Ngày 13/4, Thường trực Chính phủ họp về cắt giảm thủ tục hành chính, điều kiện, ngành nghề kinh doanh có điều kiện, phân cấp giải quyết thủ tục hành chính theo Kết luận 18 của Trung ương.
Tại cuộc họp, Thủ tướng Lê Minh Hưng khẳng định cải thiện môi trường kinh doanh, giảm thời gian, chi phí tuân thủ cho người dân, doanh nghiệp là nhiệm vụ góp phần giúp Việt Nam đạt mục tiêu tăng trưởng hai chữ số. Trong đó có những nhiệm vụ, giải pháp thuộc thẩm quyền của Chính phủ, các bộ ngành có thể làm ngay.
“Việc này đòi hỏi trách nhiệm rất lớn của các bộ ngành, các Bộ trưởng phải trực tiếp vào cuộc”, Thủ tướng yêu cầu, lưu ý không đợi hết quý II mà đến ngày 20/4, các bộ phải đề xuất với Thường trực Chính phủ, Chính phủ phương án cắt giảm, cải cách thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh. Văn phòng Chính phủ, Bộ Tư pháp tổng hợp, rà soát trình Chính phủ thông qua phương án trong tháng 4.
Theo các báo cáo tại cuộc họp, hiện còn 198 ngành, nghề kinh doanh có điều kiện và 4.603 điều kiện kinh doanh. Theo Kết luận 18 của Trung ương, các bộ ngành phải rà soát, cắt giảm 30% số ngành, nghề kinh doanh có điều kiện (khoảng 60 ngành), đồng thời loại bỏ toàn bộ các điều kiện kinh doanh không cần thiết.
Cùng với đó, cơ quan quản lý phải giảm 50% thời gian thực hiện, chi phí tuân thủ thủ tục hành chính cho người dân, doanh nghiệp. Các bộ ngành đẩy mạnh phân cấp, bảo đảm cấp bộ chỉ trực tiếp thực hiện không quá 30% tổng số thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực quản lý.
Thủ tướng sẽ phân công các Phó thủ tướng, Bộ Tư pháp, Công an, Nội vụ, Văn phòng Chính phủ làm việc trực tiếp với các bộ ngành về phương án cải cách, cắt giảm thủ tục hành chính, điều kiện, ngành nghề kinh doanh có điều kiện.
Lãnh đạo Chính phủ cũng giao Bộ Tư pháp, Công an, Nội vụ, Văn phòng Chính phủ đề xuất thủ tục, điều kiện phải cắt giảm, những nội dung cần tăng áp dụng công nghệ mới, chuyển đổi số để tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp. Các Bộ trưởng phải trực tiếp chỉ đạo, rà soát kỹ lưỡng các thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền để người dân, doanh nghiệp dễ hiểu, dễ làm.
“Những điều kiện kinh doanh không cần thiết đương nhiên phải cắt giảm, nhưng điều kiện khác cũng phải rà soát”, ông nói. Thủ tướng cũng lưu ý số lượng quan trọng nhưng bản chất, nội hàm bên trong các điều kiện còn quan trọng hơn. Do đó, việc cải cách cần “thực sự cắt giảm được thời gian, chi phí tuân thủ”.
Thủ tướng yêu cầu Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ làm tốt vai trò “gác cửa”, kiểm soát chặt thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh, chịu trách nhiệm nếu để lọt những quy định không đáp ứng yêu cầu. Trong quá trình cắt giảm, đơn giản hóa, các cơ quan cần lắng nghe, tiếp thu kiến nghị của doanh nghiệp, hiệp hội.
Ngoài ra, các bộ phải hoàn thiện cơ sở dữ liệu, tái cấu trúc quy trình theo hướng đẩy mạnh tái sử dụng dữ liệu, thông tin trong giải quyết thủ tục hành chính. Theo đó, người dân, doanh nghiệp chỉ phải cung cấp thông tin 1 lần, cán bộ làm thủ tục phải tra cứu trên cơ sở dữ liệu đã có.
Tại hồ sơ thẩm định dự án sửa đổi Luật Điện lực gửi Bộ Tư pháp, Bộ Công Thương đề xuất nghiên cứu áp dụng biểu giá điện theo thời gian sử dụng trong ngày (biểu giá TOU) đối với khách hàng sinh hoạt đủ điều kiện, thay vì áp dụng đại trà.
Biểu giá TOU tính tiền điện theo từng khung giờ (cao điểm, bình thường, thấp điểm) thay vì chỉ theo sản lượng tiêu thụ. Cơ chế này nhằm khuyến khích chuyển dịch nhu cầu sử dụng điện sang giờ thấp điểm, qua đó góp phần điều tiết phụ tải và nâng cao hiệu quả vận hành hệ thống điện.
