Bộ Công Thương đang muốn đẩy sớm lộ trình bán xăng E10 – loại nhiên liệu sinh học pha 10% ethanol vào xăng khoáng – trên toàn quốc từ cuối tháng này. Tại tọa đàm ngày 17/4, PGS. TS Nguyễn Thường Lạng (Đại học Kinh tế quốc dân) cho rằng E10 phải tạo được lợi thế về giá để được người tiêu dùng đón nhận rộng rãi.
Hiện Petrolimex đang bán xăng E10 giá 23.160 đồng một lít, chỉ thấp hơn RON 95 khoảng 600 đồng.
“Xăng E10 cần có mức giá thấp hơn và đủ lớn so với xăng khoáng để kích thích người tiêu dùng chuyển đổi”, ông nói. Theo ông, khi mức chênh lệch hấp dẫn, người dân sẽ chủ động lựa chọn, hình thành thói quen tiêu dùng mới.
Để hạ giá thành, chuyên gia Nguyễn Thường Lạng cho rằng đề xuất chính sách cần được thiết kế đồng bộ. Ở góc độ người tiêu dùng, nhà điều hành có cơ chế điều tiết hoặc hỗ trợ giá trong giai đoạn đầu, như giảm các loại thuế bảo vệ môi trường, tiêu thụ đặc biệt, giá trị gia tăng (VAT).
Ở góc độ doanh nghiệp, bài toán là hiệu quả kinh tế với hoạt động sản xuất, pha chế và phân phối. Theo đó, cơ quan quản lý có thể cân nhắc miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong 5 năm đầu, sau đó giảm dần theo lộ trình khoảng 10 năm để tạo động lực đủ dài cho nhà đầu tư. Bên cạnh đó, chi phí logistics – từ vận chuyển, lưu kho đến phân phối – cần được hạ xuống, nhằm kéo giảm giá thành. Các chính sách tín dụng ưu đãi, hỗ trợ lãi suất cũng cần được triển khai để khuyến khích doanh nghiệp mở rộng đầu tư.
Một yếu tố khác được ông Lạng đề cập tới là cơ chế dự trữ và điều tiết thị trường. Theo ông, việc nâng năng lực dự trữ xăng dầu sẽ giúp ổn định nguồn cung trước các cú sốc bên ngoài, đồng thời giảm áp lực điều hành trong ngắn hạn. Song song, nhà điều hành cần hoàn thiện hệ thống phân phối, mở rộng mạng lưới bán lẻ và có chính sách thương mại phù hợp để thúc đẩy tiêu thụ xăng sinh học. Các rào cản gia nhập thị trường cũng cần được tháo gỡ thông qua hỗ trợ về đất đai, hạ tầng và đơn giản hóa thủ tục hành chính.
Thực tế, từ tháng 8/2025, xăng E10 được Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex) và Tổng công ty Dầu Việt Nam (PVOIL) thí điểm bán tại 3 thành phố lớn gồm Hà Nội, TP HCM và Hải Phòng. Loại xăng này có khả năng giảm khí thải nhà kính, giúp bảo vệ môi trường.
Tuy vậy, trong thời gian đầu thí điểm, không ít người tiêu dùng vẫn dè dặt về chất lượng xăng E10. Theo ông Lê Trung Hưng, Phó tổng giám đốc Tổng công ty Dầu Việt Nam (PVOil), sự e dè của người tiêu dùng hiện chủ yếu xuất phát từ yếu tố tâm lý khi tiếp cận một sản phẩm mới, không phải từ vấn đề chất lượng. Do vâỵ, khi niềm tin của người tiêu dùng dần được củng cố, việc triển khai đồng bộ xăng E10 trên toàn hệ thống sẽ thuận lợi hơn.
