Vậy giáo viên, trường học phải làm gì để giải quyết những sự cố truyền thông, chưa kể phải hỗ trợ rất nhiều tình huống về tâm lý của học sinh?
Hôm nay (18.4), Sở GD-ĐT tỉnh Đồng Nai phối hợp với Trường ĐH Quốc tế Hồng Bàng tổ chức chương trình tập huấn cho gần 500 cán bộ quản lý, giáo viên các trường mầm non, tiểu học, THCS, THPT, cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn tỉnh với chủ đề “Công tác truyền thông trong hoạt động giáo dục và đào tạo, hỗ trợ tâm lý học sinh”.
“Thay vì im lặng hay né tránh, lãnh đạo các trường nên sẵn sàng đối thoại, cung cấp thông tin đúng sự thật, minh bạch, kịp thời, nói lời xin lỗi sớm nếu có sai sót… Những điều này có thể giúp trường hóa giải được sự cố và giảm đi những hệ lụy”, nhà báo Trọng Phước, Giám đốc Trung tâm Phát triển Nội dung số, kiêm phụ trách Ban Giáo dục Báo Thanh Niên chia sẻ tại buổi tập huấn.
Để tránh thông tin chưa rõ đúng sai có thể lan truyền từ chính giáo viên hay học sinh, theo nhà báo Trọng Phước, nhà trường cần có quy định bằng văn bản về quy chế phát ngôn, bên cạnh đó là quy chế ứng xử trên mạng xã hội cho giáo viên và học sinh. Giúp học sinh và giáo viên nhận thức về trách nhiệm khi sử dụng mạng xã hội.
Có mặt tại buổi tập huấn, cô Cao Thị Xuyến, Phó hiệu trưởng Trường THPT Nam Hà, P.Trấn Biên, tỉnh Đồng Nai, nhận định trong công tác giáo dục, mối quan hệ giữa nhà trường, học sinh và phụ huynh, đặc biệt là giữa giáo viên với phụ huynh và học sinh đôi khi vẫn phát sinh những vấn đề cần nhìn nhận thẳng thắn.
“Tại trường chúng tôi cũng có xảy ra một vài tình huống, chẳng hạn, cách ứng xử hay ngôn từ của thầy cô trong một số tình huống chưa thật sự phù hợp khiến nhiều học sinh có xu hướng chia sẻ bức xúc trong các nhóm kín, hoặc tâm sự với người thân thậm chí là phản ánh với báo chí. Điều đó cho thấy khủng hoảng truyền thông trong môi trường học đường diễn ra rất đa dạng, khó lường”, cô Xuyến chia sẻ.
Theo cô Xuyến, không phải lúc nào nhà trường cũng có thể xử lý triệt để ngay từ đầu. Tuy nhiên, khi trường tiếp cận được những thông tin không hay, thì đều tiến hành xác minh để xử lý kịp thời.
Tiến sĩ tâm lý học Trịnh Viết Then, Trưởng Bộ môn Tâm lý học Trường ĐH Quốc tế Hồng Bàng, cho biết, một khảo sát với 400 học sinh tỉnh đồng Nai cho thấy 65,5% gặp lo âu, 50,3% bị stress và 32,8% bị trầm cảm. Trong đó 5,5% học sinh bị trầm cảm ở mức nặng, nguy cơ tăng mạnh ở học sinh lớp 12.
“Những vấn đề tâm lý này đến từ áp lực học tập và thi cử, bị bắt nạt, bạo lực học đường, khủng hoảng bản sắc, rối loạn cảm xúc và lo âu, khó khăn trong các mối quan hệ tình cảm… Chúng ta có thể nhận diện, phát hiện thông qua các biểu hiện của học sinh qua học tập và nhận thức, qua cảm xúc và khí sắc, qua hành vi và tương tác xã hội…”, tiến sĩ Then nhìn nhận.
Khi đã phát hiện những vấn đề tâm lý của học sinh, theo tiến sĩ Then, tùy vào từng mức độ mà giáo viên có cách hỗ trợ phù hợp. Ở mức độ 1 (80% học sinh), hỗ trợ tại chỗ (giáo viên chủ nhiệm và gia đình) bằng cách trò chuyện, lắng nghe, điều chỉnh nhẹ nhàng môi trường học tập và phối hợp với phụ huynh để ổn định sinh hoạt.
Mức độ 2 (15% học sinh) cần tham vấn chuyên môn (cán bộ tâm lý học đường), sử dụng các liệu pháp tâm lý như nhận thức – hành vi để giúp học sinh thay đổi tư duy tiêu cực.
Mức độ 3 (5% học sinh) là nặng nhất, cần chuyển tuyến can thiệp (chuyên gia/bác sĩ tâm thần). Lúc này nhà trường hỗ trợ gia đình kết nối với các bệnh viện hoặc trung tâm trị liệu chuyên sâu, tiếp tục theo dõi và tạo điều kiện cho học sinh tái hòa nhập sau điều trị.
