Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn chiều 11/4 hội kiến Giáo hoàng Leo XIV tại Tòa thánh Vatican, bày tỏ trân trọng những tình cảm tốt đẹp Giáo hoàng và Tòa thánh dành cho nhân dân Việt Nam, theo Bộ Ngoại giao.
Chủ tịch Quốc hội chuyển Thư mời thăm chính thức Việt Nam của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tới Giáo hoàng Leo XIV. Giáo hoàng Leo XIV trân trọng cảm ơn, bày tỏ mong muốn thăm Việt Nam trong thời gian tới.
Giáo hoàng Leo XIV đánh giá cao việc Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn đến thăm Vatican chỉ 5 ngày sau khi được Quốc hội bầu giữ chức vụ mới. Giáo hoàng cũng chia sẻ sự gắn bó đặc biệt với Việt Nam, cho biết cách đây hai năm, khu vườn tại Vatican đã đặt một bức tượng Đức Mẹ La Vang mặc áo dài truyền thống, giúp ông luôn nhớ tới Việt Nam mỗi khi nhìn thấy.
Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn nhận xét quan hệ giữa Việt Nam và Vatican đã đạt được những bước tiến quan trọng và thực chất, từ các cuộc gặp giữa lãnh đạo cấp cao đến việc thiết lập Văn phòng Đại diện thường trú của Tòa thánh tại Việt Nam.
Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn cho biết trong cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031, nhiều chức sắc, tu sĩ, tín đồ Công giáo tiếp tục được tín nhiệm trúng cử.
Quốc hội Việt Nam cũng đang liên tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, tạo điều kiện thuận lợi cho Công giáo hoạt động và phát triển theo quy định của Hiến pháp và pháp luật.
Giáo hoàng Leo XIV cảm ơn các cơ quan chức năng Việt Nam đã tạo điều kiện và hỗ trợ tích cực để Đại diện thường trú của Tòa thánh tại Việt Nam hoạt động ổn định, hiệu quả; mong muốn hai bên tăng cường các trao đổi, tiếp xúc để đưa quan hệ song phương phát triển ngày càng sâu rộng.
Cùng ngày, Chủ tịch Quốc hội hội kiến Thủ tướng Tòa thánh, Hồng y Pietro Parolin, đề nghị Tòa thánh khuyến khích Giáo hội Công giáo Việt Nam thực hiện tốt đường hướng “Kính Chúa, yêu nước”, đồng hành cùng dân tộc để đóng góp vào sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.
Thủ tướng Pietro Parolin đánh giá cao những thành tựu phát triển và chính sách tôn giáo cởi mở của Việt Nam, khẳng định quan hệ hai bên sẽ tiếp tục duy trì đà phát triển tích cực, hướng tới những bước tiến mới trong tương lai.
Tin Gốc: https://vnexpress.net/tong-bi-thu-chu-tich-nuoc-gui-thu-moi-giao-hoang-tham-viet-nam-5061309.html
Thế Giới
Những ứng viên hàng đầu trong 'bầu cử rừng rậm' chọn Thống đốc California

Cử tri California ngày 2/6 sẽ bỏ phiếu vòng bầu cử sơ bộ trong cuộc đua được đánh giá là hỗn loạn và có tác động lớn nhất nước Mỹ hiện tại, nhằm chọn hai ứng viên vào vòng cuối tranh ghế kế nhiệm Thống đốc Gavin Newsom.
Kết quả cuộc đua sẽ góp phần định hình đường hướng của bang đông dân nhất nước Mỹ, lâu nay được xem là "nơi thử nghiệm nhiều chính sách cấp tiến" và là nơi hứng chịu nhiều đòn công kích của Tổng thống Donald Trump. Người kế nhiệm Thống đốc Newsom cũng sẽ quyết định cách California ứng phó với chính quyền Trump trong những năm tới.
California loại bỏ các cuộc bầu cử sơ bộ theo đảng phái từ năm 2010 nhằm giảm bớt sự phân cực chính trị. Bang này lựa chọn phương thức "bầu cử rừng rậm", trong đó tất cả ứng viên không phân biệt đảng phái đều cùng xuất hiện trên một lá phiếu để cử tri lựa chọn.