Ở khía cạnh này, PGS. TS Phạm Hữu Tuyến (Đại học Bách khoa Hà Nội) cho biết về mặt kỹ thuật, xăng E10 không gây tác động tiêu cực đến hoạt động của các phương tiện giao thông. Tức là, khi sử dụng xăng E10 thay thế xăng khoáng truyền thống, các chỉ tiêu về công suất, hiệu suất vận hành, phát thải của phương tiện cơ bản không thay đổi đáng kể. Việc chuyển đổi sang xăng E10 không ảnh hưởng đến khả năng vận hành của động cơ.
Tương tự, Phó cục trưởng Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công (Bộ Công Thương) Đào Duy Anh khẳng định xăng dầu là “máu” của nền kinh tế, do đó không có quốc gia nào đưa ra thị trường những sản phẩm kém chất lượng. Theo ông, Bộ Công Thương đã khảo sát, đánh giá việc sử dụng nhiên liệu sinh học từ năm 2014. Việt Nam bắt đầu thí điểm xăng E5 cùng năm và triển khai trên toàn quốc từ 2018.
“Các doanh nghiệp đầu mối lớn như PVoil và Petrolimex đang thử nghiệm phân phối xăng E10 tại một số địa bàn. Trong quá trình triển khai, chưa ghi nhận phản hồi tiêu cực từ phía người tiêu dùng”, ông nói. Ngoài ra, theo ông Đào Duy Anh, cơ quan quản lý cũng làm việc với nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước để đánh giá tác động đến hiệu suất, tuổi thọ của các động cơ sử dụng E10.
“Tâm lý e ngại của người tiêu dùng, xuất phát từ thông tin chưa đầy đủ, chính xác, như lo ngại về ảnh hưởng đến động cơ hay mức tiêu hao nhiên liệu”, ông nói, cho rằng nhà điều hành cần đẩy mạnh truyền thông minh bạch, khoa học để người dân hiểu đúng, từ đó tạo sự đồng thuận trong xã hội.
Báo cáo mới nhất của Hội đồng Vàng Thế giới (WGC), dựa trên khảo sát 76 ngân hàng Trung ương từ tháng 2 đến tháng 5, cho thấy làn sóng dịch chuyển tài sản dự trữ từ đồng USD sang vàng đang tăng tốc rõ rệt. Tỷ lệ ngân hàng kỳ vọng nâng tỷ trọng vàng đã tăng từ 76% (khảo sát năm ngoái) lên 84% trong năm nay.
Xu hướng này được củng cố bởi dữ liệu từ Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB): tính đến cuối năm 2025, vàng đã chiếm 27% tổng dự trữ toàn cầu, lần đầu tiên vượt qua trái phiếu Kho bạc Mỹ. Dù vậy, các tài sản định giá bằng USD vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất với 42%.
Ông Shaokai Fan, Giám đốc toàn cầu mảng ngân hàng Trung ương tại WGC, nhận định các thống đốc ngân hàng đang tái cơ cấu danh mục dự trữ theo hướng giảm phụ thuộc vào đồng USD - phản ánh thực tế các nền kinh tế ngoài Mỹ đang đảm nhiệm vai trò ngày càng lớn hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Dữ liệu hằng tuần của Fed cho thấy các ngân hàng Trung ương có thể đã bán một lượng đáng kể trái phiếu Kho bạc Mỹ. Ngược lại, xu hướng mua ròng vàng vẫn được duy trì ngay cả khi xung đột Trung Đông leo thang.
Ông Shaokai Fan lưu ý: "Chiến tranh, kết hợp với áp lực bảo vệ tỷ giá nội tệ, có thể đã kìm hãm phần nào sức mua của một số ngân hàng. Tuy nhiên, xu hướng mua ròng vàng đã nhanh chóng quay trở lại".
Đáng chú ý, 45% số ngân hàng được khảo sát dự kiến tiếp tục nâng dự trữ vàng trong 5 năm tới. Tại hội nghị thường niên IMF hồi tháng 4, mức độ quan tâm đến vàng còn cao hơn năm ngoái - nhiều bên cho biết đang chờ cơ hội giá điều chỉnh để mua vào.
