Dự thảo Thông tư quy định về chương trình đào tạo các trình độ của giáo dục ĐH đang được Bộ GD-ĐT xem xét và lấy ý kiến đóng góp. Trong đó, ngành sức khỏe là một trong những lĩnh vực có quy định cao về chương trình, giảng viên.
Theo dự thảo, các cơ sở giáo dục ĐH có thể thực hiện nhiều chương trình đào tạo khác nhau. Cụ thể, chương trình đào tạo nói chung phải xác định định hướng đào tạo theo hướng học thuật/nghiên cứu hoặc chuyên nghiệp/ứng dụng phù hợp với mục tiêu đào tạo và trình độ đào tạo.
Ngoài ra, các trường có thể cung cấp cho sinh viên chương trình đào tạo tích hợp; chương trình đào tạo liên ngành, xuyên ngành; chương trình đào tạo chuyên sâu; chương trình đào tạo song ngành, ngành chính – ngành phụ; chương trình đào tạo có định hướng và yêu cầu riêng; chương trình đào tạo cấp chứng chỉ giáo dục ĐH (được thiết kế độc lập hoặc là một cấu phần của chương trình đào tạo cấp văn bằng). Chương trình đào tạo có định hướng và yêu cầu riêng có các chương trình như kỹ sư tài năng, cử nhân tài năng, chương trình tiên tiến và các chương trình tương tự.
Các chương trình đào tạo trên phải được xây dựng phù hợp với sứ mạng cụ thể, chức năng, nhiệm vụ và chiến lược phát triển của cơ sở đào tạo đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Bên cạnh đó, đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực hiện tại và dự báo của ngành, lĩnh vực; phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế – xã hội và yêu cầu hội nhập quốc tế.
Các chương trình đào tạo phải xác định bậc trình độ theo Khung trình độ quốc gia Việt Nam; được thiết kế theo hướng bảo đảm khả năng tích lũy, công nhận kết quả học tập và liên thông giữa các trình độ, phù hợp với vị trí trong cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân.
Ở tất cả các chương trình đào tạo, giảng viên cơ hữu giữ vai trò chủ đạo trong việc tổ chức thực hiện chương trình đào tạo; giảng viên thỉnh giảng chỉ đảm nhận tối đa 1/4 khối lượng giảng dạy.
Mỗi chương trình đào tạo (trừ khối ngành sức khỏe, pháp luật; kỹ thuật then chốt; ngôn ngữ, văn học, nghệ thuật, thể thao) phải có ít nhất 7 giảng viên toàn thời gian trình độ tiến sĩ, có chuyên môn ngành đúng, ngành gần hoặc ngành có chuyên môn phù hợp chủ trì; trong đó luôn có 2 giảng viên chịu trách nhiệm chính về việc xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình đào tạo.
Đối với chương trình đào tạo thuộc lĩnh vực sức khỏe, pháp luật phải có ít nhất 7 giảng viên toàn thời gian trình độ tiến sĩ ngành đúng hoặc ngành gần chủ trì, trong đó luôn có 1 giảng viên chịu trách nhiệm chính về việc xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình đào tạo.
Đặc biệt, giảng viên giảng dạy và người hướng dẫn thực hành các học phần liên quan đến khám bệnh, chữa bệnh phải có giấy phép hành nghề chuyên môn phù hợp với học phần được giao nhiệm vụ giảng dạy, có tối thiểu 3 năm kinh nghiệm và đang hoặc đã từng làm việc trực tiếp tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cấp cơ bản trở lên theo quy định của luật Khám bệnh, chữa bệnh.
Trong khi đó, chương trình đào tạo các ngành kỹ thuật then chốt, công nghệ chiến lược, công nghệ lõi, quốc phòng, an ninh và ngành, lĩnh vực mới phải có ít nhất 7 giảng viên toàn thời gian trình độ tiến sĩ ngành có chuyên môn phù hợp chủ trì, trong đó luôn có 1 giảng viên chịu trách nhiệm chính về việc xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình đào tạo.
Chương trình đào tạo các ngành ngôn ngữ, văn học, văn hóa Việt Nam và nước ngoài, lĩnh vực nghệ thuật, thể thao phải có ít nhất 4 giảng viên toàn thời gian trình độ tiến sĩ có chuyên môn phù hợp chủ trì, trong đó luôn có 1 giảng viên chịu trách nhiệm chính về việc xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình đào tạo.
Trong thời gian tối thiểu 3 năm tính đến ngày 31 tháng 12 của năm liền kề trước năm tổ chức thực hiện chương trình đào tạo, bình quân một năm của một giảng viên chủ trì phải có ít nhất 1 bài báo khoa học thuộc danh mục Web of Science hoặc Scopus.
Với các ngành ngôn ngữ, văn học, văn hóa Việt Nam và nước ngoài, lĩnh vực nghệ thuật, thể thao, giảng viên phải có sách xuất bản hoặc bằng độc quyền sáng chế, giải pháp hữu ích bao gồm cả tác phẩm, công trình, giải thưởng chuyên môn, huy chương tại các cuộc thi, liên hoan, giải thi đấu thể thao do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam hoặc quốc tế công nhận.
