Ngày 16/4, UBND TP Đà Nẵng cho biết Phó chủ tịch thường trực Hồ Kỳ Minh đã ký quyết định phê duyệt kế hoạch quản lý và khai thác tài sản công trên địa bàn. Theo đó, Trung tâm Quản lý và Khai thác nhà Đà Nẵng được giao quản lý 119 cơ sở với tổng diện tích hơn 135.600 m2.
Việc khai thác các công sở này sẽ thông qua hình thức đấu giá hoặc niêm yết giá theo Nghị định 108. Mục đích sử dụng chính là làm trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp, thương mại và dịch vụ.
Thành phố ưu tiên các lĩnh vực khuyến khích xã hội hóa như giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao và môi trường. Ngoài ra, các vị trí phù hợp có thể được dùng làm kho bãi hoặc cửa hàng trưng bày sản phẩm.
Lãnh đạo thành phố cũng yêu cầu đơn vị quản lý nghiên cứu, bổ sung dự toán số tiền thu được từ việc cho thuê và lắp đặt công trình viễn thông trên các mặt bằng này để nộp ngân sách nhà nước.
Trước đó tại buổi họp báo quý I/2026, ông Hồ Ngọc Phương, Phó giám đốc Sở Tài chính Đà Nẵng, cho biết toàn thành phố có 828 cơ sở nhà đất công không còn nhu cầu sử dụng. 247 cơ sở trong số này sẽ được chuyển đổi công năng để phục vụ nhà ở công vụ, y tế, giáo dục và các hoạt động công cộng.
Đối với 581 cơ sở dôi dư còn lại, thành phố giao các trung tâm quỹ đất và UBND xã, phường quản lý. Tùy hiện trạng, các đơn vị sẽ cho thuê hoặc đề xuất phương án sử dụng. “Trường hợp không thể sử dụng sẽ tổ chức bán đấu giá để thu hồi ngân sách”, ông Phương nói.
Tại phiên họp Ban chỉ đạo Phòng chống tham nhũng, lãng phí giữa tháng 3, Bí thư Thành ủy Đà Nẵng Lê Ngọc Quang nhìn nhận nhiều trụ sở sau sáp nhập đang bỏ hoang, gây lãng phí lớn. Ví dụ tại khu vực huyện Hòa Vang (cũ), nhiều trụ sở thuế, kho bạc đã bàn giao cho địa phương nhưng chưa được đưa vào sử dụng.
“Phải khẩn trương có phương án xử lý dứt điểm cho từng trụ sở bỏ hoang, không để xảy ra thất thoát, tiêu cực trong bối cảnh sắp xếp tổ chức bộ máy”, ông Quang yêu cầu.
Kiểm tra thực tế tại một số phường, Chủ tịch UBND TP Đà Nẵng Nguyễn Mạnh Hùng lưu ý việc bố trí lại tài sản công cần linh hoạt. Những khu vực dân cư đông, nhu cầu cao phải ưu tiên quỹ đất dôi dư để mở rộng trường học và trạm y tế.
Tin Gốc: Vnexpress
Thời Sự
Quyền Bộ trưởng Hung Cao dự Chương trình Đối tác Thái Bình Dương: 'Giá trị là quan hệ và lòng tin'

Tối 22-6, UBND tỉnh Quảng Trị phối hợp với Đại sứ quán Hợp chúng quốc Hoa Kỳ tại Việt Nam tổ chức khai mạc Chương trình Đối tác Thái Bình Dương - Bạn bè Thái Bình Dương năm 2026 tại tỉnh Quảng Trị.
Chương trình được sự đồng ý về chủ trương của Thủ tướng Chính phủ, sự ủng hộ của Bộ Ngoại giao, Bộ Quốc phòng và Bộ Công an.
Buổi lễ có sự có mặt lãnh đạo tỉnh Quảng Trị, đại diện các Bộ, ngành của Việt Nam. Đặc biệt là sự có mặt của ông Hung Cao, Quyền Bộ trưởng Bộ Hải quân cùng nhiều tướng lĩnh thuộc lục quân, quân y của phía Hoa Kỳ.