Các ngân hàng Trung ương châu Á được đánh giá còn nhiều dư địa tăng tích lũy vàng. Điển hình là Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PBOC) - một trong những tổ chức mua lớn nhất thị trường - hiện mới phân bổ khoảng 9% tổng dự trữ vào vàng.
Trên thị trường quốc tế, giá vàng vừa trải qua đợt điều chỉnh mạnh khi giảm từ trên 5.500 USD/ounce xuống còn 4.031 USD/ounce, do giá dầu leo thang triệt tiêu kỳ vọng Fed cắt giảm lãi suất. Ngay sau khi thỏa thuận Mỹ - Iran được ký kết, giá vàng đã phục hồi và hiện giao dịch quanh mức 4.300 USD/ounce.
7h sáng 27/4, giá dầu Brent đã tăng hơn 2%, lên 107,5 USD mỗi thùng, sau khi kế hoạch đàm phán hòa bình giữa Mỹ và Iran đổ vỡ lần nữa. Dầu thô Mỹ WTI cũng tăng gần 2%, lên 96,2 USD.
Tính theo tuần, giá dầu Brent và WTI đã tăng lần lượt gần 17% và 13%, mức tăng hàng tuần lớn nhất kể từ khi chiến tranh bắt đầu. Trong đó, dầu Brent đạt mốc cao nhất ba tuần.
Cuối tuần trước, Tổng thống Mỹ Donald Trump hủy kế hoạch cử đặc phái viên đến Islamabad, Pakistan để đàm phán với Iran. Ông giải thích trên mạng xã hội Truth Social rằng việc này "lãng phí quá nhiều thời gian đi lại và công việc", trong khi tồn tại "sự tranh giành quyền lực và hỗn loạn khủng khiếp trong giới lãnh đạo của họ".
"Hơn nữa, chúng ta nắm giữ tất cả quân bài, họ không có gì", ông Trump tuyên bố. Lãnh đạo Mỹ thêm rằng nếu muốn nói chuyện, những gì đối phương cần làm là gọi điện.
"Các bạn biết đấy, chúng tôi có điện thoại - những đường dây điện thoại tốt và an toàn. Thỏa thuận rất đơn giản: Họ không thể có vũ khí hạt nhân, nếu không thì không có lý do gì để gặp nhau", ông Trump nói trên chương trình "The Sunday Briefing" của Fox News.
Bộ trưởng Ngoại giao Iran Abbas Araghchi đã đến Islamabad vào cuối tuần nhưng chỉ gặp gỡ các quan chức Pakistan trước khi rời đi.
"Không có cuộc gặp nào được lên kế hoạch giữa Iran và Mỹ", người phát ngôn Bộ Ngoại giao Iran Esmaeil Baqaei viết trên mạng xã hội vào tối 24/4.
Tony Sycamore, nhà phân tích tại công ty dịch vụ giao dịch tài chính IG, nhận định động thái của Mỹ đang "đá bóng" đàm phán sang Iran, quốc gia có thể phải ngừng sản xuất khi hết khả năng chứa dầu.
Tehran đã đóng cửa phần lớn eo biển giao thương, trong khi Washington áp đặt lệnh phong tỏa các cảng của đối phương. Lưu lượng giao thông qua eo biển Hormuz vẫn bị hạn chế. Theo dữ liệu vận chuyển từ Kpler, chỉ một tàu chở dầu đi được vào Vịnh ngày 26/4.
Trước tình hình mới, Goldman Sachs nâng dự báo giá dầu Brent cho quý IV lên 90 USD một thùng, còn dầu WTI 83 USD trong báo cáo công bố hôm qua, viện dẫn lý do sản lượng giảm từ Trung Đông. "Rủi ro kinh tế lớn hơn nhiều so với kịch bản cơ sở dựa trên giá dầu thô mà chúng tôi đưa ra", báo cáo nêu.