Hai ứng viên nhận được nhiều phiếu nhất trong "bầu cử rừng rậm" sẽ đối đầu trực tiếp trong tổng tuyển cử tháng 11, bất kể họ thuộc đảng nào. Điều này đồng nghĩa cử tri California có thể sẽ phải chọn giữa hai thành viên đảng Dân chủ, hoặc hai thành viên đảng Cộng hòa trong cuộc bầu cử quyết định ghế Thống đốc.
Trong số 61 ứng viên xuất hiện trên lá phiếu năm nay, sự chú ý và nguồn lực tranh cử hiện tập trung vào một vài gương mặt có kinh nghiệm chính trị.
Hai khảo sát giữa và cuối tháng 5 cho thấy Xavier Becerra của đảng Dân chủ và Steve Hilton của đảng Cộng hòa đang dẫn đầu, mỗi người được khoảng 20% cử tri có khả năng đi bầu ủng hộ. Nhóm bám đuổi gồm Tom Steyer, Chad Bianco và Katie Porter, trong khi các ứng viên còn lại đều chưa đạt tỷ lệ ủng hộ hai chữ số.
Xavier Becerra, đảng Dân chủ
Ông Becerra có 35 năm hoạt động trong chính trường California và Washington. Ông từng làm lãnh đạo đảng Dân chủ tại Hạ viện Mỹ trước khi được bổ nhiệm chức Tổng chưởng lý California năm 2016, thay cho bà Kamala Harris, người khi đó được bầu làm thượng nghị sĩ Mỹ.
Trên cương vị này, Becerra nhiều lần kiện chính quyền Trump trong nhiệm kỳ thứ nhất, trở thành một trong những gương mặt nổi bật nhất của đảng Dân chủ trong cuộc đối đầu pháp lý với Nhà Trắng.
Ông sau đó gia nhập nội các tổng thống Joe Biden, giữ chức Bộ trưởng Y tế. Hồ sơ kinh nghiệm này là trọng tâm trong thông điệp tranh cử của Becerra, khi ông xây dựng hình ảnh một chính khách dày dạn, có khả năng điều hành California và đối phó với ông Trump.
Tuy nhiên, quá trình hoạt động của Becerra cũng kéo theo nhiều sức ép. Một số cựu quan chức chính quyền Biden chỉ trích nhiệm kỳ của ông tại Bộ Y tế. Ông cũng liên tục bị chất vấn sau khi một cựu trợ lý cấp cao bị kết tội biển thủ quỹ tranh cử của ông.
Hồi tháng 4, sau khi nghị sĩ Dân chủ Eric Swalwell, ứng viên hàng đầu vào ghế Thống đốc California, rút lui vì cáo buộc tấn công tình dục, ông Becerra nhận được sự ủng hộ của nhiều bên tại California, trong đó có các nghiệp đoàn lớn.
Steve Hilton, đảng Cộng hòa
Ông Hilton là bình luận viên bảo thủ và cựu người dẫn chương trình của Fox News, nhưng có xuất phát điểm khác thường so với nhiều chính khách Cộng hòa tại Mỹ. Sinh tại Anh, ông từng là cố vấn cấp cao của cựu thủ tướng Anh David Cameron trước khi chuyển sang Mỹ và trở thành một gương mặt truyền thông bảo thủ quen thuộc tại California.
Ông nhận được ủng hộ của ông Trump, yếu tố giúp củng cố vị thế trong nhóm cử tri Cộng hòa nhưng cũng có thể là gánh nặng tại California, bang nghiêng mạnh về đảng Dân chủ. Trong các tranh luận, ông Hilton hầu như tránh nhắc đến Tổng thống Mỹ, trừ khi bị hỏi trực tiếp.
Ông Hilton kêu gọi cử tri bầu một Thống đốc Cộng hòa để tạo đối trọng với phe Dân chủ đang chiếm ưu thế ở thành phố thủ phủ Sacramento. Trong cuộc chạy đua, ông Hilton tập trung vào sinh hoạt phí, giảm thuế, thu hẹp quy mô chính quyền. Ông cam kết miễn thuế thu nhập cho 100.000 USD đầu tiên của mỗi người dân và giảm mạnh giá xăng.
Tom Steyer, đảng Dân chủ
Ông Steyer là tỷ phú sáng lập quỹ phòng hộ tại San Francisco. Trước vòng sơ bộ, ông trở thành một trong những gương mặt xuất hiện dày đặc nhất nhờ mức chi tiêu tranh cử kỷ lục, phần lớn từ tài sản cá nhân.