Chương trình Đối tác Thái Bình Dương là chương trình hỗ trợ nhân đạo và ứng phó thảm họa đa quốc gia lớn nhất, được tổ chức hàng năm của Hải quân Hoa Kỳ tại khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương.
Mỗi năm, chương trình phối hợp cùng các quốc gia chủ nhà và đối tác để tăng cường khả năng hiệp đồng khu vực và năng lực ứng phó thảm họa, góp phần củng cố an ninh, ổn định và tình hữu nghị bền vững vùng Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương.
Chương trình cũng thúc đẩy sự hợp tác giữa các tổ chức quân sự và dân sự để nâng cao hiệu quả chuẩn bị và ứng phó khi xảy ra thảm họa.
Kể từ năm 2007 đến nay, Việt Nam đã cho phép Hoa Kỳ và các nước đối tác triển khai 12 Chương trình tại các tỉnh, thành phố: Đà Nẵng, Khánh Hòa, Bình Định, Nghệ An, Quảng Ngãi, Phú Yên.
Trong khi đó, chương trình Bạn bè Thái Bình Dương là chương trình do Bộ Tư lệnh Lục quân Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương và Bộ Tư lệnh Quân y Chiến trường 18 phối hợp tổ chức.
Đây là một chuỗi hoạt động nhân đạo và nâng cao năng lực mang tính liên hợp thông qua một loạt các hoạt động liên quan đến Hỗ trợ Nhân đạo và Cứu trợ Thiên tai trong các lĩnh vực công binh, y tế và quản lý thảm họa.
Năm 2026, hai chương trình trên sẽ được kết hợp thành Chương trình Đối tác Thái Bình Dương - Bạn bè Thái Bình Dương 2026 để tổ chức tại tỉnh Quảng Trị.
Chương trình bao gồm 25 hoạt động thuộc 4 nhóm: Hỗ trợ nhân đạo/phòng tránh thiên tai; Y tế; xây dựng và sửa chữa; giao lưu cộng đồng.
Phát biểu khai mạc chương trình, ông Hoàng Nam, Phó chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Quảng Trị nói Chương trình Đối tác Thái Bình Dương - Bạn bè Thái Bình Dương là biểu tượng sinh động của tinh thần sẻ chia, hợp tác và trách nhiệm đối với cộng đồng.
"Những chương trình hợp tác hiệu quả về tìm kiếm người mất tích, khắc phục hậu quả bom mìn, chất độc hóa học, chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người khuyết tật, nạn nhân da cam, giáo dục và phát triển cộng đồng đã mang lại những giá trị thiết thực cho các bên tham gia, cho người dân địa phương, đồng thời góp phần xây dựng lòng tin và tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước", ông Hoàng Nam nói.
Tại lễ khai mạc, ông Hung Cao, Quyền Bộ trưởng Bộ Hải quân Hoa Kỳ nói để hiểu được giá trị của chương trình này, chúng ta cần nhận thức được rằng điều cốt lõi luôn là con người.
Ông cũng bắt đầu bài phát biểu của mình với lời chào bằng một câu tiếng Việt khá dài.
"Khi tiếp tục xây dựng hạm đội của tương lai, chúng ta không chỉ cùng nhau chuẩn bị cho các cuộc khủng hoảng trong tương lai mà còn vun đắp những mối quan hệ tin cậy và hợp tác bền chặt hơn, đây là nền tảng cốt lõi của một khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương an toàn và ổn định.
Chương trình này không đơn thuần cung cấp sự hỗ trợ tạm thời; mục tiêu là tăng cường năng lực tại chỗ để các cộng đồng địa phương chuẩn bị tốt hơn để ứng phó trước những hậu quả của thiên tai", ông Hung Cao chia sẻ.