Tại lễ công bố Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về việc chuyển Trường Đại học (ĐH) Công nghiệp Hà Nội thành ĐH Công nghiệp Hà Nội ngày 20/6, ông Lê Mạnh Hùng, Bộ trưởng Bộ Công thương, cho rằng đất nước đang bước vào giai đoạn mới.
Do vậy, đại học không chỉ là nơi đào tạo nhân lực, mà phải là nơi tạo ra tri thức và giá trị mới cho xã hội.
Để làm được điều này, theo Bộ trưởng, đại học phải chuyển mạnh sang đào tạo theo nhu cầu phát triển; từ quản lý theo quy trình sang quản trị theo mục tiêu, dữ liệu và kết quả.
“Các lĩnh vực công nghiệp, năng lượng, thương mại…, đang thay đổi rất nhanh dưới tác động của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi xanh, tiêu chuẩn quốc tế mới và cạnh tranh toàn cầu.
Để đạt được nền công nghiệp hiện đại, chúng ta phải có nguồn nhân lực hiện đại. Nếu muốn tự chủ hơn về kinh tế, chúng ta phải tự chủ hơn về công nghệ, dữ liệu và nguồn nhân lực”, theo Bộ trưởng.
Ông Kiều Xuân Thực, Giám đốc ĐH Công nghiệp Hà Nội cho hay, việc thay đổi thành “đại học” không đơn thuần chỉ là thay đổi cái tên mà đặt ra nhiều trách nhiệm và thách thức mới.
“Khi đã trở thành đại học, xã hội không chỉ hỏi nhà trường có bao nhiêu sinh viên, bao nhiêu chương trình đào tạo. Thay vào đó, xã hội sẽ hỏi sinh viên tốt nghiệp làm được gì, tạo được giá trị gia tăng gì cho doanh nghiệp, cho xã hội.
Nhiều câu hỏi sẽ được đặt ra: Nghiên cứu của chúng ta giải quyết được bài toán nào, phát triển được công nghệ gì để đóng góp cho phát triển kinh tế - xã hội; quản trị đại học có minh bạch, hiệu quả, hiện đại hay không?”, ông Kiều Xuân Thực nhấn mạnh
Ông cho rằng, điều đó yêu cầu nhà trường phải thay đổi, nếu không đổi mới liên tục về năng lực giảng viên và hệ thống quản trị, sẽ tụt lại phía sau.
Tính đến năm 2026, sau một loạt quyết định tổ chức lại và nâng cấp mô hình, cả nước hiện có 13 đơn vị mang tên "Đại học", trong đó Đại học Trà Vinh là cái tên mới nhất vừa được chuyển đổi.
Khác với “trường đại học”, “đại học” là cơ sở đào tạo đa lĩnh vực, trong mỗi lĩnh vực có nhiều ngành đào tạo. Vì vậy, đại học thường bao gồm các trường đại học thành viên.
Bộ GD-ĐT đã ban hành Thông tư số 60/2026/TT-BGDĐT (có hiệu lực từ 1.9.2026) quy định tiêu chuẩn, quy trình biên soạn tài liệu hướng dẫn thực hiện Chương trình giáo dục mầm non và việc lựa chọn đồ chơi, học liệu được sử dụng trong cơ sở giáo dục mầm non.
Đồ chơi, học liệu được lựa chọn trên cơ sở thực tiễn việc thực hiện Chương trình giáo dục mầm non, phát triển chương trình giáo dục nhà trường; kế hoạch nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục của nhà trường; nguồn lực của địa phương, nhà trường và cha mẹ của trẻ em.
Phải bảo đảm công khai, minh bạch theo quy định của pháp luật, hiệu quả thiết thực nâng cao chất lượng hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em.
Theo Thông tư của Bộ GD-ĐT, đồ chơi, học liệu được lựa chọn trong cơ sở giáo dục mầm non phải bảo đảm các quy định hiện hành về chất lượng sản phẩm hàng hóa, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn đồ chơi cho trẻ em và tiêu chuẩn kỹ thuật về đồ chơi cho trẻ em theo quy định của pháp luật. Bảo đảm thông tin về nhãn hàng hóa theo quy định của Chính phủ và các quy định của pháp luật có liên quan. Học liệu điện tử cho trẻ em phải bảo đảm theo quy định pháp luật có liên quan.
Đồ chơi, học liệu phải có màu sắc tươi sáng, hài hòa, hấp dẫn, phù hợp với văn hóa vùng miền và nhận thức thẩm mỹ của trẻ em. Đối với học liệu điện tử, đồ chơi có âm thanh và lời thoại rõ ràng.
Các đồ chơi, học liệu phải phù hợp với yêu cầu thực hiện Chương trình giáo dục mầm non, phát triển chương trình giáo dục của nhà trường, đáp ứng giáo dục phát triển toàn diện cho trẻ em. Phù hợp với yêu cầu hội nhập quốc tế; thuần phong mỹ tục và truyền thống của dân tộc; không mang tính bạo lực; không mang tính truyền bá tôn giáo; không phân biệt dân tộc, định kiến tôn giáo và giới.