Tỷ phú này chưa từng giữ chức vụ dân cử, nhưng là gương mặt quen thuộc trong chính trường Dân chủ nhờ khối tài sản lớn và vai trò nhà tài trợ cho các chiến dịch chống biến đổi khí hậu.
Steyer từng rót tiền cho chiến dịch kêu gọi luận tội tổng thống Trump trong nhiệm kỳ đầu. Ông sau đó tự tài trợ chiến dịch tranh cử trong vòng sơ bộ tổng thống của đảng Dân chủ năm 2020, nhưng rút lui sau kết quả không thuận lợi ở các bang bỏ phiếu sớm.
Trong cuộc đua vào ghế Thống đốc California, Steyer xây dựng hình ảnh một ứng viên dân túy cấp tiến, công kích ảnh hưởng của các nhóm lợi ích và doanh nghiệp lớn trong chính trị.
Thông điệp này giúp ông nhận được sự ủng hộ từ những đồng minh không thường thấy đối với một tỷ phú tài chính, trong đó có tổ chức vận động chính trị Our Revolution.
Chad Bianco, đảng Cộng hòa
Ông Bianco là Cảnh sát trưởng Hạt Riverside với sự nghiệp 30 năm trong lực lượng hành pháp. Ông tranh cử với cam kết siết kiểm soát tội phạm, xử lý tình trạng vô gia cư và tập trung nhiều vào các vấn đề trật tự xã hội.
Là người ủng hộ ông Trump mạnh mẽ, Bianco gây chú ý toàn quốc khi văn phòng của ông thu giữ 1.000 thùng tài liệu bầu cử, trong đó có hơn nửa triệu lá phiếu từ một cuộc bầu cử đặc biệt năm 2025 về tái phân chia khu vực bầu cử.
Ông nói đây là một cuộc điều tra hình sự hợp pháp, trong khi các ý kiến chỉ trích cho rằng động thái này chiều theo các thuyết âm mưu bầu cử từng được phong trào MAGA thúc đẩy.
Vụ thu giữ tài liệu đẩy ông Bianco vào cuộc đối đầu với Tổng chưởng lý Dân chủ Rob Bonta của California, đồng thời củng cố hình ảnh của ông trong nhóm cử tri Cộng hòa hoài nghi về bầu cử. Tòa án Tối cao bang hồi tháng 4 đã yêu cầu ông dừng cuộc điều tra.
Katie Porter, đảng Dân chủ
Bà Porter từng là giáo sư luật trước khi bước vào chính trường, đại diện quận Cam tại Hạ viện Mỹ trong ba nhiệm kỳ. Bà nổi tiếng với các phần chất vấn bằng bảng trắng và cách diễn giải chính sách dễ hiểu. Bà cũng nhiều lần gây chú ý khi đối đáp gay gắt với lãnh đạo doanh nghiệp trong các phiên điều trần quốc hội.
Porter dựa vào hình ảnh dân túy và chống doanh nghiệp lớn, lập luận rằng bà có thể đấu tranh cho người dân California trước các nhóm lợi ích quyền lực. Trước khi tranh cử, bà từng là giám sát viên độc lập của California trong thỏa thuận quốc gia với các ngân hàng sau khủng hoảng thế chấp năm 2008.
Năng lực về chính sách giúp bà Porter nhận được nhiều ủng hộ từ truyền thông. Tuy nhiên, bà cũng đối mặt nghi vấn về phong cách lãnh đạo. Một số video rò rỉ cho thấy bà quát mắng cấp dưới trong cuộc họp trực tuyến, dọa rời khỏi một cuộc phỏng vấn truyền hình. Bà đã xin lỗi và cam kết ứng xử tốt hơn.
Antonio Villaraigosa, đảng Dân chủ
Ông Villaraigosa là cựu thị trưởng Los Angeles và cựu chủ tịch Hạ viện California, nhưng đang gặp khó khi nỗ lực tạo đà sau hơn 10 năm rời xa chức vụ công.
Từng là nhà tổ chức công đoàn, ông trở thành thị trưởng gốc Latin đầu tiên của Los Angeles sau hơn 100 năm, lãnh đạo thành phố từ năm 2005 đến 2013.