Cũng theo ông Hung Cao, giá trị của Chương trình Đối tác Thái Bình Dương không được đo bằng số lượng dự án hoàn thành hay số lượng bệnh nhân được điều trị. Giá trị lâu dài của chương trình nằm ở các mối quan hệ được xây dựng, chuyên môn được sẻ chia và lòng tin được hình thành giữa các đối tác từ rất lâu trước khi thảm họa xảy ra.
"Là những người trong quân ngũ, chúng tôi thường nghĩ về khả năng sẵn sàng chiến đấu thông qua tàu thuyền, máy bay, hệ thống vũ khí và các chứng nhận huấn luyện. Những yếu tố đó đều rất quan trọng.
Nhưng Chương trình Đối tác Thái Bình Dương nhắc nhở chúng ta rằng khả năng sẵn sàng còn bao gồm cả lòng tin. Lòng tin giữa các quốc gia. Lòng tin giữa các lực lượng quân đội. Lòng tin giữa các cộng đồng. Lòng tin giữa con người với con người. Lòng tin là nền tảng của công tác chuẩn bị ứng phó thảm họa", ông Hùng Cao khẳng định.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

Theo đặc phái viên TTXVN, ngày 28/5, trong khuôn khổ chuyến thăm chính thức Vương quốc Thái Lan, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã hội kiến Chủ tịch Quốc hội kiêm Chủ tịch Hạ viện Thái Lan Sophon Saram.
Chủ tịch Quốc hội Sophon Saram nhiệt liệt chào mừng Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm lần đầu tiên thăm Thái Lan trên cương vị mới và đánh giá cao chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đúng dịp hai nước kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao.
Chúc mừng kết quả tốt đẹp của cuộc hội đàm giữa Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Thủ tướng Anutin Charnvirakul, Chủ tịch Quốc hội Sophon Saram bày tỏ tin tưởng chuyến thăm sẽ góp phần thúc đẩy và làm sâu sắc hơn nữa quan hệ Đối tác Chiến lược toàn diện giữa hai nước.
Chúc mừng những thành tựu phát triển của Việt Nam sau 40 năm Đổi mới, Chủ tịch Quốc hội Thái Lan khẳng định thành tựu này có được là nhờ chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước Việt Nam với nền chính trị ổn định và nỗ lực không ngừng của nhân dân Việt Nam.
Cảm ơn sự đón tiếp trọng thị, thân tình mà Chủ tịch Quốc hội Sophon Saram dành cho Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chúc mừng những thành tựu phát triển mạnh mẽ và toàn diện của Thái Lan thời gian qua, đặc biệt trong duy trì tăng trưởng kinh tế ổn định, thúc đẩy chuyển đổi số, phát triển các ngành công nghiệp mũi nhọn, hiện đại hóa cơ sở hạ tầng và triển khai các chính sách hướng tới phát triển bền vững, đổi mới sáng tạo, nâng cao chất lượng đời sống người dân.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đánh giá định hướng phát triển của Thái Lan mang “tầm nhìn chiến lược” và những thành tựu trên đã góp phần nâng cao vai trò, vị thế của Thái Lan ở khu vực và trên thế giới, mở ra nhiều cơ hội hợp tác thiết thực giữa Thái Lan với các nước, trong đó có Việt Nam.
Hai nhà lãnh đạo vui mừng sau 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao, quan hệ Việt Nam - Thái Lan không ngừng phát triển mạnh mẽ và thực chất trên mọi lĩnh vực; nhấn mạnh việc nâng cấp quan hệ lên Đối tác Chiến lược toàn diện năm 2025 phản ánh mức độ tin cậy chính trị cao và quyết tâm của lãnh đạo hai nước trong việc đưa hợp tác song phương bước sang giai đoạn phát triển mới.
Hai bên cũng đánh giá cao vai trò cùng những đóng góp tích cực của quốc hội hai nước trong việc thúc đẩy hợp tác, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý và giám sát triển khai hiệu quả các thỏa thuận song phương.