Các nhà phân tích từ Goldman Sachs nhấn mạnh nguyên nhân là giá các sản phẩm lọc dầu ở mức cao bất thường, rủi ro thiếu hụt sản phẩm và cú sốc năng lượng ở quy mô chưa từng có.
Dù lệnh ngừng bắn đã tạm dừng các cuộc giao tranh toàn diện, hai nước vẫn chưa đạt được thỏa thuận nào về các điều khoản mở lại eo biển Hormuz, khiến giá năng lượng tăng vọt.
Ngày 15-4, Bộ Nông nghiệp và Môi trường vừa có tờ trình Chính phủ về việc đề nghị ban hành nghị quyết về cơ chế đặc thù cho phép khai thác vượt không quá 15% công suất đối với các giấy phép khai thác than đang còn hiệu lực nhằm đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia.
Theo bộ này, tình hình thế giới diễn biến phức tạp, đặc biệt tại khu vực Trung Đông, tiềm ẩn nguy cơ gián đoạn nguồn cung năng lượng toàn cầu.
Ở trong nước, nhu cầu điện năng tăng cao và nguồn nhiên liệu nhập khẩu đối mặt nhiều rủi ro về giá cả, logistics và khả năng cung ứng.
"Trong bối cảnh đó, than trong nước tiếp tục giữ vai trò là nguồn năng lượng nền tảng và năng lực khai thác thực tế của các mỏ còn dư địa để tăng sản lượng.
Tuy nhiên, thủ tục điều chỉnh công suất theo quy định hiện hành chưa đáp ứng yêu cầu huy động nhanh nguồn lực" - bộ nhấn mạnh.
Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã nghiên cứu đề xuất cơ chế đặc thù nhằm kịp thời nâng công suất khai thác than phục vụ an ninh năng lượng quốc gia.
Cùng với đó, Tập đoàn Công nghiệp than - khoáng sản Việt Nam (TKV) cũng có văn bản đề nghị cho phép 4 mỏ thuộc TKV tăng sản lượng khai thác vượt không quá 15% công suất ghi trong các giấy phép khai thác.
Để đảm bảo tính công bằng, cạnh tranh cũng như chủ động trong việc đảm bảo an ninh năng lượng phục vụ phát triển kinh tế, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề xuất ban hành nghị quyết điều chỉnh với các giấy phép khai thác than đang còn hiệu lực trên cả nước nếu tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản đủ điều kiện áp dụng mà không chỉ riêng 4 dự án như TKV đề nghị.
Khi ban hành nghị quyết như đề xuất trên, các tổ chức, cá nhân sẽ không phải thực hiện thủ tục điều chỉnh giấy phép, đồng thời thực hiện theo cơ chế đăng ký và chịu sự giám sát của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, việc ban hành nghị quyết sẽ góp phần tăng nhanh nguồn cung than trong nước, kịp thời đáp ứng nhu cầu sử dụng năng lượng cho nền kinh tế, qua đó bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia.
Đồng thời tận dụng hiệu quả năng lực thiết bị, công nghệ và hạ tầng khai thác hiện có của các mỏ than đang hoạt động.
Đối với rủi ro và biện pháp kiểm soát, bộ cho biết việc áp dụng cơ chế đặc thù có thể phát sinh một số rủi ro như nguy cơ khai thác vượt trữ lượng được phê duyệt, gia tăng tác động tiêu cực đến môi trường và thất thu ngân sách nhà nước.
Tuy nhiên, các rủi ro này đã được kiểm soát thông qua việc quy định chặt chẽ trong nghị quyết về phạm vi trữ lượng được phép khai thác, các điều kiện về bảo vệ môi trường, cơ chế giám sát, hậu kiểm và nghĩa vụ tài chính đối với toàn bộ sản lượng khai thác.