Sáng nay, tại Bắc Kinh, trong khuôn khổ chuyến thăm Nhà nước của Tổng bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Bộ Nông nghiệp và Môi trường Việt Nam và Tổng cục Hải quan Trung Quốc (GACC) ký nghị định thư về yêu cầu kiểm dịch thực vật đối với bưởi và chanh xuất khẩu từ Việt Nam.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết, kết quả này là thành quả của quá trình đàm phán kỹ thuật kéo dài từ năm 2019 giữa cơ quan chuyên môn hai nước. Việc ký kết được đánh giá là bước tiến trong hợp tác nông nghiệp song phương, đồng thời thể hiện xu hướng mở cửa thị trường theo hướng chính ngạch, minh bạch và tuân thủ tiêu chuẩn quốc tế.
Nghị định thư cho biết các vùng trồng và cơ sở đóng gói bưởi, chanh xuất khẩu phải được đăng ký và được phía Việt Nam cùng GACC phê duyệt. Vùng trồng phải áp dụng thực hành nông nghiệp tốt (GAP), quản lý dịch hại tổng hợp (IPM), thực hiện các biện pháp kiểm soát sinh vật gây hại như bao trái bưởi trước thu hoạch tối thiểu 60 ngày, đặt bẫy ruồi đục quả.
Theo thỏa thuận, bưởi và chanh xuất khẩu phải đến từ các vùng trồng và cơ sở đóng gói đã đăng ký, được Bộ Nông nghiệp và Môi trường; Tổng cục Hải quan Trung Quốc (GACC) phê duyệt, đồng thời đáp ứng yêu cầu kiểm soát dịch hại. Quy trình sản xuất, thu hoạch và đóng gói phải đảm bảo phân loại, làm sạch, loại bỏ quả hư hỏng và tạp chất trước khi xuất khẩu.
Việt Nam hiện có lợi thế lớn với hai mặt hàng này, đặc biệt là bưởi với diện tích khoảng 106.000 ha. Những năm gần đây, sản xuất tiếp tục mở rộng, chất lượng được cải thiện, phù hợp nhu cầu thị trường.
Trung Quốc là thị trường tiêu thụ trái cây lớn, nhu cầu ổn định. Sau nhiều mặt hàng đã xuất khẩu chính ngạch thành công, bưởi và chanh được kỳ vọng sớm mở rộng thị phần nhờ lợi thế về nguồn cung và chất lượng.
Việc ký Nghị định thư không chỉ mở thêm đầu ra cho nông sản mà còn tạo áp lực nâng chuẩn sản xuất, kiểm soát chất lượng và truy xuất nguồn gốc, hướng tới xuất khẩu bền vững.
Thời gian tới, Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ phối hợp với địa phương cùng doanh nghiệp triển khai quy định, hoàn thiện vùng trồng và cơ sở đóng gói, đảm bảo đáp ứng yêu cầu phía Trung Quốc.
Ông Nguyễn Thanh Bình, Chủ tịch Hiệp hội Rau quả Việt Nam, cho biết việc mở cửa thị trường Trung Quốc giúp nâng vị thế bưởi Việt, đồng thời đưa thị trường này trở thành điểm đến thứ 5 của mặt hàng. Năm 2025, xuất khẩu bưởi đạt khoảng 70 triệu USD và được kỳ vọng tiếp tục tăng khi mở rộng thêm thị trường lớn.
Năm ngoái, kim ngạch xuất khẩu rau quả đạt hơn 8,56 tỷ USD, tăng gần 20% so với năm 2024. Riêng thị trường Trung Quốc mang về khoảng 5,5 tỷ USD, chiếm hơn 64% tổng giá trị xuất khẩu và trở thành động lực quyết định cho tăng trưởng chung của toàn ngành.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và phu nhân đang có chuyến thăm cấp nhà nước tại Trung Quốc ngày 14-17/4, theo lời mời của Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình và phu nhân. Đây là chuyến thăm Trung Quốc của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm ngay sau khi đảm nhiệm cương vị mới.
Năm 2025, Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam, còn Việt Nam là đối tác thương mại lớn nhất của Trung Quốc trong ASEAN và là đối tác thương mại thứ tư của nước này trên thế giới theo tiêu chí quốc gia.
Thông tin này được Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) nêu trong báo cáo về thực trạng quản trị và cơ cấu tổ chức của tập đoàn năm 2025 mới đây.
