Thấy gì từ làn sóng ngân hàng phát hành chứng chỉ tiền gửi 9%/năm?

Thấy gì từ làn sóng ngân hàng phát hành chứng chỉ tiền gửi 9%/năm?

Trong khi lãi suất tiết kiệm thông thường ở các kỳ hạn dưới 6 tháng ở mức 4,75%/năm thì nhiều ngân hàng đẩy lãi suất chứng chỉ tiền gửi lên tới 9%/năm để thu hút dòng vốn.

Mặt bằng lãi suất huy động tại các ngân hàng thương mại đã có dấu hiệu tăng trở lại từ cuối tháng 6, trong bối cảnh khoảng cách giữa tăng trưởng huy động vốn và tăng trưởng tín dụng cao.

Khảo sát biểu giá niêm yết từ đầu tháng 7 cho thấy, mức lãi huy động cho các kỳ hạn 6-12 tháng dao động từ 6,5-7%/năm. Thực tế, khi khách hàng mở khoản gửi tiết kiệm sẽ được ngân hàng chào cộng biên lãi thêm 2-3%, đẩy mức lãi suất thực tế cho khoản gửi vài trăm triệu đồng lên 9%/năm.

Lãi suất chứng chỉ tiền gửi vượt xa lãi suất tiết kiệm

Cuộc đua huy động vốn không chỉ dừng lại ở lãi suất tiết kiệm truyền thống mà còn mở rộng sang nhiều loại sản phẩm tương tự khác như chứng chỉ tiền gửi.

Chứng chỉ tiền gửi (Certificate of Deposit) là một loại giấy tờ có giá do ngân hàng phát hành nhằm huy động vốn từ cá nhân hoặc tổ chức. Hình thức này đã được nhiều ngân hàng triển khai từ lâu, chủ yếu được giao dịch qua kênh trực tuyến.

Từ cuối tháng 6 đến nay, trong bối cảnh đẩy mạnh huy động vốn, khối ngân hàng có xu hướng gia tăng phát hành chứng chỉ tiền gửi với lãi suất cao, lên đến 9%/năm.

Nếu so với lãi tiết kiệm cùng kỳ hạn, lãi suất chứng chỉ tiền gửi thậm chí cao gấp 2 lần. Cụ thể, lãi suất tiền gửi kỳ hạn ngắn từ 1-3 tháng tại các ngân hàng dao động từ 2,1-4,75%/năm. Song thị trường xuất hiện làn sóng huy động vốn thông qua chứng chỉ tiền gửi với mức lãi suất lên tới 7-9%/năm cho cùng kỳ hạn.

Ghi nhận thực tế, ngân hàng V. vừa điều chỉnh tăng lãi suất chứng chỉ tiền gửi ở các kỳ hạn từ 1-6 tháng, đồng thời hạ mệnh giá tối thiểu xuống dưới 10 triệu đồng thay vì chỉ áp dụng từ 100 triệu đồng như trước. Theo đó, kỳ hạn 30-59 ngày có lãi suất 7,3%/năm, kỳ hạn 60-89 ngày đạt 7,5%/năm, kỳ hạn 4-6 tháng là 8%/năm và kỳ hạn khoảng 6-7 tháng có lãi suất 9%/năm.

Tại M., lãi suất chứng chỉ tiền gửi kỳ hạn 1 tháng ở mức 6,5%/năm, kỳ hạn 2 tháng là 6,7%/năm, kỳ hạn 3-5 tháng là 7%/năm, kỳ hạn 6 tháng là 7,1%/năm. Mức lãi suất này cao hơn nhiều so với biểu lãi suất tiết kiệm thông thường tại ngân hàng, chênh khoảng 2-3 điểm % tại cùng kỳ hạn.

Ngân hàng A. thì đang công bố lãi suất chứng chỉ tiền gửi ở mức 6,3%/năm tại kỳ hạn 1 tháng và 6,8%/năm với kỳ hạn 3 tháng.

Đáng nói, không ít ngân hàng thậm chí không giới hạn số tiền chứng chỉ tiền gửi có kỳ hạn phải tròn 10 triệu đồng hay 100 triệu đồng, mà chỉ cần từ 1 triệu đồng trở lên, khách hàng đã có thể tham gia.

Nhiều ý kiến cho rằng, việc các ngân hàng tăng lãi suất huy động bằng chứng chỉ tiền gửi cho thấy cuộc đua giành thị phần tiền gửi đang bước vào giai đoạn căng thẳng.