Hiện biểu giá điện theo thời gian sử dụng đã được áp dụng đối với khách hàng sản xuất, kinh doanh, với mức giá được xác định theo từng khung giờ và cấp điện áp sử dụng. Hộ gia đình vẫn áp dụng biểu giá điện sinh hoạt theo bậc thang, thay vì tính giá theo khung giờ như khách hàng sản xuất, kinh doanh.
Tại họp báo thường kỳ quý II của Bộ Công Thương chiều 7/7, phóng viên Dân trí đặt câu hỏi về lý do đề xuất áp dụng giá điện theo khung giờ đối với hộ gia đình đáp ứng đủ điều kiện kỹ thuật; việc Bộ đã tính toán, tiếp thu các ý kiến lo ngại về nguy cơ tăng tiền điện cũng như lộ trình triển khai khi đáp ứng đủ điều kiện kỹ thuật.
Liên quan đến vấn đề này, ông Bùi Quốc Hùng, Phó Cục trưởng Cục Điện lực, cho biết trước đây hệ thống điện được tính toán với hai khung giờ cao điểm là cao điểm buổi trưa và cao điểm buổi tối.
"Tuy nhiên, thời gian qua cơ cấu nguồn điện đã có nhiều thay đổi, đặc biệt khi tỷ trọng năng lượng tái tạo, nhất là điện mặt trời, tăng nhanh và tham gia vào hệ thống điện", ông nói.
Theo ông Hùng, vào buổi trưa, sản lượng điện mặt trời phát lên hệ thống rất lớn, góp phần đáp ứng đáng kể nhu cầu phụ tải trong khung giờ này. Vì vậy, hiện nay áp lực cung ứng điện chủ yếu tập trung vào cao điểm buổi tối.
"Hiện cơ chế giá điện theo thời gian sử dụng chưa áp dụng đối với khách hàng sử dụng điện sinh hoạt. Tuy nhiên, theo tính toán của Bộ Công Thương, nhóm khách hàng sinh hoạt có tiềm năng điều chỉnh phụ tải tương đối lớn", lãnh đạo Cục Điện lực nói.
Chính vì vậy, theo ông, trong quá trình nghiên cứu sửa đổi các quy định của Luật Điện lực, Bộ Công Thương đã nghiên cứu, tính toán khả năng áp dụng cơ chế giá điện theo thời gian sử dụng đối với khách hàng sinh hoạt vào thời điểm phù hợp.
Tuy nhiên, đại diện Cục Điện lực khẳng định việc áp dụng sẽ chỉ xem xét đối với những trường hợp đáp ứng đủ các điều kiện, chẳng hạn như có mức sử dụng điện lớn, công suất sử dụng thiết bị cao, đồng thời đáp ứng các yêu cầu về hạ tầng kỹ thuật như công tơ đo đếm có khả năng ghi nhận sản lượng điện theo từng khung giờ và các điều kiện kỹ thuật liên quan...
Ông Hùng cho biết, đây mới là nội dung đang trong quá trình nghiên cứu, xây dựng chính sách. Trước khi triển khai, Bộ Công Thương sẽ tiếp tục đánh giá đầy đủ tác động đối với người dân, doanh nghiệp và toàn xã hội, đồng thời xem xét mức độ đáp ứng của hạ tầng kỹ thuật cũng như khả năng triển khai trên thực tế.
"Trên cơ sở đó, cơ quan quản lý mới quyết định thời điểm áp dụng phù hợp, bảo đảm hài hòa giữa yêu cầu vận hành hệ thống điện và quyền lợi của khách hàng sử dụng điện sinh hoạt", ông nói.
Trước đó, Bộ Công Thương đã ban hành Quyết định 963 quy định khung giờ cao điểm, thấp điểm và giờ bình thường của hệ thống điện quốc gia. Theo đó, giờ cao điểm được áp dụng từ 17h30 đến 22h30 các ngày từ thứ hai đến thứ bảy; riêng chủ nhật không áp dụng giờ cao điểm.
Giờ bình thường được tính từ 6h đến 17h30 và từ 22h30 đến 24h các ngày từ thứ hai đến thứ bảy; riêng chủ nhật kéo dài từ 6h đến 24h. Trong khi đó, giờ thấp điểm được áp dụng từ 0h đến 6h tất cả ngày trong tuần.
Theo báo cáo thường niên Super Hi International vừa nộp Sở Giao dịch Chứng khoán Mỹ (SEC), công ty này đạt doanh thu hơn 840 triệu USD cả năm ngoái, tăng gần 8%. Đơn vị vận hành chuỗi nhà hàng lẩu Haidilao tại thị trường quốc tế (trừ Trung Quốc) lãi trước thuế khoảng 49,5 triệu USD, tăng xấp xỉ 50% so với 2024.