Năm ngoái, doanh thu hợp nhất của tập đoàn này đạt khoảng 645.195 tỷ đồng, tăng 10,3% so với 2024, trong đó doanh thu Công ty mẹ - EVN đạt 543.779 tỷ đồng, tăng 11,8%.
Hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty mẹ - EVN năm 2025 có lợi nhuận vượt chỉ tiêu được Bộ Tài chính giao, góp phần giảm lỗ sản xuất kinh doanh giai đoạn 2022-2023.
Kết quả kinh doanh trên giúp thu nhập của người lao động EVN tăng so với năm trước. Tại công ty mẹ, tổng số lao động bình quân là 3.593 người. Thu nhập bình quân của người lao động đạt khoảng 479,2 triệu đồng/người/năm, tương đương gần 40 triệu đồng/tháng. Tuy nhiên, thu nhập thực tế của từng nhân sự phụ thuộc vào vị trí, kinh nghiệm và hiệu quả công việc...
Về tiền lương và thu nhập, trong báo cáo gần đây gửi Bộ Tài chính, EVN cho biết đã ban hành Quy chế tiền lương, thù lao và tiền thưởng, theo hướng tiền lương được quản lý gắn với năng suất lao động và hiệu quả sản xuất, kinh doanh của từng đơn vị. Thu nhập của người lao động được chi trả theo vị trí việc làm, mức độ đóng góp và kết quả hoạt động của đơn vị.
Tập đoàn này cũng thực hiện phân cấp cho các đơn vị xây dựng và phân phối quỹ tiền lương chung, bảo đảm chi trả tiền lương gắn với hiệu quả sản xuất kinh doanh, không phân biệt nguồn hình thành quỹ lương.
Theo tập đoàn này, việc chi trả tiền lương, tiền làm thêm giờ, làm việc ban đêm và các chế độ liên quan được thực hiện đầy đủ, kịp thời theo quy định pháp luật. Đối với người lao động thôi việc, các đơn vị thực hiện đúng quy trình chấm dứt hợp đồng và giải quyết chế độ theo quy định.
Năm 2025, nhờ kết quả sản xuất kinh doanh có lãi, thu nhập bình quân của người lao động EVN được cải thiện và tăng so với năm 2024.
EVN được thành lập theo Quyết định 148/2006 của Thủ tướng và hiện là doanh nghiệp nòng cốt trong lĩnh vực sản xuất, truyền tải, phân phối và điều độ hệ thống điện quốc gia. Tập đoàn hiện sở hữu 17 công ty con và 29 công ty liên kết.
Theo báo cáo tài chính riêng năm 2025 đã được kiểm toán, Công ty mẹ - EVN ghi nhận lợi nhuận sau thuế đạt 39.762 tỷ đồng, qua đó giảm số lỗ lũy kế xuống còn 5.611 tỷ đồng tính đến cuối năm 2025. Trong khi đó, báo cáo tài chính hợp nhất của toàn Tập đoàn Điện lực Việt Nam ghi nhận lợi nhuận sau thuế đạt 51.881 tỷ đồng, trong đó phần lợi nhuận thuộc về công ty mẹ là 50.511 tỷ đồng.
Số liệu hợp nhất bao gồm kết quả kinh doanh của các công ty con và công ty liên kết theo tỷ lệ sở hữu, đồng thời chưa phản ánh việc trích lập các quỹ tại đơn vị thành viên hoặc phương án phân phối lợi nhuận, do đó có sự khác biệt so với báo cáo riêng của công ty mẹ.
Tập đoàn này đề nghị khi đánh giá kết quả hoạt động cần phân biệt rõ giữa báo cáo tài chính riêng và báo cáo tài chính hợp nhất, trong đó số liệu của công ty mẹ đã được kiểm toán được sử dụng để phản ánh chính xác hơn tình hình sản xuất kinh doanh điện.
Theo bà Nguyễn Thị Thanh Nhàn, chuyên viên phân tích tại Công ty CP Đầu tư FinSuccess, cho biết nhóm hưởng lợi trực tiếp nhất là các doanh nghiệp sản xuất ethanol nhiên liệu (E100), gồm Công ty CP - Tổng công ty Lọc hóa dầu Việt Nam (BSR), Công ty CP Tập đoàn Hóa chất Đức Giang (DGC) và Công ty CP Đường Quảng Ngãi (QNS).
