện mạo thật của bà sau ca phẫu thuật thực tế.
Khi mang hình ảnh ấy hỏi lại bác sĩ, Jenkins cảm thấy nhẹ nhõm khi được giải thích rằng kết quả như vậy thực tế không thể đạt được.
“Nó không phải đời thực. Tôi vẫn thích việc mình trông tự nhiên hơn”, Jenkins kể lại.
Theo bác sĩ Rachel Westbay, AI thường tạo ra kiểu gương mặt giống búp bê với đôi môi đầy, mắt to và cằm sắc nét. Nhưng nó không tính đến cấu trúc gương mặt riêng, đặc điểm sắc tộc hay sự cân đối tổng thể của mỗi người.
Bác sĩ phẫu thuật Sachin Shridharani tại Manhattan kể rằng từng có một phụ nữ ngoài 70 tuổi mang tới bức ảnh AI với mong muốn trông trẻ như cháu gái mình.
“Tôi giải thích rằng chúng tôi không thể đưa bà ấy trở lại thời trẻ, nhưng bà vẫn khăng khăng muốn như vậy”, bác sĩ Sachin Shridharani chia sẻ.
Các bác sĩ cho biết nhiều cuộc tư vấn giờ đây kéo dài hàng giờ chỉ để giải thích cho bệnh nhân hiểu đâu là điều khả thi và an toàn. Có những người muốn chiếc mũi nhỏ đến mức không thể thở bình thường hoặc vòng eo bé tới mức “không còn chỗ cho nội tạng”.
“Cơ thể con người không phải đất sét. Chúng tôi phải bảo vệ các hệ cơ quan và giới hạn sinh lý khi tiến hành phẫu thuật”, bác sĩ Steven Williams nhấn mạnh.
Bác sĩ Rachel Westbay cũng cho biết có những yêu cầu hoàn toàn bất khả thi, chẳng hạn làm mắt to hơn bằng phẫu thuật. Theo bà, nếu có thể làm được, người đó cũng sẽ trông như nhân vật hoạt hình.
Tiêu chuẩn cái đẹp thời AI
Các chuyên gia nhận định việc bệnh nhân mang ảnh tham khảo đến phòng khám vốn không mới. Trước đây, họ từng cắt ảnh người mẫu từ tạp chí hay ảnh các siêu mẫu nổi tiếng.
Nhưng mạng xã hội và AI đã đẩy xu hướng này lên một cấp độ hoàn toàn khác.
Một nghiên cứu năm 2019 của Học viện Phẫu thuật Tạo hình và Tái tạo khuôn mặt tại Mỹ cho thấy 72% bác sĩ từng gặp bệnh nhân muốn phẫu thuật chỉ để “trông đẹp hơn khi selfie”.
Dù vậy, nhiều bác sĩ vẫn nhìn thấy tiềm năng tích cực của AI.
Bác sĩ Justin Sacks từ Trường Y Đại học Washington (Mỹ) nêu quan điểm rằng trong tương lai, AI có thể hỗ trợ bác sĩ mô phỏng kết quả phẫu thuật cho bệnh nhân một cách trực quan.
Ví dụ, với bệnh nhân ung thư vú cần tái tạo ngực, AI có thể tạo mô phỏng trực tiếp. Chẳng hạn nếu đặt túi silicone 400ml thì cơ thể sẽ thay đổi ra sao, hay lớp mô mềm sẽ trông thế nào.
“Cuộc trò chuyện giữa bác sĩ và bệnh nhân lúc đó sẽ thay đổi hoàn toàn. Kỳ vọng của bệnh nhân cũng thực tế hơn nhiều”, bác sĩ Justin Sacks nhận định.
Tuy nhiên, các bác sĩ vẫn cảnh báo rằng điều quan trọng nhất không phải là AI tạo ra hình ảnh đẹp đến đâu, mà là lý do thực sự khiến một người muốn thay đổi ngoại hình.
“Nếu ai đó nghĩ phẫu thuật sẽ giúp họ có công việc mới, một mối quan hệ mới hay địa vị xã hội mới, đó là dấu hiệu đáng lo”, bác sĩ Steven Williams khẳng định.
Theo Hãng tin Reuters ngày 27-5, OpenAI Foundation cho biết nguồn tiền này sẽ được sử dụng cho các chương trình tài trợ, hợp tác nghiên cứu và các dự án do chính tổ chức này trực tiếp triển khai.
OpenAI Foundation là tổ chức phi lợi nhuận đang nắm quyền kiểm soát Công ty OpenAI sau đợt tái cấu trúc công ty năm 2025.
Theo mô hình mới, bộ phận kinh doanh của OpenAI hoạt động dưới dạng công ty vì lợi ích cộng đồng (PBC), còn OpenAI Foundation giữ 26% cổ phần và có quyền bổ nhiệm hội đồng quản trị.
Tại thời điểm tái cấu trúc, phần sở hữu của quỹ này được định giá khoảng 130 tỉ USD, biến OpenAI Foundation thành một trong những tổ chức phi lợi nhuận có nguồn lực tài chính lớn nhất thế giới.