Trong chiến dịch tranh cử, Villaraigosa nhấn mạnh kinh nghiệm điều hành Los Angeles và hoạt động tại cơ quan lập pháp bang, xây dựng hình ảnh một chính khách ôn hòa, thực dụng. Theo giới quan sát, chiến thuật này nhằm ngầm tạo khác biệt với các đối thủ Dân chủ đặt nặng thông điệp cấp tiến.
Ông có nền tảng chính trị ở miền nam California, khác với bốn nhiệm kỳ thống đốc gần nhất của Jerry Brown và Gavin Newsom, hai chính khách đều đến từ Vùng Vịnh San Francisco. Villaraigosa từng tranh cử thống đốc năm 2018 nhưng chỉ về thứ ba ở vòng sơ bộ.
Tin Gốc: Vnexpress

Thế hệ những nhà ngoại giao đi trước của hai nước - những người sinh ra trong thời kỳ khói lửa, trực tiếp cầm súng hoặc chứng kiến những giờ phút quan trọng của năm 1975 - đã phần nào hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình. Họ đã bắc những nhịp cầu đầu tiên, biến cựu thù thành đối tác, rồi thành Đối tác chiến lược toàn diện.
Giờ đây, khi những bóng dáng cũ dần lùi xa chính trường, trọng trách vun đắp mối quan hệ này đặt lên vai thế hệ sau năm 1975.
Đây là thế hệ không mang trên mình vết sẹo trực tiếp của chiến tranh, nhưng gánh vác một trọng trách to lớn: định vị mối quan hệ song phương Việt - Mỹ trong một thế giới đầy biến động, nơi trí tuệ nhân tạo (AI), chuỗi cung ứng, địa chính trị và an ninh phi truyền thống đang vẽ lại bản đồ quyền lực toàn cầu.
Sự xuất hiện của các nhà chính trị ngoại giao Mỹ sinh sau năm 1975 đánh dấu một bước ngoặt: từ ngoại giao "hậu chiến" sang ngoại giao "tương lai".
Đối với họ, Việt Nam không còn là một cái tên gắn liền với một cuộc chiến tranh xa xôi, mà là một đối tác quan trọng ở khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, một nền kinh tế bùng nổ và là phần quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu hiện nay.
Tôi vẫn còn nhớ cách đây vài năm, Elbridge Colby, sinh năm 1979, người hiện giữ chức Thứ trưởng Bộ Chiến tranh Mỹ phụ trách chính sách, đã có một chuyến thăm và phát biểu tại TP.HCM.
Lúc đó Elbridge đang làm cho một tổ chức nghiên cứu chính sách của Mỹ có tên Center for a New American Security (CNAS) sau khi rời Bộ Quốc phòng Mỹ trong nhiệm kỳ 1 của Tổng thống Donald Trump.
Trong buổi tối hôm đó, tôi và Colby ngồi trên tầng thượng của khách sạn Caravelle, nhâm nhi một ly bia lạnh và cùng phóng tầm mắt về phía Nhà hát Thành phố.
Caravelle không chỉ là một khách sạn hạng sang, đó là chứng nhân lịch sử, nơi đặt văn phòng của các hãng tin quốc tế và là điểm đóng quân của nhiều quan chức Mỹ trước năm 1975, trong đó có ông nội của Elbridge - William Colby, cựu Giám đốc CIA - từng là Trưởng trạm CIA tại Sài Gòn.
Ngồi tại nơi mà ông nội mình từng trú ngụ, Elbridge Colby đã bất chợt hỏi tôi: "Liệu người Việt Nam các bạn hiện còn ghét cái tên Colby vì những gì ông nội tôi đã làm ở Việt Nam không?". Tôi cười lớn và đáp: "Chúng tôi trân trọng lịch sử, nhưng chúng tôi không sống trong đó. Người Việt Nam chúng tôi luôn hướng về tương lai".
Tôi hiểu rằng câu hỏi của Colby phản ánh một nỗi trăn trở cũ của người Mỹ, đặc biệt những người có người thân từng tham gia chiến tranh Việt Nam, mà chúng ta hay gọi là cuộc kháng chiến chống Mỹ.
Nhiều thập kỷ qua, quan hệ Việt - Mỹ được vận hành bởi một mối quan tâm đặc biệt: sự hòa giải. Những người "lính già" như John McCain, John Kerry đã từng dành cả đời để kéo hai quốc gia ra khỏi hố sâu của quá khứ.