Lý do là xăng E10 chứa 10% E100. Nhu cầu ethanol sau năm 2026 ước đạt khoảng 1,2-1,5 triệu m³/năm, cao hơn nhiều so với công suất thiết kế của các nhà máy ethanol trong nước chỉ khoảng 500.000 - 600.000m³/năm. Sản lượng thực tế hiện vẫn thấp hơn đáng kể nhu cầu.
Trong nhóm này, BSR sở hữu nhà máy ethanol Dung Quất với công suất khoảng 100.000m³/năm. DGC có nhà máy công suất khoảng 63.000m³/năm. Còn QNS đang nghiên cứu dự án ethanol từ mật rỉ với công suất dự kiến khoảng 60.000m³/năm.
Bên cạnh đó, QNS và Công ty CP Thành Thành Công - Biên Hòa (SBT) cũng được đánh giá hưởng lợi gián tiếp khi nhu cầu nguyên liệu đầu vào cho sản xuất ethanol (mật rỉ, mật mía) tăng lên.
Theo bà Nhàn, ngoài mật rỉ, ethanol còn có thể được sản xuất từ sắn lát khô và ngô.
Riêng sắn lát khô hiện có tổng sản lượng khoảng 10 triệu tấn/năm, trong khi nhu cầu phục vụ sản xuất E100 tối đa khoảng 1,9 triệu tấn, tương đương chưa tới 20% sản lượng toàn quốc.
Điều này cho thấy nguồn nguyên liệu trong nước vẫn còn dư địa đáp ứng nhu cầu mở rộng sản xuất ethanol, qua đó hỗ trợ các doanh nghiệp trong chuỗi nông sản - đường - mật rỉ.
Ở nhóm cuối cùng, Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam (PLX) và Tổng công ty Dầu Việt Nam - Công ty CP (PVOIL - OIL) được kỳ vọng hưởng lợi nhờ hệ thống phân phối và phối trộn xăng dầu đã được đầu tư từ trước.
Hiện PLX có hơn 5.500 cửa hàng trong hệ thống phân phối, 7 điểm phối trộn và hơn 2.800 cửa hàng bán lẻ đã chuẩn bị hạ tầng E10. Trong khi đó, PVOIL có khoảng 950 cửa hàng trực thuộc, hơn 1.500 cửa hàng đại lý, 13 điểm pha chế E10 với tổng công suất gần 4 triệu m³/năm.
Theo bà Nhàn, khi E10 trở thành nhiên liệu bắt buộc, các doanh nghiệp nhỏ lẻ có ít hoặc không có trạm phối trộn sẽ gặp khó do chi phí đầu tư cao. Điều này có thể giúp PLX và OIL tiếp tục củng cố thị phần, đồng thời tạo thêm doanh thu từ dịch vụ phối trộn thuê cho các đầu mối chưa đủ hạ tầng.
VN-Index tăng hơn 7 điểm trong phiên 1-7, qua đó nối dài nhịp hồi phục và củng cố tín hiệu tăng ngắn hạn. Tuy nhiên điểm chung trong đánh giá của nhiều công ty chứng khoán là dòng tiền vẫn chưa đủ mạnh để xác nhận xu hướng bứt phá.
Theo Chứng khoán Tiên Phong (TPS), chỉ số đang duy trì cấu trúc tăng trong cả ngắn, trung và dài hạn. Nhịp điều chỉnh vừa qua được xem là quá trình cân bằng cung - cầu trước khi hướng đến các vùng kháng cự cao hơn.
TPS kỳ vọng VN-Index có thể hướng tới vùng 1.895 điểm, thậm chí 1.930 điểm nếu thuận lợi. Dù vậy, diễn biến của chỉ số vẫn phụ thuộc đáng kể vào nhóm cổ phiếu vốn hóa lớn, do đó nhà đầu tư cần theo dõi thêm độ rộng thị trường và thanh khoản.
Về thanh khoản, Chứng khoán ACB (ACBS) cho rằng có sự sụt giảm so với phiên trước và chưa tạo được sự bứt phá. Động lực tăng vẫn cần thêm sự xác nhận khi chỉ số tiến gần vùng 1.890 điểm.