Chủ tịch Quốc hội Thái Lan nhấn mạnh thời gian qua, lượng khách du lịch Thái Lan đến Việt Nam tăng trưởng mạnh; đồng thời, ngày càng nhiều doanh nghiệp hai nước mở rộng đầu tư, kinh doanh tại mỗi nước và bày tỏ mong muốn hai bên tiếp tục hỗ trợ, giúp đỡ các nhà đầu tư của nhau tham gia sâu rộng vào thị trường của nhau.
Trên cơ sở đó, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khẳng định mong muốn quan hệ hai nước nói chung và quan hệ giữa quốc hội hai nước sẽ ngày càng tốt đẹp, nhất là trong bối cảnh hai nước cùng bước vào giai đoạn phát triển mới, vì lợi ích của nhân dân hai nước, vì hòa bình, ổn định, hợp tác, phát triển ở khu vực và trên thế giới.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đề nghị Quốc hội Thái Lan tiếp tục quan tâm, ủng hộ và tạo điều kiện thuận lợi để triển khai hiệu quả các thỏa thuận hợp tác giữa hai nước, trong đó có Chương trình hành động triển khai quan hệ Đối tác Chiến lược toàn diện giai đoạn 2026-2031 vừa được ký kết tại cuộc hội đàm với Thủ tướng Anutin Charnvirakul, với nhiều nội dung hợp tác quan trọng trong các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, thương mại, đầu tư, khoa học công nghệ, kết nối hạ tầng, văn hóa, giáo dục và giao lưu nhân dân...
Chủ tịch Quốc hội Thái Lan nhất trí sẽ phối hợp với Quốc hội Việt Nam củng cố hợp tác; triển khai hiệu quả Thỏa thuận hợp tác giữa hai Quốc hội ký năm 2023; tăng cường trao đổi đoàn, tiếp xúc cấp cao và các cấp; đẩy mạnh hợp tác giữa các cơ quan chuyên môn, nhóm nghị sỹ hữu nghị, nữ nghị sỹ và nghị sỹ trẻ; đồng thời mở rộng chia sẻ kinh nghiệm trong các lĩnh vực như xây dựng pháp luật, chuyển đổi số, tăng trưởng xanh và ứng phó biến đổi khí hậu.
Hai bên khẳng định sẽ phối hợp chặt chẽ trong các cơ chế liên nghị viện khu vực và quốc tế như Liên minh Nghị viện Thế giới (IPU), Đại hội đồng Liên nghị viện ASEAN (AIPA) và Diễn đàn Nghị viện châu Á - Thái Bình Dương (APPF), góp phần củng cố đoàn kết Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), duy trì hòa bình, ổn định và phát triển bền vững ở khu vực.
Nhân dịp này, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã chuyển lời thăm hỏi và lời mời của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn mời Chủ tịch Quốc hội Thái Lan sớm thăm Việt Nam vào thời gian phù hợp. Chủ tịch Quốc hội Thái Lan cảm ơn lãnh đạo Việt Nam, vui vẻ nhận lời và bày tỏ mong muốn sớm thăm Việt Nam.
Tin Gốc: Dân Trí

Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, đại tá La Văn Cầu từ trần trưa 24/6, tại nhà riêng ở Hà Nội, hưởng thọ 94 tuổi. Lễ viếng và truy điệu được tổ chức sáng 30/6, tại Nhà tang lễ quốc gia, số 5 Trần Thánh Tông. Cuộc đời ông là biểu tượng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, sẵn sàng hy sinh để giành độc lập dân tộc.
Tuổi thơ 'sống cũng như chết'
Anh hùng La Văn Cầu sinh năm 1932, người dân tộc Tày, tại huyện Trùng Khánh (nay là xã Đình Phong), tỉnh Cao Bằng, gần biên giới Việt - Trung. Làng ông xung quanh là núi đá, ít ruộng, có hơn trăm nóc nhà thì tất cả đều nghèo.
"Đời tôi trước cách mạng khổ lắm, sống cũng như chết, không biết đến bao giờ được mở mày, mở mắt", ông từng kể trong sách.
