Theo TTXVN, phát biểu tại đây, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh giữ gìn văn hóa các dân tộc không chỉ là bảo tồn di sản, mà còn giữ gìn nền tảng tinh thần của xã hội, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo nên sức mạnh nội sinh cho phát triển đất nước bền vững.
Trong nền tảng đó, các già làng, trưởng bản, nghệ nhân, người có uy tín giữ vai trò đặc biệt quan trọng, không chỉ là những người lưu giữ ký ức cộng đồng, mà còn là điểm tựa tinh thần, là nơi hội tụ niềm tin, góp phần giữ vững sự ổn định và gắn kết từ cơ sở.
Những năm qua, công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa các dân tộc đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, tạo chuyển biến tích cực cả về nhận thức và đời sống xã hội. Nhiều địa phương đã xuất hiện những mô hình, những cách làm rất thiết thực và giàu ý nghĩa.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chỉ rõ cần thẳng thắn nhìn nhận rằng sự nghiệp bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa các dân tộc đang đứng trước nhiều khó khăn, thách thức mới, có những vấn đề mang tính lâu dài, tác động trực tiếp đến nền tảng phát triển bền vững của đất nước.
Đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số, yêu cầu đặt ra là phát triển hài hòa giữa nâng cao đời sống và giữ gìn bản sắc, giữa hội nhập với tự chủ văn hóa.
Cần đặc biệt coi trọng vai trò chủ thể của cộng đồng, bởi chính người dân là chủ thể gìn giữ, thực hành và trao truyền các giá trị văn hóa. Chỉ khi văn hóa được nuôi dưỡng từ ý thức tự giác và niềm tự hào của mỗi người, mới có thể tồn tại, phát triển một cách bền vững.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước tin tưởng các già làng, trưởng bản, nghệ nhân, người có uy tín sẽ tiếp tục phát huy vai trò đặc biệt quan trọng, góp phần giữ gìn bản sắc, củng cố khối đại đoàn kết và tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững của đất nước.
Đồng thời mong muốn các nghệ nhân tiếp tục truyền dạy cho lớp trẻ, để tiếng nói, làn điệu dân ca, nghề truyền thống được nối dài trong đời sống hôm nay.
Cần quan tâm tạo điều kiện để văn hóa được thực hành trong đời sống, có không gian để gìn giữ và lan tỏa, để mỗi người dân, mỗi cộng đồng thực sự trở thành chủ thể của quá trình bảo tồn và phát triển văn hóa.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu cùng nhau giữ vững sự bình yên của bản làng, góp phần giữ ổn định từ cơ sở.
Bằng uy tín, bằng trách nhiệm và bằng tình cảm gắn bó với Nhân dân, các già làng, trưởng bản… tiếp tục nêu gương, vận động bà con không nghe theo những lời xúi giục sai trái, không vi phạm pháp luật, không để các yếu tố tiêu cực xâm nhập cộng đồng.
Giữ cho bản làng bình yên cũng chính là góp phần giữ vững sự ổn định chung của đất nước và cùng nhau đổi mới nếp nghĩ, cách làm để phát triển bền vững quê hương, đất nước.
Tiếp tục vận động bà con phát huy tinh thần tự lực, chủ động vươn lên, phát triển kinh tế gia đình, xóa bỏ hủ tục, xây dựng đời sống văn minh.
Bảo tồn văn hóa cần gắn chặt với phát triển sinh kế, nhất là du lịch cộng đồng, để người dân vừa gìn giữ bản sắc, vừa nâng cao thu nhập, từ đó tạo động lực lâu dài cho việc bảo tồn và phát huy văn hóa.
Phát triển không chỉ là có thêm cái mới, mà còn là giữ gìn và phát huy được những giá trị tốt đẹp vốn có của mình.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đề nghị Chính phủ, các bộ, ngành và các cấp ủy, chính quyền địa phương tiếp tục quán triệt sâu sắc chủ trương của Đảng về phát triển văn hóa trong giai đoạn mới.
Coi đây là nhiệm vụ trọng tâm, gắn chặt với mục tiêu phát triển nhanh và bền vững của địa phương, của đất nước.
Chính phủ cần tập trung hoàn thiện thể chế, chính sách về văn hóa theo hướng đồng bộ, sát thực tiễn.