Tuy nhiên chúng ta không thể chỉ ngồi lại và nói về lịch sử mãi được. Trong những buổi nói chuyện cà phê hay buổi ăn trưa của tôi với các nhà ngoại giao Mỹ, chúng tôi thường nói về an ninh khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, đa dạng hóa chuỗi cung ứng, về việc làm thế nào để Việt Nam trở thành một cứ điểm quan trọng trong ngành bán dẫn, cũng như cách Việt Nam ứng phó trong bối cảnh địa chính trị đầy rủi ro.
Một nhà ngoại giao Mỹ trẻ tuổi khác ở TP.HCM chỉ mới tới thành phố năng động này hơn một năm trước, hào hứng kể với tôi rằng anh đã mua một chiếc xe hơi để có thể tự lái xe đi du lịch xuyên Việt. Anh kể về những nơi ở Việt Nam mà anh đã đi qua, thậm chí tới cả những nơi mà người Việt như tôi chưa từng đặt chân tới.
Những người như thế hệ của Elbridge Colby đều hiểu rằng vì không trực tiếp trải qua xung đột, những nhà ngoại giao sinh sau cuộc chiến ít bị ràng buộc bởi những cảm xúc cá nhân hay những tranh cãi ý thức hệ cũ kỹ. Điều này cho phép họ tiếp cận các vấn đề song phương bằng một sự thực dụng (pragmatism) cao độ.
Giờ đây, đối với nước Mỹ, Việt Nam không còn là tên của một cuộc chiến, một nỗi đau chia rẽ nước Mỹ, hay những thước phim đen trắng về trực thăng trên nóc tòa đại sứ; mà là "một đối tác chiến lược toàn diện" không thể thiếu để duy trì một khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương mở và tự do.
Còn đối với Việt Nam, Mỹ không còn là "kẻ thù cũ", mà là một thị trường xuất khẩu khổng lồ cho hàng hóa Việt Nam, công nghệ hàng đầu thế giới, cũng như một đối tác an ninh đáng tin cậy.
Trong thập kỷ qua, tăng trưởng GDP của Việt Nam liên tục nằm trong nhóm cao nhất thế giới. Quốc gia này đã trở thành một mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu, một điểm đến "Trung Quốc cộng một" cho các gã khổng lồ công nghệ như Samsung, Apple hay Intel.
Nhưng đối với thế hệ hậu chiến, sức hút không chỉ nằm ở chi phí nhân công hay vị trí chiến lược. Đó còn là nguồn năng lượng lạc quan của một đất nước nơi khoảng 70% dân số sinh sau khi chiến tranh kết thúc. Họ nhìn nhận Việt Nam là một thực thể kinh tế năng động, một đối tác chiến lược tại Đông Nam Á, chứ không phải là một "vết thương tâm lý" cần được chữa lành.
Thế hệ trước ưu tiên việc tìm kiếm quân nhân mất tích (POW/MIA) và tẩy độc dioxin - những vấn đề vẫn quan trọng nhưng mang tính di sản, thế hệ nhà ngoại giao mới đang dần tập trung thẳng vào bán dẫn, sự dẻo dai của chuỗi cung ứng, AI và an ninh khu vực.
Trong một thời gian dài, chúng ta đã mắc kẹt trong cái mà các nhà phân tích gọi là "lăng kính song phương hẹp". Mọi cuộc đối thoại đều xoay quanh việc xử lý dioxin, tìm kiếm hài cốt (MIA) và những cử chỉ ngoại giao nhằm chứng minh rằng hai kẻ thù cũ đã thực sự là bạn.
Do đó điểm nhấn quan trọng nhất trong tầm nhìn của thế hệ nhà ngoại giao mới chính là việc đặt Việt Nam vào trung tâm của cấu trúc an ninh và kinh tế khu vực.
Việc nâng cấp quan hệ lên Đối tác chiến lược toàn diện vào năm 2023 không chỉ là một danh xưng. Nó phản ánh một thực tế mới: Việt Nam là một "điểm nút thắt" quan trọng trong chiến lược chuyển dịch chuỗi cung ứng khỏi những rủi ro địa chính trị.
Bên cạnh đó an ninh phi truyền thống - từ biến đổi khí hậu tại Đồng bằng sông Cửu Long cho đến an ninh y tế sau đại dịch COVID-19 - cũng đang trở thành những ưu tiên hàng đầu.