Cậu bé La Văn Cầu mồ côi từ nhỏ, lớn lên không nhớ mặt bố. Hai mẹ con suốt năm ăn cháo ngô loãng, bị họ hàng bên nội đuổi ra khỏi nhà để tranh lấy ruộng. Bọn kỳ hào trong làng mỗi khi trông thấy hai mẹ con lại mắng: "Mẹ con mày không có hòn đất ném quạ. Cơm nguội không có mà ăn. Chúng tao có cơm nguội, cho chó ăn còn hơn cho chúng mày".
Người mẹ có lần định ôm con nhảy xuống sông, nhưng sau lại đem con về với tâm niệm "mẹ còn sống thì con còn sống". Bà lấy chồng mới, nhưng cũng nghèo, quanh năm đi làm thuê vẫn không đủ ăn. Mẹ thường hay khóc nói với Cầu: "Con còn bé thì mẹ nuôi. Con lớn lên rồi cũng không có đất làm. Trong làng họ mắng mầy là không phải bố mầy ở đây. Sau họ cũng đuổi mầy đi thôi".
Trong làng, trẻ con nhà giàu được đi học, Cầu quần áo rách rưới, nhà nghèo nên không được đi. Nhiều lần cậu đến trường xin học nợ (sau này sẽ kiếm tiền trả), nhưng bị đuổi và thường xuyên bị đám con nhà giàu bắt nạt, có lần bị đánh hộc máu, ngất đi.
Khi quân Nhật vào Việt Nam, cùng với Pháp ra sức vơ vét thóc gạo, khiến người dân chết đói khắp nơi. Bố dượng Cầu bị bắt đi phu, nhưng ông không chịu, nên bị đánh kiệt sức đến chết. Khi đó, Cầu mới 10 tuổi, phải vào rừng kiếm củi bán lấy tiền nuôi mẹ và em nhỏ. 12 tuổi, Cầu biết cày ruộng.
Đầu năm 1945, Nhật, Pháp và thổ phỉ kéo về làng cướp bóc, đốt nhà, cướp của nhiều hơn. Nhà Cầu có con bò, bị thổ phỉ về cướp. Nhiều đêm mẹ ôm Cầu vào lòng, khóc suốt tới sáng. Cậu bé Cầu luôn tự hỏi "sao cuộc đời khổ thế?".
Cũng thời kỳ ấy, Cầu được nghe người trong làng truyền tai nhau chuyện Việt Minh cứu quốc.
'Con đi đánh Tây ba năm sẽ về'
Sau Tổng khởi nghĩa và Cách mạng tháng Tám năm 1945, bộ đội về làng, thổ phỉ không dám đến nữa. Mẹ con cậu bé Cầu cũng không bị ai đánh chửi, ức hiếp nữa mà được đi làm, có cơm ăn.
Cầu xung phong vào thiếu nhi cứu quốc, làm liên lạc, chạy thư cho các cơ quan ở xã. Lúc này, Cầu được nghe nói đến Chủ tịch Hồ Chí Minh và ý thức rằng hai mẹ con đỡ khổ nhờ Bác Hồ. Cầu nghĩ, phải đi bộ đội đánh hết Tây thì đời mới được sung sướng, không thì lại trở về đời cũ.
Một buổi sáng năm 1948, khi đang cày ruộng, Cầu nghe tin cán bộ về tuyển thanh niên tòng quân. Cầu bỏ cày, về ăn vội bát cơm rồi đến trụ sở tuyển quân. Nhưng đến nơi, cán bộ nói phải đủ 18 tuổi mới được đi, chê Cầu bé, chưa vác nổi súng. Cầu liền đáp: "Tôi 18 tuổi rồi, vác được cày". Dù lúc đó, cậu mới 16 tuổi.
Cán bộ khám xong, hỏi: "Thấy bắn súng có sợ không? Có sợ chết không". Cầu trả lời: "Tôi không sợ chết".
Được ghi tên vào bộ đội, Cầu mừng quá, chạy một mạch về nhà thưa với mẹ. Mẹ hỏi: "Cầu đi bộ đội thật à?". Cầu đáp: "Con đi thật, không nói dối mẹ đâu. Con đi đánh Tây ba năm con về".