Ưu tiên nguồn lực cho văn hóa cơ sở, nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, bảo đảm văn hóa thực sự đi vào đời sống, trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội…
Thảo luận tại tổ về dự án luật sửa đổi 4 luật về thuế chiều 21.4, nhiều đại biểu Quốc hội đề xuất cơ chế phát triển mạng lưới trạm sạc xe điện, từ đó tăng cơ hội tiếp cận của người dùng, mở rộng thị trường xe điện.
Đại biểu Trần Thị Hải Hà (đoàn Hải Phòng) ủng hộ việc kéo dài thời gian ưu đãi thuế tiêu thụ đặc biệt với xe gắn động cơ dưới 24 chỗ chạy bằng pin đến hết năm 2030. Bà kỳ vọng đây sẽ là giải pháp khuyến khích sử dụng xe điện, phù hợp với chủ trương về tăng trưởng xanh, chuyển đổi năng lượng, giảm phát thải nhà kính và bảo vệ môi trường.
Nữ đại biểu cũng đề cập đến một vấn đề rất quan trọng, đó là mạng lưới trạm sạc xe điện. Theo bà Hải Hà, doanh nghiệp xây dựng hệ thống trạm sạc riêng là thành quả của sự đầu tư mạo hiểm và lợi thế cạnh tranh cốt lõi. Do đó, không thể yêu cầu một doanh nghiệp đã đổ hàng nghìn tỉ đồng vào hạ tầng phải mở cửa ngay lập tức mà không có cơ chế bảo vệ lợi ích thỏa đáng.
Song, đại biểu đoàn Hải Phòng cho rằng, việc doanh nghiệp tự đầu tư trạm sạc xe điện mà không chia sẻ sẽ dẫn đến lãng phí nguồn lực đầu tư, chi phí vận hành và mặt bằng đất đai. Do vậy, rất cần có sự can thiệp của Nhà nước vào định hướng quy hoạch phát triển kinh doanh trạm sạc.
Bà Hải Hà kiến nghị Chính phủ nên có giải pháp để khuyến khích chuyển sang mô hình mở có lộ trình và điều kiện với doanh nghiệp sở hữu hạ tầng trạm sạc xe điện lớn, thay vì đóng hoàn toàn.
Chẳng hạn, khách hàng của hãng đầu tư trạm sạc xe điện sẽ được hưởng giá ưu đãi và quyền ưu tiên sử dụng sạc, trong khi các hãng khác muốn được chia sẻ trạm sạc thì phải trả mức phí cao hơn để bù đắp chi phí đầu tư, vận hành cho hãng đã đầu tư.
"Chính phủ cần có khung pháp lý để khuyến khích doanh nghiệp xem xét cơ chế "roaming" (chuyển vùng) giống như ngành viễn thông. Nghĩa là người dùng có thể sử dụng dịch vụ tại bất kỳ điểm sạc nào, các doanh nghiệp sẽ được đảm bảo quyền lợi tài chính thông qua sự kết nối của Nhà nước", nữ đại biểu nêu.
Cùng quan điểm, đại biểu Phạm Thu Xanh (đoàn Hải Phòng) cho rằng rào cản chính với xe điện không hẳn nằm ở thuế mà là ở hạ tầng trạm sạc.
Hiện nay, trạm sạc xe điện tập trung chủ yếu ở các đô thị và phụ thuộc vào một số doanh nghiệp lớn. Ở các địa phương, người dân không có điều kiện lắp sạc tại nhà, đặc biệt là ở các chung cư hoặc những khu phố nhỏ. Do vậy, nhiều người lo lắng xe bị hết pin dọc đường và không dám mua xe.
Vấn đề nữa là tiêu chuẩn kỹ thuật về an toàn, chưa có các tiêu chuẩn về trạm sạc như công suất kết nối, quy chuẩn về PCCC đối với xe điện, hoặc những quy định xử lý sự cố pin. Điều này dẫn đến tình trạng nhiều chung cư không cho phép sạc pin, gây khó khăn cho những người sống tại chung cư hoặc khu phố nhỏ. Cạnh đó, hệ sinh thái sử dụng, giá điện sạc, thời gian sạc và chi phí thay pin vẫn còn rất cao.
Nữ đại biểu kiến nghị Chính phủ quan tâm phát triển quy hoạch tổng thể, đẩy mạnh xã hội hóa việc đầu tư trạm sạc xe điện và từng bước mở rộng ra ngoài đô thị thay vì tập trung quá nhiều ở trung tâm. Điều này giúp tăng khả năng tiếp cận và tạo động lực cho người dân mua xe điện.