Việt Nam là thị trường nước ngoài mang lại doanh thu cao thứ 4 trong năm ngoái của Super Hi International, sau Singapore, Mỹ và Malaysia. Công ty này ghi nhận doanh thu tại Việt Nam hơn 93,9 triệu USD, tương đương hơn 2.400 tỷ đồng - tăng gần 7% so với 2024. Như vậy, bình quân mỗi ngày chuỗi lẩu Haidilao thu hơn 6,5 tỷ đồng mỗi ngày tại Việt Nam.
Chuỗi lẩu này gia nhập thị trường Việt Nam từ năm 2019 với nhà hàng đầu tiên tại tòa tháp Bitexco ở TP HCM. Đến nay, Haidilao có 17 nhà hàng tại Việt Nam, gồm 6 cơ sở ở Hà Nội, 10 tại TP HCM và 1 tại Nha Trang.
Thương hiệu Haidilao được ông Trương Dũng thành lập năm 1994 tại TP Giản Dương, tỉnh Tứ Xuyên. Nhà hàng lẩu của ông đã nhanh chóng qua mặt các nhà hàng khác trong khu vực. Từ ban đầu chỉ 4 bàn, nhà hàng nhanh chóng mở rộng nguyên tầng một tòa nhà với trang trí chỉn chu và có máy lạnh.
Năm 1998, ông Trương Dũng mở được nhà hàng thứ hai. Đến hết 2025, Super Hi International có 109 nhà hàng Haidilao trên thế giới. Công ty này IPO vào năm 2018 và cũng giúp nhà sáng lập trở thành tỷ phú USD.
Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 284 quy định xử phạt vi phạm hành chính về tài sản mã hóa và thị trường tài sản mã hóa.
Nghị định quy định các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài sản mã hóa và thị trường tài sản mã hóa, bao gồm vi phạm về chào bán, phát hành, tổ chức thị trường giao dịch, cung cấp dịch vụ, giao dịch tài sản mã hóa; quản lý dòng tiền của nhà đầu tư nước ngoài; phòng, chống rửa tiền; bảo vệ dữ liệu và thông tin tài khoản của nhà đầu tư.
Cụ thể, mức phạt tối đa đối với tổ chức là 200 triệu đồng, đối với cá nhân là 100 triệu đồng. Trường hợp cá nhân thực hiện hành vi vi phạm tương tự tổ chức thì mức phạt bằng một nửa so với tổ chức.
Đối với hoạt động phát hành tài sản mã hóa, tổ chức phát hành vi phạm quy định về sở hữu nước ngoài đối với tài sản làm cơ sở phát hành bị phạt từ 70-100 triệu đồng. Hành vi cung cấp thông tin không chính xác, không đầy đủ hoặc gây hiểu nhầm cho cơ quan quản lý và nhà đầu tư bị phạt từ 100-150 triệu đồng.
Đặc biệt, mức phạt từ 150-200 triệu đồng được áp dụng đối với các hành vi như chào bán, phát hành tài sản mã hóa không đúng đối tượng; phát hành khi chưa đáp ứng đủ điều kiện theo quy định; không công bố bản cáo bạch hoặc không thực hiện đúng các nội dung đã công bố.
Quảng cáo, giao dịch trái quy định cũng bị xử phạt nghiêm
Nghị định cũng quy định mức phạt từ 180-200 triệu đồng đối với tổ chức thực hiện hoạt động cung cấp dịch vụ liên quan đến tài sản mã hóa khi chưa được cấp giấy phép hoặc quảng cáo, tiếp thị các dịch vụ này khi chưa được cơ quan có thẩm quyền cho phép.
Đối với nhà đầu tư trong nước, hành vi giao dịch tài sản mã hóa không thông qua tổ chức được Bộ Tài chính cấp phép sẽ bị phạt từ 30-50 triệu đồng. Trường hợp giao dịch các tài sản mã hóa chỉ được phép chào bán cho nhà đầu tư nước ngoài sẽ bị xử phạt từ 70-100 triệu đồng.
Ngoài ra, tổ chức cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa không thực hiện xác minh danh tính nhà đầu tư khi mở tài khoản bị phạt từ 50-70 triệu đồng.
Đáng chú ý, hành vi thu thập, lưu trữ, mua bán, trao đổi hoặc công khai trái phép dữ liệu, thông tin tài khoản tài sản mã hóa của nhà đầu tư có thể bị xử phạt ở mức cao nhất từ 150-200 triệu đồng.
Nghị định số 284 có hiệu lực từ ngày 1/9 và được áp dụng trong thời gian thực hiện thí điểm thị trường tài sản mã hóa theo Nghị quyết số 05/2025 của Chính phủ.
Tài sản mã hóa là một loại tài sản số sử dụng công nghệ mã hóa hoặc công nghệ số có chức năng tương tự để xác thực đối với tài sản trong quá trình tạo lập, phát hành, lưu trữ, chuyển giao. Tài sản mã hóa không bao gồm chứng khoán, các dạng số của tiền pháp định và tài sản tài chính khác theo quy định của pháp luật về dân sự, tài chính.