Mẹ bán con lợn, may được hai bộ quần áo màu chàm cho Cầu mang đi. Em nướng cho 5 củ khoai. Lúc đi, mẹ dặn Cầu "phải chăm chỉ, không biết cái gì thì hỏi anh, hỏi em". Cầu nhớ mãi lời mẹ.
Thà chết chứ không bỏ súng lại cho địch
Vào bộ đội, Cầu chăm chỉ, luôn tranh thủ hỏi các anh lớn súng này kích thước thế nào, bắn xa bao nhiêu, tháo lắp ra sao... Trận đầu tiên Cầu tham gia là đánh đồn Nà Tèn. Lần đầu ra trận, Cầu hơi sợ. Lúc súng nổ, Cầu chưa biết đào hố nên nấp sau gốc cây to. Thấy anh em xung phong, Cầu tiến theo, rút thì rút theo. Trận thứ hai, khi đánh đồn Cạm Ngần, Cầu đã bạo hơn nên vào tổ xung kích.
Trận phục kích quân Pháp ở đèo Bông Lau năm 1949, trước khi đi, Cầu nói với đồng đội "bây giờ chúng ta cầm súng Mut-cơ-tông, chốc nữa về sẽ có "tôm sơn" (súng tiểu liên Thompson)".
Ra trận, súng nổ, nhận được lệnh xung phong, Cầu lên sát bờ đường, thấy một toán địch đằng sau có xe tăng, Cầu hô "anh em ơi, chúng ta có súng tiểu liên đây rồi". Cầu bắn chết tên Pháp trên xe tăng rồi nhảy lên giật khẩu tiểu liên của chúng. Ba tên địch chạy đến, bị anh dùng tiểu liên lia gục. Có súng tiểu liên, Cầu còn diệt thêm 6 tên địch. Sau trận này, Cầu được chỉ huy đại đội khen và thưởng ba thước vải.
Chàng trai La Văn Cầu mới vào bộ đội vẫn có tính tự ái. Có lần, bị tiểu đội trưởng phê bình, Cầu trừng mắt quát lại: "Anh đi cứu nước, tôi cũng đi cứu nước, anh mắng gì tôi". Nhưng sau khi anh em giúp đỡ, Cầu đã cố gắng sửa chữa. Anh học 12 điều kỷ luật và 10 lời thề danh dự của quân đội, trong đó nhớ nhất hai câu "chiến đấu đến giọt máu cuối cùng" và "không lấy cái kim, sợi chỉ của dân".
Một lần đánh xong trận bản Pắc, đơn vị về nghỉ đóng quân gần làng. Mẹ Cầu biết tin tìm đến tận nơi. Hôm ấy trời mưa, Cầu vừa đi kiếm củi về, bị ướt hết người. Mẹ khóc, muốn xin Ban chỉ huy cho Cầu về nhà. Nhưng cậu dứt khoát: "Con là con của mẹ, bây giờ lại là con của dân tộc, ở bộ đội đánh giặc cứu nước xong con mới về".
Trong trận đánh đèo Đông Khê lần thứ nhất tháng 5/1950, Cầu bị đau nhọt nhưng vẫn xung phong ra trận. Đơn vị Cầu lộ vị trí, bị địch trên đồn bắn đạn khói xuống, máy bay trên trời thả bom làm chết và bị thương nhiều đồng đội. Cầu xông vào chỗ bom nổ, băng bó cho đồng đội và cõng 6 người về phía sau.
Sau khi chiếm giữ được bốt Cạm Phầy, chỉ huy giao Cầu mang khẩu liên thanh 12,7 ly của địch về căn cứ. Nửa đường, địch nhảy dù trên đầu định bao vây, nhưng Cầu nghĩ "chết thì chết chứ không bỏ súng lại cho địch". Cầu vác súng chạy hai cây số về đến nơi, được chỉ huy khen. Sau trận này, La Văn Cầu được kết nạp Đảng.