Đồng thời, cần có hướng dẫn cụ thể về quy chuẩn trạm sạc xe điện và an toàn PCCC trong các khu dân cư để tạo sự yên tâm cho người sử dụng.
Bà Thu Xanh cũng đề nghị có chính sách xây dựng giá điện phù hợp cho việc sạc xe điện, phát triển các dịch vụ bảo dưỡng và thay thế pin; ưu tiên đối với các loại xe điện công cộng, taxi, xe du lịch… tạo hiệu quả lan tỏa về môi trường.
Tại lễ trao các văn kiện hợp tác giữa các bộ, ngành của Việt Nam và Ấn Độ ngày 6-5, Phó chủ tịch thường trực UBND TP.HCM Nguyễn Lộc Hà và Quốc vụ khanh Bộ Nội vụ Ấn Độ Nitayanad Rai đã trao bản ghi nhớ về việc thiết lập quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa TP.HCM và TP Mumbai.
Lễ trao văn kiện có sự chứng kiến của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi cùng các đại biểu cấp cao của Việt Nam. Trong đó có ông Trần Lưu Quang - Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy TP.HCM.
Đây là hoạt động mang ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh quan hệ Việt Nam - Ấn Độ được nâng cấp lên thành quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện. Bản ghi nhớ nhận được sự hoan nghênh của lãnh đạo cấp cao hai nước và được kỳ vọng góp phần thúc đẩy hợp tác văn hóa, du lịch, giao lưu Nhân dân giữa hai quốc gia.
Theo bản ghi nhớ, chính quyền hai địa phương thống nhất thúc đẩy hợp tác trong các lĩnh vực trọng tâm như thương mại - đầu tư, giáo dục - đào tạo, văn hóa - du lịch, quy hoạch và phát triển đô thị, hạ tầng, vệ sinh đô thị và quản lý rác thải, bảo tồn sinh thái, ứng phó tình huống khẩn cấp, tăng trưởng xanh, chuyển đổi số trong giao thông và cung ứng dịch vụ công cơ bản.
Với bản ghi nhớ này, số lượng địa phương nước ngoài có quan hệ hữu nghị, hợp tác với TP.HCM được nâng lên 88 địa phương. Đặc biệt, Mumbai là địa phương đầu tiên của Ấn Độ thiết lập quan hệ hữu nghị, hợp tác với TP.HCM, thể hiện tinh thần chủ động, tiên phong của thành phố trong mở rộng hợp tác cấp địa phương, góp phần hiện thực hóa chủ trương hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng và hiệu quả của Việt Nam.
Cũng trong khuôn khổ chuyến công tác, Phó chủ tịch thường trực UBND TP.HCM Nguyễn Lộc Hà đã tham dự và phát biểu tại hội nghị bàn tròn với doanh nghiệp Ấn Độ, do Trung tâm Thương mại thế giới Mumbai tổ chức.
Thông qua các hoạt động tiếp xúc, cộng đồng doanh nghiệp Ấn Độ bày tỏ sự quan tâm đối với thị trường Việt Nam nói chung và TP.HCM nói riêng.
Đặc biệt, đề xuất mở rộng hợp tác trong các lĩnh vực du lịch, nhất là du lịch gắn với di sản, năng lượng xanh, sản xuất amoniac xanh, chuyển đổi rác thải thành khí sinh học; năng lượng tái tạo, sản xuất bền vững, chuyển đổi số, logistics, cảng biển, tài chính, giáo dục - đào tạo, công nghiệp điện ảnh, công nghệ sinh học, y tế công và hợp tác văn hóa thông qua Mạng lưới các thành phố sáng tạo của UNESCO.
Tại hội nghị, ông Hà khẳng định TP.HCM sẵn sàng đồng hành, tạo điều kiện thuận lợi để các nhà đầu tư Ấn Độ nghiên cứu, đồng thời đề nghị doanh nghiệp hai bên tăng cường kết nối thực chất, chuyển các cơ hội hợp tác thành chương trình, dự án cụ thể, góp phần thúc đẩy quan hệ TP.HCM - Mumbai nói riêng và Việt Nam - Ấn Độ nói chung.