Anh Justin, một nhà ngoại giao Mỹ mà tôi rất quý, từng nhận xét: "Khi chúng tôi tặng các tủ lạnh bảo quản vắc xin hay hỗ trợ công nghệ chuyển đổi năng lượng sạch, đó không chỉ là viện trợ. Đó là sự đầu tư vào một tương lai chung. Chúng tôi luôn muốn một Việt Nam tự cường và thịnh vượng".
Mối quan hệ này không còn là câu chuyện song phương tách biệt, nó được đặt trong cấu trúc an ninh đa phương tại Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương. Thế hệ mới hiểu rằng một Việt Nam tự cường về quốc phòng và độc lập về ngoại giao là lợi ích chiến lược của Mỹ, và ngược lại, sự hiện diện ổn định của Mỹ là yếu tố cân bằng cho cấu trúc an ninh khu vực.
Trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung ngày càng căng thẳng, Việt Nam đang trở thành một hình mẫu của sự thích ứng.
Thế hệ nhà ngoại giao Mỹ mới nhìn nhận Việt Nam là một mắt xích quan trọng trong chiến lược "Friend-shoring" (dịch chuyển sản xuất sang các nước thân thiện) của Mỹ. Việc vun đắp quan hệ giờ đây nằm ở việc Việt Nam có thể tham gia sâu đến đâu vào hệ sinh thái bán dẫn và công nghệ cao của Intel, Nvidia hay Apple.
Những khuôn mặt nhà ngoại giao Mỹ của Đảng Dân chủ từng trực tiếp "cầm lái" chính sách của Mỹ tại khu vực như cựu cố vấn an ninh quốc gia Mỹ Jake Sullivan, sinh năm 1976, hay Mira Rapp-Hooper, sinh năm 1984, cựu trợ lý đặc biệt Tổng thống Biden hay cho đến Elbridge Colby của Đảng Cộng hòa đều nhìn nhận Việt Nam là một quốc gia có tiếng nói trọng yếu trong việc duy trì tự do hàng hải tại Biển Đông, cũng như đối phó các thách thức về biến đổi khí hậu và an ninh phi truyền thống tại hạ lưu sông Mekong.
Việt Nam và Mỹ đang xây dựng một mối quan hệ đa lớp và toàn diện. Một mặt, đó là sự hợp tác quốc phòng ngày càng được thể chế hóa với những chuyến thăm của tàu sân bay Mỹ, cũng như hỗ trợ phòng chống thiên tai.
Mặt khác, đó là những thỏa thuận về việc giúp đỡ đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao cho ngành công nghệ Việt Nam.
Mới nhất vào cuối tháng 2-2026, Tổng thống Donald Trump cho biết sẽ chỉ đạo các cơ quan liên quan sớm đưa Việt Nam ra khỏi danh sách kiểm soát xuất khẩu chiến lược D1-D3 (phân loại các quốc gia theo mức độ hạn chế khi doanh nghiệp Mỹ xuất khẩu hàng hóa, phần mềm và công nghệ nhạy cảm), qua đó sẽ mở đường để Việt Nam tiếp cận với các công nghệ tiên tiến.
Quá khứ không thể thay đổi, nhưng rõ ràng chúng ta hoàn toàn có thể cùng nhau định hình tương lai. Đó cũng là sự can đảm từ cả hai bên để từ bỏ những định kiến cũ, để chấp nhận rằng sự khác biệt về hệ thống chính trị không phải là rào cản cho một tương lai chung.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

Những ngày qua, giữa biến động của thị trường năng lượng toàn cầu do cuộc chiến ở Iran gây ra, UAE cũng đã chính thức rút khỏi OPEC kể từ ngày 1.5.
Việc UAE rời khỏi OPEC là vấn đề không quá bất ngờ dù thời điểm diễn ra khác với dự báo trước đó. Trước xung đột Iran, OPEC tuy chỉ chiếm hơn 30% tổng lượng khai thác dầu thô toàn cầu, nhưng nhóm này chiếm đến hơn 70% tổng trữ lượng dầu thô toàn cầu. Trong đó, trước khi bùng nổ chiến sự Iran, UAE khai thác khoảng 3,5 - 4 triệu thùng dầu/ngày, chiếm khoảng 15% tổng sản lượng khai thác của OPEC.