Chặt tay để chiến đấu trên đèo Đông Khê
Tháng 9/1950, bộ đội đánh đồn Đông Khê lần hai, mở màn chiến dịch biên giới. Cầu được giao làm tổ trưởng tổ bộc phá năm người, có nhiệm vụ phá hàng rào và lô cốt chính. Trước ngày ra trận, Cầu và đồng đội hứa, dù hy sinh đến giọt máu cuối cùng cũng làm tròn nhiệm vụ. Cầu chỉ dẫn cho anh em dùng lá chuối khô và lạt luộc chín để gói bộc phá không bị lỏng và ẩm, sức công phá mạnh hơn.
Mờ sáng 16/9, đơn vị bộc phá của Cầu nhận lệnh mở đột phá khẩu ở đồn Đông Khê. Tổ của Cầu vừa phá xong hàng rào, tiến lên một quãng thì hai người bị trúng đạn đại bác ngã gục. Phía trước, đạn bắn xuống như mưa, phía sau đạn đại bác nổ xung quanh. Tổ bộc phá chỉ còn ba người tiến lên.
Cách lô cốt 15 thước, Cầu thấy có hai hàng rào dây thép gai. Anh nảy ra sáng kiến gỡ mìn của địch phá hàng rào, để dành bộc phá đánh lô cốt. Phá được hai hàng rào, hai đồng đội băng qua, nhưng cầu bé nên anh không nhảy qua được, bị dây thép gai mắc vào người, phải xé quần áo để gỡ. Đến miệng hào, Cầu thấy hai đồng đội đã ngã xuống. Địch vẫn bắn ra như mưa. Cầu vác bộc phá xông lên, nhưng quân Pháp bắn pháo hiệu sáng lòa, trông thấy liền hô lớn "Việt Minh! Việt Minh! Việt Minh!" và bắn theo.
Qua giao thông hào thứ ba, Cầu bị trúng loạt trung liên, ngất đi. Lúc tỉnh dậy, anh sờ bụng, sờ ngực thấy không bị thương. Nhưng bên tay phải đã bị bắn nát, lủng lẳng. Trong mồm máu chảy từng cục. Bộc phá bị văng ra mấy thước.
Nhoài người ra kéo được khối bộc phá, nhưng anh thấy cánh tay phải lủng lẳng rất vướng, nghĩ "phải cắt nó đi". Rồi chạy xuống, thấy một tiểu đội trưởng đang tiến lên, Cầu bảo chặt hộ tay phải. Tiểu đội trưởng không đồng ý. Cầu nói rõ nhiệm vụ phải phá lô cốt phía trên và giục "anh cứ cắt cho tôi".
Tiểu đội trưởng không còn cách nào khác, bèn lấy lưỡi lê chặt đứt chỗ da thịt còn dính trên tay Cầu rồi xé áo buộc lại. Nhưng Cầu chạy đi được mấy bước thì máu chảy buột miếng vải đi. Cầu không để ý đến cánh tay nữa, cũng quên đau đớn, chạy lên trên đồn, tay trái mang khối bộc phá 12 kg.
Bò giữa làn đạn lên đến sát chân tường, anh rút quả lựu đạn bên sườn, lấy răng cắn chốt, ném vào một lỗ châu mai rồi lia thêm quả lựu đạn chày vào. Một lỗ châu mai bên kia vẫn bắn theo anh, nhưng Cầu đứng sát tường tránh được. Đợi lúc địch thay băng đạn, Cầu xông ra ấn quả bộc phá vào lỗ châu mai. Địch ở trong đẩy ra. Cầu lấy tay trái đẩy vào nhưng yếu quá, nên lại bị đẩy ra.
Thấy vậy, anh liền lấy chân đạp mạnh khối bộc phá vào lỗ châu mai, rồi giật nụ xòe. Anh chạy ra xa hơn mười thước thì khối bộc phá nổ, khiến anh ngã xuống. Lô cốt của địch trên đồn Đông Khê bị phá. Đội xung kích phía sau dẫm cả lên chân anh để tiến vào trong đồn.