Theo OpenAI Foundation, nguồn quỹ nói trên sẽ hỗ trợ nghiên cứu tác động của AI đối với thị trường lao động, hỗ trợ người lao động có nguy cơ mất việc trong ngắn hạn, đồng thời tìm cách giúp nhiều người được hưởng lợi từ tăng trưởng kinh tế do AI mang lại.
"Tốc độ thay đổi hiện nay đồng nghĩa khoảng thời gian để làm đúng việc này ngắn hơn nhiều so với trước đây, và cái giá phải trả nếu làm sai sẽ vô cùng lớn", tổ chức này cho biết trong tuyên bố.
Reuters nhận định sự phổ biến của các công cụ AI có khả năng tự động hóa công việc như lập trình đang làm dấy lên lo ngại về nguy cơ mất việc trên diện rộng.
Một số doanh nghiệp lớn như Block hay Standard Chartered gần đây đã công khai nhắc đến hiệu quả từ AI như một trong các nguyên nhân dẫn đến cắt giảm nhân sự.
Trước đó hồi tháng 3, OpenAI cũng cam kết đầu tư ít nhất 1 tỉ USD thông qua OpenAI Foundation trong vòng một năm cho các dự án liên quan đến AI, bao gồm lĩnh vực khoa học sự sống và các chương trình cộng đồng.
Tổ chức này cho biết các sáng kiến đầu tiên sẽ được công bố vào cuối năm nay.
Ngoài việc cấp tài trợ cho các tổ chức phi lợi nhuận và nhiều tổ chức khác, OpenAI Foundation cũng đang xây dựng đội ngũ riêng để trực tiếp vận hành một số chương trình thay vì chỉ đóng vai trò trung gian phân phối vốn.
Một trong những hướng nghiên cứu mà quỹ quan tâm là các dự án sử dụng mô phỏng bằng AI nhằm dự báo cách các nền kinh tế có thể thay đổi khi công nghệ tiếp tục phát triển.
"Chúng tôi đã sử dụng AI để tạo code (mã) nội bộ được một thời gian. 75% tổng số mã mới đang được tạo và phê duyệt bởi AI, tăng từ 50% so với mùa thu năm ngoái", CEO Google Sundar Pichai viết trên blog ngày 22/4. Thông tin này sau đó cũng được công bố tại sự kiện Cloud Next 2026 đang diễn ra tại Las Vegas, theo India Times.
Người đứng đầu Google lấy ví dụ về việc áp dụng AI cho lập trình, trong đó một dự án chuyển đổi mã "đặc biệt phức tạp" đã được thực hiện bởi Gemini kết hợp chuyên viên và kỹ sư. Kết quả, tiến độ hoàn thành nhanh gấp sáu lần so với khi chỉ kỹ sư làm việc trên dự án tương tự cách đây một năm.
Tuy nhiên, ông Pichai nhấn mạnh, dù tỷ lệ tham gia của AI rất cao, con người vẫn đóng vai trò kiểm soát cuối cùng. "Mỗi dòng code đều được các kỹ sư xem xét và phê duyệt", ông nói. "AI đóng vai trò là soạn thảo tốc độ cao trong khi con người duy trì vai trò kiểm soát chất lượng".
Theo Pichai, bước tiến này đến từ việc Google đẩy mạnh tác nhân AI với khả năng tự thực hiện chuỗi nhiệm vụ phức tạp, thay vì chỉ hỗ trợ từng đoạn code rời rạc như trước. Trong một số trường hợp, tác nhân giúp rút ngắn thời gian xử lý công việc xuống còn một phần nhỏ so với cách làm truyền thống, mở ra khả năng tăng tốc đáng kể năng suất lập trình.
Không chỉ là công cụ hỗ trợ, AI đang trở thành tiêu chuẩn mới trong môi trường làm việc. Pichai cho biết, Google đã đưa mức độ sử dụng AI vào tiêu chí đánh giá hiệu suất, cho thấy vai trò ngày càng thiết yếu của công nghệ này.
Tỷ lệ áp dụng AI cho việc viết mã của Google tăng nhanh trong thời gian ngắn. Ví dụ, năm 2024, tỷ lệ này chỉ 25%, cho thấy tốc độ thâm nhập mạnh mẽ của AI vào quy trình phát triển phần mềm.
Trước đó, Business Insider đưa tin một số nhân viên Google DeepMind đã được phép sử dụng phần mềm Claude Code của Anthropic để lập trình những tháng gần đây bên cạnh Gemini.
Theo TechCrunch, xu hướng sử dụng AI để viết code hiện lan rộng trong ngành công nghệ. Microsoft cho biết AI hiện tham gia tạo khoảng 20-30% code, trong khi Meta và Snap đặt mục tiêu nâng tỷ lệ lên cao hơn thời gian tới. Giám đốc công nghệ Kevin Scott của Microsoft thậm chí tin 95% mã lập trình sẽ do AI tạo ra trong vòng 5 năm nữa.
Giới chuyên gia nhận định, ngành lập trình đang bước vào một giai đoạn chuyển đổi, khi kỹ sư không còn là người trực tiếp viết toàn bộ mã. Thay vào đó, họ trở thành "người điều phối" các hệ thống AI, gồm kiểm soát, định hướng và đảm bảo chất lượng sản phẩm. Nếu không thay đổi, họ có thể bị đe dọa công việc.