Ngoài ra, ông Hà cũng đã làm việc với Phòng Thương mại Ấn Độ tại New Delhi về các hoạt động hợp tác trong lĩnh vực du lịch, năng lượng, đầu tư - thương mại và thiết lập kênh kết nối doanh nghiệp thường xuyên giữa TP.HCM với cộng đồng doanh nghiệp Ấn Độ.
Đồng thời làm việc với Tập đoàn ACME về hợp tác năng lượng tái tạo và dự án sản xuất amoniac xanh tại Việt Nam với tổng mức đầu tư dự kiến khoảng 9 - 10 tỉ USD, làm việc với GPS Renewables và SatyaGiri Group về các giải pháp chuyển đổi rác thải thành năng lượng, xử lý chất thải hữu cơ, khí sinh học, nhiên liệu sạch và năng lượng tái tạo.
Giáo sư - tiến sĩ Nguyễn Thiện Nhân, nguyên Bí thư Thành ủy TP.HCM bác bỏ quan điểm cho rằng phụ nữ TP.HCM nói riêng, phụ nữ Việt Nam nói chung “lười sinh con”. Ông cho rằng đây là cách nhìn lệch bản chất, quy trách nhiệm cho phụ nữ thay vì nhìn thẳng vào những rào cản kinh tế - xã hội đang chi phối quyết định sinh con.
Ông nhận định phụ nữ hôm nay không quay lưng với thiên chức làm mẹ. Họ chỉ đang cân nhắc rất thực tế giữa khát vọng có con với áp lực cơm áo, nhà ở, công việc và chi phí nuôi dạy con: “Họ làm như vậy là đúng quy luật của cuộc sống hiện nay: không nuôi con được tử tế thì đừng sinh con, khác với quan niệm hơn 100 năm trước: trời sinh voi, trời sinh cỏ”.
Ông Nhân nhấn mạnh mức sinh thấp không phải do phụ nữ “lười sinh con”, mà vì nhiều gia đình chưa có đủ điều kiện tối thiểu để sinh và nuôi con tử tế.
Khi người lao động chưa có mức lương đủ sống - tức mức lương thấp nhất cho phép một gia đình có 2 người đi làm có thể nuôi 2 vợ chồng và 2 con đàng hoàng, cho con đi học đến 18 tuổi và học được một nghề - thì việc họ không sinh con hoặc chỉ sinh 1 con là điều dễ hiểu.
Ông phân tích, ở nhiều nước, chỉ khoảng 55 - 65% lao động đạt mức lương bằng hoặc cao hơn lương đủ sống; còn lại 35 - 45% ở dưới ngưỡng này. Với nhóm thu nhập đó, chuyện sinh và nuôi đủ hai con đến 18 tuổi gần như vượt quá khả năng. Khi thu nhập không theo kịp chi phí nhà ở, giáo dục, y tế và sinh hoạt, lựa chọn trì hoãn sinh con hoặc không sinh thêm không phải là sự ích kỷ, mà là một tính toán hợp lý.
Theo ông Nhân, phụ nữ còn bị ràng buộc bởi bất bình đẳng giới: thời gian làm việc kéo dài, gánh nặng việc nhà và chăm con vẫn chủ yếu dồn lên vai phụ nữ. Cùng với đó là nỗi lo việc làm bấp bênh, thu nhập tăng chậm, kết hôn muộn, sinh con muộn và môi trường lao động ở nhiều nơi chưa thật sự thân thiện với phụ nữ sinh con, nuôi con.
Dẫn lại khảo sát tại Nhật Bản, ông Nhân cho biết khi hôn nhân và sinh con đi kèm gánh nặng việc nhà, chăm con, chăm sóc cha mẹ lớn tuổi và nguy cơ ảnh hưởng con đường nghề nghiệp, nhiều phụ nữ sẽ suy giảm động lực kết hôn, sinh con. Bản chất của hiện tượng ấy không phải là “lười sinh con”, mà là phản ứng trước những áp lực xã hội và bất bình đẳng giới tích tụ trong thời gian dài.
Từ những phân tích đó, ông Nhân nhấn mạnh, đừng hỏi vì sao phụ nữ “lười sinh con”, mà phải hỏi vì sao xã hội vẫn chưa tạo đủ điều kiện để họ yên tâm sinh con.
Giáo sư Nguyễn Thiện Nhân nhấn mạnh, nếu không giải được bài toán thu nhập thì rất khó kỳ vọng người dân sinh đủ 2 con, dù có thêm nhiều biện pháp hỗ trợ khác.