Phá xong lô cốt đầu tiên, Cầu trở xuống tìm ban chỉ huy, xin cho phá một lô cốt nữa, nhưng được yêu cầu về trạm quân y ngay để tránh mất hết máu. Đường đi 4 km qua núi đá, được một lúc, anh lại phải tự vào gốc cây nghỉ. Mỗi khi cánh tay lủng lẳng chạm vào cây hay vào đá, anh đau muốn ngất đi. Đến sáng, anh mới về đến trạm giải phẫu. Chiều, bác sĩ cưa tay của anh đến bả vai. Đêm ấy, Cầu được chuyển về trạm điều trị.
Hết chiến dịch biên giới, La Văn Cầu mới khỏi hẳn. Anh đề nghị trở về đơn vị chiến đấu, nhưng bác sĩ không cho phép.
Anh hùng quân đội
Gần một năm sau trận đánh đèo Đông Khê, La Văn Cầu được thay mặt thanh niên quân đội dự Đại hội thanh niên thế giới bảo vệ hòa bình ở Berlin (Đức). "Thanh niên Việt Nam quyết chiến đấu đến giọt máu cuối cùng, tiêu diệt bọn thực dân Pháp và can thiệp Mỹ, để giành độc lập cho nước chúng tôi và góp phần bảo vệ hòa bình chung của thế giới", anh phát biểu tại hội nghị.
Trở về nước, La Văn Cầu được báo cáo Chính phủ, gặp và ăn cơm với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Sau đó, ông đi khắp các chiến trường để kể chuyện, cổ vũ tinh thần chiến đấu của chiến sĩ.
Tại Đại hội thi đua toàn quốc lần thứ nhất năm 1952 tại Việt Bắc, La Văn Cầu được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất và tuyên dương là anh hùng quân đội. Anh là một trong ba anh hùng quân đội và bảy anh hùng đầu tiên được tuyên dương. Anh được vinh dự ngồi bên Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp.
"La Văn Cầu tiêu biểu cho tinh thần hy sinh vô điều kiện để phục vụ nhân dân, phục vụ cách mạng", đại tướng Nguyên Nguyên Giáp tuyên dương anh.
Khi tổng kết chiến dịch biên giới 1950, đại tướng Võ Nguyên Giáp biểu dương chiến sĩ trẻ La Văn Cầu là "một trong những lá cờ đầu của phong trào giết giặc lập công".
Rời chiến trường, bị mất cánh tay phải, ông Cầu tự học và làm việc bằng tay trái. Ông tập viết bằng tay trái rồi đăng ký đi học. Sau đó, ông được phân công về công tác ở Phòng Tổ chức Quân khu 1, rồi làm cán bộ Bảo tàng Quân đội. Tháng 8/1996, ông về hưu.
Anh hùng La Văn Cầu là người duy nhất được đặt tên đường và trường học khi còn sống, ở nhiều địa phương như Hà Nội, Vũng Tàu (cũ), Nam Định (cũ).
Bà La Hồng Điệp, con gái đại tá La Văn Cầu, chia sẻ dù là anh hùng trong sử sách, ông luôn tâm niệm sống giản dị theo tấm gương cụ Hồ. Ông sống chân thành, khiêm tốn với mọi người và luôn dạy con cháu phải sống có đức. Đầu năm nay, khi bệnh tình ngày càng nặng, gia đình đưa ông nhập viện điều trị. Dù bị những cơn đau do vết thương năm xưa để lại và bệnh tật, ông vẫn kiên cường cho đến khi trút hơi thở cuối cùng.
"Bố luôn dạy chúng tôi, nếu làm được điều gì có ích cho cuộc đời thì cần cố gắng làm", bà Điệp bày tỏ.
Tài liệu tham khảo:
Sách Chuyện bảy vị anh hùng, NXB Nhân dân miền Nam, 1954
Sách Anh hùng quân đội La Văn Cầu, NXB Quân đội nhân dân, 1952
Tin Gốc: Vnexpress