Chứng khoán BIDV (BSC) đánh giá dòng tiền đã có dấu hiệu lan tỏa tích cực hơn với 11/18 nhóm ngành tăng điểm, nổi bật là dầu khí, công nghệ thông tin và bán lẻ. Tuy vậy, dòng tiền vẫn còn khá thận trọng và VN-Index tiếp tục trong quá trình kiểm định vùng đường trung bình động 50 phiên (SMA50).
Công ty cổ phần Phát triển Nông nghiệp Hòa Phát (HPA) vừa công bố báo cáo tài chính quý 1-2026. Trong đó, doanh thu thuần ghi nhận gần 1.764 tỉ đồng, giảm 11,3% so với cùng kỳ năm 2025. Lợi nhuận sau thuế đạt 345 tỉ đồng, giảm 15,2%.
Doanh nghiệp cho biết lợi nhuận sau thuế giảm sản lượng heo và sản lượng bò bán ra giảm, giá heo hơi giảm so với cùng kỳ.
Thuyết minh chi tiết cho thấy mảng thức ăn chăn nuôi heo vẫn là trụ cột chính khi đạt hơn 916 tỉ đồng, chiếm 51,9% tổng doanh thu thuần. Mảng chăn nuôi heo mang về gần 648 tỉ đồng, chiếm tỉ trọng 36,7%. Chăn nuôi bò và chăn nuôi gia cầm đem về lần lượt gần 429 tỉ đồng (chiếm 24,3%) và 179 tỉ đồng (chiếm 10,1%).
Như vậy trung bình mỗi ngày trong quý 1, Nông nghiệp Hòa Phát thu về 10,2 tỉ đồng từ thức ăn chăn nuôi, 7,2 tỉ đồng từ chăn nuôi heo, 4,8 tỉ đồng từ chăn nuôi bò và gần 2 tỉ đồng từ chăn nuôi gia cầm.
Xét về biên lợi nhuận sau thuế, mảng chăn nuôi heo vượt trội với tỉ suất 33%. Thức ăn chăn nuôi đem về doanh thu lớn nhưng tỉ suất lợi nhuận chỉ đạt 8,7%. Mảng chăn nuôi bò và gia cầm lần lượt có tỉ suất sinh lợi tương ứng 13,3% và 4%.
Sở dĩ mảng heo đạt hiệu suất cao là do Nông nghiệp Hòa Phát đã hoàn thiện mô hình chuỗi giá trị khép kín từ thức ăn chăn nuôi đến trang trại.
Doanh nghiệp đặt mục tiêu nâng quy mô đàn heo lên khoảng 900.000 con vào năm 2030 để chiếm lĩnh thêm thị phần trong bối cảnh ngành chăn nuôi đang dịch chuyển mạnh mẽ từ mô hình nhỏ lẻ sang chăn nuôi tập trung.
Tại ngày 31-3-2026, tài sản ngắn hạn của Nông nghiệp Hòa Phát ghi nhận ở mức 3.440 tỉ đồng, tăng gần 34% so với đầu năm. Trong đó, tiền mặt ở mức 1.371 tỉ đồng, tăng 92% và đầu tư tài chính ngắn hạn ở mức 1.058 tỉ đồng, tăng 86%.
Nguồn tiền này đến từ việc chào bán cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO), phát hành thành công 30 triệu cổ phiếu HPA với giá 41.900 đồng/cổ phiếu hồi tháng 1. Vốn điều lệ của công ty tăng từ 2.550 tỉ đồng lên 2.850 tỉ đồng. Thặng dư vốn cổ phần tại thời điểm cuối quý 1 ghi nhận gần 912 tỉ đồng.
Thời điểm cuối quý 1-2026, Nông nghiệp Hòa Phát đem 703 tỉ đồng (gấp 3,6 lần đầu năm) gửi ngân hàng kỳ hạn dưới 3 tháng với lãi suất 4,75%/năm. Công ty cũng gửi 1.058 tỉ đồng (gấp 1,9 lần đầu năm) kỳ hạn 3-12 tháng với lãi suất 4,75 - 9,05%.
Lượng tiền mặt lớn này giúp doanh nghiệp thu về 20,5 tỉ đồng từ lãi tiền gửi, tiền cho vay, gấp 2,3 lần quý 1-2025. Trong khi đó, nhờ giảm dư nợ các khoản vay nên lãi vay của Nông nghiệp Hòa Phát còn 9,5 tỉ đồng, giảm 20% so với cùng kỳ năm ngoái.