Thông tư Thông tư số 60/2026/TT-BGDĐT cũng quy định trách nhiệm của các ban ngành. Trong đó, sở GD-ĐT hướng dẫn, giám sát, kiểm tra việc lựa chọn đồ chơi, học liệu được sử dụng trong cơ sở giáo dục mầm non theo thẩm quyền quy định.
UBND cấp xã hướng dẫn, giám sát, kiểm tra việc lựa chọn đồ chơi, học liệu được sử dụng trong cơ sở giáo dục mầm non theo thẩm quyền quy định. Đình chỉ việc sử dụng những đồ chơi, học liệu có nội dung không phù hợp với các quy định tại thông tư này hoặc vi phạm pháp luật tại cơ sở giáo dục mầm non; báo cáo cơ quan có thẩm quyền để có biện pháp xử lý kịp thời.
UBND cấp xã có trách nhiệm xử lý theo thẩm quyền đối với những cơ sở giáo dục mầm non, tổ chức, cá nhân vi phạm quy định việc lựa chọn đồ chơi, học liệu được sử dụng trong cơ sở giáo dục mầm non.
Trong khi đó, các cơ sở giáo dục mầm non phải tổ chức lựa chọn đồ chơi, học liệu theo quy định; chịu trách nhiệm trước các cơ quan quản lý giáo dục và trước pháp luật về việc lựa chọn, sử dụng đồ chơi, học liệu trong cơ sở giáo dục mầm non.
Cơ sở mầm non cũng phải có trách nhiệm công khai và cung cấp đầy đủ, chính xác thông tin danh mục đồ chơi, học liệu được lựa chọn đối với cán bộ quản lý, giáo viên, nhân sự hỗ trợ giáo dục, cha mẹ của trẻ em.
Các đơn vị cần thường xuyên rà soát danh mục đồ chơi, học liệu được sử dụng trong cơ sở giáo dục mầm non, kịp thời dừng sử dụng hoặc lựa chọn thay thế đồ chơi, học liệu không bảo đảm theo quy định. Báo cáo cơ quan quản lý có thẩm quyền việc lựa chọn, sử dụng đồ chơi, học liệu theo quy định...
Chiều 17-4, tại hội nghị phát triển các chương trình tiếng Anh thực nghiệm theo định hướng STEM/STEAM do một trung tâm ngoại ngữ tổ chức, ông Nguyễn Bảo Quốc - phó giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo TP.HCM - đã chia sẻ một câu chuyện thực tế từ gia đình.
Theo đó, học sinh (là người thân của ông) được giáo viên giao nhiệm vụ về nhà thực hiện một sản phẩm STEM. Tuy nhiên, đề bài chỉ dừng ở yêu cầu chung chung là tìm kiếm thông tin trên mạng, mà không có hướng dẫn cụ thể từng bước thực hiện.
"Thầy cô chỉ giao chung chung là lên mạng tìm kiếm mà thiếu sự hướng dẫn học sinh bước 1 phải làm gì, bước 2 phải làm gì. Trong khi học sinh lên mạng thì gặp quá nhiều thông tin và phương pháp thực hiện khác nhau, mỗi nơi hướng dẫn một kiểu", ông Quốc kể.
Việc thiếu chỉ dẫn cụ thể khiến học sinh lúng túng, đồng thời phụ huynh phải cùng tham gia hỗ trợ để hoàn thành bài tập.
Thông qua câu chuyện này, ông Quốc cho rằng đây không phải trường hợp cá biệt, mà phản ánh thực tế một bộ phận giáo viên hiện nay chưa thật sự nhuần nhuyễn trong triển khai giáo dục STEM/STEAM.
Theo ông, giáo dục STEM không nên chỉ dừng ở việc giao sản phẩm cho học sinh, mà cần có hướng dẫn rõ ràng, từng bước, để học sinh có thể tự trải nghiệm, tiếp thu kiến thức và phát triển năng lực.
Ông nhấn mạnh, việc dạy học cần hướng tới quá trình hình thành năng lực thay vì chỉ tập trung vào sản phẩm cuối cùng, qua đó giúp học sinh phát triển toàn diện hơn.
Ông cũng đưa ra một số giải pháp nhằm triển khai giáo dục STEM/STEAM hiệu quả hơn. Bên cạnh việc nâng cao năng lực đội ngũ giáo viên, ông Nguyễn Bảo Quốc cho rằng cần đồng thời đổi mới phương pháp dạy học và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ.
Trong đó, ông nhấn mạnh việc tích cực đưa các nội dung về trí tuệ nhân tạo (AI) và khung năng lực số vào chương trình giảng dạy, nhằm giúp học sinh thích ứng tốt hơn với yêu cầu của thời đại số.
"Việc dạy học không nên chỉ hướng vào kết quả cuối cùng là bằng cấp hay chứng chỉ mà là phát triển năng lực học sinh", ông nói.
Theo ông Quốc, quan trọng hơn cả là phải đánh giá được sự phát triển toàn diện của từng học sinh, xem các em đã chuyển hóa kiến thức, kỹ năng thành năng lực thực tế như thế nào.