Ông phân tích, năm 2023, lương tối thiểu ở TP.HCM khoảng 4,96 triệu đồng/tháng; lương đủ sống khoảng 10 triệu đồng/tháng - tức cao gấp 2,14 lần lương tối thiểu. Khoảng cách này cho thấy mức lương sàn hiện nay về cơ bản chỉ đủ để một người lao động tự nuôi bản thân, không thể nuôi con cái.
Ông nhận định, muốn một gia đình đạt mức sinh thay thế (tức sinh đủ 2 con) thì mỗi người đi làm phải đạt mức lương đủ sống, nghĩa là một cặp vợ chồng cần tổng thu nhập khoảng 20 triệu đồng/tháng mới có cơ sở nuôi 2 con đến tuổi trưởng thành.
Để làm rõ vai trò của tiền lương, giáo sư dẫn số liệu tuyển dụng tại TP.HCM giai đoạn 2021 - 2024. Phần lớn việc làm vẫn tập trung ở nhóm thu nhập thấp, trong khi số vị trí có thu nhập cao chiếm tỷ lệ không nhiều. Từ mặt bằng lương đó, ông ước tính số con bình quân mà lực lượng lao động này có thể sinh và nuôi chỉ khoảng 1,4 - 1,45 con.
Đáng chú ý, mức sinh thực tế của TP.HCM từ 2021 - 2024 cũng chỉ quanh ngưỡng 1,4 con/phụ nữ. Theo ông Nhân, sự trùng khớp này cho thấy rất rõ: khi thu nhập chưa đạt mức lương đủ sống cho một gia đình 4 người, thì mức sinh của địa phương rất khó tăng.
Bên cạnh đó, giáo sư cho biết TP.HCM đang nỗ lực giải quyết tình trạng mức sinh thấp. Theo đó, thành phố đã triển khai chính sách hỗ trợ 5 triệu đồng cho phụ nữ sinh đủ 2 con trước 35 tuổi; đồng thời hỗ trợ 2 triệu đồng cho phụ nữ mang thai và trẻ sơ sinh thuộc hộ nghèo, cận nghèo, đối tượng bảo trợ xã hội, người sống tại xã đảo khi thực hiện tầm soát trước sinh và sơ sinh.
Theo ông, đây là sự khích lệ cần thiết. Tuy vậy, để cải thiện mức sinh một cách bền vững, cần đồng thời tiếp tục hoàn thiện các giải pháp nền tảng, nhất là những vấn đề đang tác động trực tiếp đến quyết định sinh con của người dân.
Từ kinh nghiệm của những nước có mức sinh thấp kéo dài như Nhật Bản, Hàn Quốc, ông chỉ ra nhiều quốc gia đã chi rất lớn để khuyến khích kết hôn, sinh con nhưng mức sinh vẫn tiếp tục giảm. Theo ông, nguyên nhân là người trẻ vẫn phải đối mặt với hàng loạt rào cản: thu nhập không đủ nuôi 2 con, giá nhà quá cao, thiếu trường mầm non công lập, bất bình đẳng giới trong việc nhà và môi trường lao động chưa thân thiện với phụ nữ có con.
Ở chiều ngược lại, tại Indonesia, khi lo ngại mức sinh ở các đô thị lớn như Jakarta đã xuống 1,8 và có nguy cơ giảm sâu thì Indonesia bắt đầu triển khai hàng loạt chính sách thân thiện với gia đình.
Indonesia đã phát triển 3.700 trung tâm gia đình bền vững để tư vấn làm cha mẹ, khuyến khích người cha chia sẻ chăm con và việc nhà, hỗ trợ bữa ăn miễn phí cho trẻ nhỏ và học sinh, đơn giản hóa thủ tục tiếp cận chính sách gia đình… Đồng thời, thúc đẩy chương trình xây 3 triệu căn nhà mỗi năm để giảm áp lực nhà ở cho người trẻ.
Từ những kinh nghiệm đó, giáo sư Nhân cho rằng muốn thay đổi mức sinh một cách bền vững thì không thể chỉ dừng ở hỗ trợ ngắn hạn, mà phải tạo được nền tảng sống đủ vững cho người trẻ: thu nhập đủ sống, nhà ở phù hợp, dịch vụ giữ trẻ, an sinh y tế - xã hội và môi trường làm việc thân thiện với phụ nữ sinh con, nuôi con.