Thực tế, từ vài năm qua, UAE đã có nhiều bất đồng với nhiều thành viên khác trong OPEC. Vấn đề bắt nguồn từ chiến lược cắt giảm sản lượng của nhóm. Gần 10 năm qua, OPEC cùng một số đối tác khác (gồm Nga, Azerbaijan, Bahrain, Brunei, Kazakhstan, Malaysia, Mexico, Oman, South Sudan, Sudan) hình thành nhóm OPEC+ theo đuổi chiến lược hạn chế sản lượng khai thác để nâng giá dầu thô.
Tuy nhiên, nếu không tính các thời điểm khủng hoảng do chiến tranh hay căng thẳng chính trị gây ra, giá dầu vẫn không tăng lên mức kỳ vọng mà chiến lược vừa nêu đề ra. Điều này gây ảnh hưởng đến nguồn thu của một số thành viên, nên dẫn đến sự bất đồng. OPEC+ đã nhiều lần thống nhất nới lỏng việc hạn chế xuất khẩu nhưng vẫn không đủ tạo ra sự đồng thuận giữa các thành viên. Vì thế, UAE có thời điểm đơn phương tăng sản lượng khai thác. Trong khi OPEC muốn hạn chế sản lượng khai thác, thì UAE đã đặt mục tiêu đến năm 2030 sẽ tăng sản lượng khai thác lên mức 5 triệu thùng/ngày. Mới đây, UAE đã điều chỉnh kế hoạch đặt mục tiêu vừa nêu ngay trong năm 2027.
Trả lời Reuters về việc rời khỏi OPEC, Bộ trưởng Năng lượng UAE Suhail Mohamed al-Mazrouei cho biết quyết định được đưa ra sau khi xem xét các chiến lược năng lượng của đất nước, UAE cũng đã không thảo luận trước với nước nào khác.
Qua vài thập niên, OPEC thực tế mất dần ảnh hưởng đối với thị trường năng lượng toàn cầu. OPEC từ mức chiếm khoảng 50% tổng sản lượng khai thác toàn cầu, thì tỷ lệ này dần giảm xuống chỉ còn khoảng 30% gần đây.
Không những vậy, cuộc chiến Iran, nhất là khi eo biển Hormuz bị bóp chặt, thì OPEC cho thấy không có khả năng điều phối thị trường năng lượng toàn cầu và vai trò của tổ chức này còn bị Mỹ lấn lướt mạnh mẽ nhất là sau khi Washington can thiệp vào Venezuela hồi đầu năm nay. Vì thế, giới quan sát nhận định việc UAE rút khỏi OPEC có thể xem là phần bắt đầu cho hồi kết của tổ chức này. Thậm chí, sau UAE thì một số thành viên khác có thể cũng nối gót rời khỏi OPEC.
Thực tế vừa nêu khiến cho Ả Rập Xê Út, vốn đóng vai trò "đầu tàu" của OPEC, phải nỗ lực nhiều hơn để tổ chức này giữ vững vị thế.
Không chỉ vậy, việc UAE rời khỏi OPEC được kỳ vọng có thể giúp giá dầu nhanh chóng phục hồi hơn khi căng thẳng Iran kết thúc, eo biển Hormuz được mở cửa trở lại. Bởi khi đó, UAE không còn hạn chế khai thác theo thỏa thuận của OPEC nên nguồn cung có thể tăng nhanh hơn. Cụ thể hơn, nếu UAE thực hiện đúng kế hoạch thì chỉ riêng nước này có thể tăng lượng khai thác thêm 2 triệu thùng/ngày, tương đương 10% mức dầu thô được vận chuyển qua eo biển Hormuz trước khi bị đình trệ do chiến sự Iran.
Xa hơn, Tập đoàn tài chính JP Morgan (Mỹ) nhận định UAE còn có thể thu hút đầu tư lớn hơn từ các công ty Mỹ để tăng lượng khai thác mà không còn bị giới hạn bởi OPEC. Với kịch bản này, Washington còn tăng cường ảnh hưởng mạnh mẽ hơn nữa đối với thị trường năng lượng toàn cầu, nhất là sau khi Mỹ gần như đang kiểm soát ngành dầu mỏ của Venezuela. Như thế, cấu trúc thị trường năng lượng toàn cầu sẽ bị thay đổi đáng kể.
Tin Gốc: Thanh Niên