Lãi suất tiết kiệm dự báo sẽ hạ nhiệt, ngân hàng tăng huy động vốn ở thị trường 2

Chia sẻ với phóng viên báo Dân trí, ông Nguyễn Minh Đức – Chuyên gia phân tích tại Công ty cổ phần đầu tư FinSuccess – cho biết thông thường, khi gặp khó khăn trong việc huy động vốn từ dân cư và tổ chức kinh tế (thị trường 1), các ngân hàng sẽ chuyển hướng sang huy động mạnh mẽ trên kênh liên ngân hàng (thị trường 2). Sự dịch chuyển dòng vốn này thường khiến cho mặt bằng lãi suất tại Thị trường 2 biến động tương đối mạnh.

Thực tế trong nửa đầu năm, lãi suất liên ngân hàng đã có những nhịp biến động mạnh, trùng khớp với thời điểm các sản phẩm tiền gửi được đẩy lên mức sinh lời cực kỳ hấp dẫn.

Tuy nhiên, trong vài tuần trở lại đây, lãi suất trên thị trường 2 đã bắt đầu ổn định trở lại và ghi nhận xu hướng giảm. Điều này có được là nhờ các biện pháp hỗ trợ thanh khoản và nới một số tỷ lệ an toàn từ Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước, gắn liền với mục tiêu kéo giảm mặt bằng lãi suất về vùng hợp lý để hỗ trợ quá trình phục hồi kinh tế.

  VN-Index biến động 'như tàu lượn'

“Dựa trên những diễn biến đó, chúng tôi dự báo đà tăng của lãi suất huy động tiết kiệm sẽ sớm kết thúc trong tháng tới và bắt đầu bước vào chu kỳ hạ nhiệt. Tuy nhiên, tốc độ giảm có thể sẽ diễn ra từ từ chứ không giảm sốc, bởi hệ thống vẫn cần thêm thời gian để các biện pháp hỗ trợ chính sách được thẩm thấu hoàn toàn”, ông Đức nói.

Chuyên gia cũng nhấn mạnh việc các ngân hàng đẩy chứng chỉ tiền gửi trong thời gian qua không chỉ đơn thuần là giải pháp tình thế. Ở bề nổi, điều này giúp giải quyết đầu vào để đáp ứng nhu cầu tăng trưởng tín dụng. Nhưng nguyên nhân sâu xa hơn là các ngân hàng đang rất cần nguồn vốn trung và dài hạn có tính ổn định cao.

Đối với hệ thống ngân hàng, việc đa dạng hóa cấu trúc huy động vốn là một xu hướng tất yếu nhằm nâng cao các tỷ lệ an toàn hoạt động. Đặc biệt, trong bối cảnh Ngân hàng Nhà nước đang có định hướng áp dụng chuẩn mực quản trị rủi ro khắt khe hơn là Basel III trong giai đoạn 2028-2030, việc xây dựng được nguồn vốn dài hạn, ổn định sẽ là chìa khóa then chốt để các ngân hàng tuân thủ tốt các chỉ tiêu an toàn này.

Về phía khách hàng, sự đa dạng hóa sản phẩm mang lại lợi ích rất rõ rệt khi tạo ra nhiều lựa chọn sinh lời linh hoạt. Chứng chỉ tiền gửi đang lấp đầy khoảng trống giữa tiền gửi tiết kiệm thông thường và trái phiếu doanh nghiệp.

Mua chứng chỉ tiền gửi ngân hàng không chỉ nhìn vào lãi suất

Bà Đỗ Thu Hồng – Trưởng phòng Quản lý gia sản, Công ty tư vấn đầu tư và quản lý tài sản FIDT – phân tích dù cùng là dùng khoản tiền nhàn rỗi để hưởng lãi suất từ ngân hàng, song khác với tiết kiệm thông thường, chứng chỉ tiền gửi là một hình thức tiền gửi dưới dạng giấy tờ có giá, là bằng chứng xác nhận nghĩa vụ trả nợ của ngân hàng phát hành đối với người mua trong một thời hạn nhất định.

Nếu tiền gửi tiết kiệm khách hàng có thể rút trước hạn theo quy định của ngân hàng, thì chứng chỉ tiền gửi không được rút trước hạn mà được chuyển nhượng cho người khác hoặc cầm cố để vay vốn. Thông thường, chứng chỉ tiền gửi được phát hành với mệnh giá tối thiểu lớn và hạn chế rút trước hạn.

Điểm khác biệt thứ hai, thị trường có nhiều sản phẩm chứng chỉ tiền gửi được giao dịch theo hình thức chuyển nhượng trên thị trường thứ cấp, thay vì khách hàng mua trực tiếp từ ngân hàng phát hành.

Do đó, khả năng thu hồi vốn trước thời điểm đáo hạn không còn phụ thuộc hoàn toàn vào ngân hàng phát hành mà còn phụ thuộc vào cơ chế chuyển nhượng, điều khoản mua lại và năng lực thực hiện cam kết của đơn vị trung gian.

Tin Gốc: Dân Trí