Phát biểu tại buổi tập huấn, ông Phạm Hữu Thắng, Phó Giám đốc Sở GD-ĐT Đồng Nai, cũng nhấn mạnh tại thời điểm này, các kỳ thi kết thúc năm học, kỳ thi tuyển sinh 10 và kỳ thi tốt nghiệp THPT đang được chuẩn bị và diễn ra. Do đó, việc tăng cường thêm kỹ năng để cán bộ quản lý, giáo viên nắm vững bản chất, quy trình tư vấn và biết cách phối hợp với gia đình, các chuyên gia, cơ sở y tế khi học sinh gặp rối loạn tâm lý lo âu hoặc căng thẳng quá mức vượt quá khả năng hỗ trợ của nhà trường, là rất cần thiết.
Chị Huỳnh Thị Thùy Trang, mẹ Ngọc, tối 8/7 cho biết được hiệu trưởng THCS-THPT Trần Đại Nghĩa gọi báo tin con là thủ khoa khi đang nghỉ hè ở quê ngoại. Đây là niềm vui ngoài mong đợi của Ngọc và gia đình.
"Thi về, con nói làm bài tốt, tự tin đỗ nhưng không nghĩ trở thành thủ khoa nên cả nhà rất bất ngờ", chị Trang nói.
Kỳ thi vào lớp 6 trường THCS-THPT Trần Đại Nghĩa diễn ra cách đây 10 ngày với hơn 4.200 thí sinh, cạnh tranh 350 suất học. Bài thi kéo dài 90 phút. Trong đó, phần trắc nghiệm có 20 câu hỏi tiếng Anh, kiểm tra kiến thức Khoa học tự nhiên, Khoa học xã hội, thường thức đời sống. Phần tự luận gồm Tiếng Anh (nghe, đọc-hiểu, viết), Toán và Tư duy logic; Đọc - Hiểu - Làm văn.
Chị Trang kể con trai đầu là học sinh của trường Trần Đại Nghĩa nên Ngọc sớm tiếp xúc, cảm nhận không khí học tập qua lời kể và một số lần dự hoạt động cùng anh.
"Ngọc dần dần yêu thích và có động lực thi vào chung trường với anh hai, bố mẹ hỗ trợ chứ không gò ép con", chị Trang nói.
Từ lớp 3, Ngọc bắt đầu tập trung hơn. Rút kinh nghiệm từ con trai đầu, bố mẹ cho em tiếp xúc với Toán thực tế, tư duy từ sớm. Những năm lớp 3, 4, Ngọc được tham gia một số cuộc thi Toán tư duy để làm quen.
Phụ huynh cũng chú trọng cho con luyện nói tiếng Anh bằng cách tham gia các câu lạc bộ vào cuối tuần, ngoài một vài tiết học với giáo viên bản ngữ ở trường và trung tâm. Đến đầu năm lớp 5, Ngọc được học bổ trợ các dạng đề khảo sát ở lớp học thêm.
Theo chị Trang, thế mạnh của Ngọc là Tiếng Anh và viết sáng tạo. Phần đọc hiểu – làm văn trong đề khảo sát năm nay yêu cầu kể tiếp câu chuyện theo gợi ý, là dạng nội dung mở nên em thích thú và viết tốt. Trước khi đi thi, chị dặn dò con đọc kỹ, gạch chân từ khóa, tránh lạc đề.
Thanh Ngọc chia sẻ thời gian biểu hàng ngày thường kết thúc lúc 21h30. Bài vở gần như được em hoàn thành trên lớp, còn buổi tối tự học khoảng 1-2 tiếng, chuẩn bị bài cho ngày mai và làm các dạng Toán nâng cao. Bố là người theo sát, cũng là "đối thủ" của em trong các ván cờ vua.
Phần thưởng sau khi hoàn thành bài vở là được tự do xem phim hoạt hình. Ngọc còn được luyện đàn, bơi... để cân bằng với thời gian học tập.
Ngôi thủ khoa đầu vào trường Trần Đại Nghĩa của Ngọc khiến cô Nguyễn Trương Thùy Dương, chủ nhiệm lớp 5, bất ngờ và tự hào.
"Con rất tích cực phát biểu xây dựng bài, luôn hoàn thành đúng hạn bài tập mà thầy cô giao. Với tính cách hoạt bát, năng nổ nên Ngọc được các bạn cùng lớp quý, thích chơi chung", cô Dương nói.
Chính phủ Phần Lan tuần trước công bố các đề xuất mới để xử lý tình trạng khó khăn về tài chính của sinh viên quốc tế ngoài EU và EEA (Khu vực Kinh tế châu Âu).
Theo đó, nhóm này sẽ bị hủy giấy phép cư trú nếu nhận trợ cấp xã hội, dù chỉ một lần, thay vì rơi vào diện được xem xét hoàn cảnh như hiện nay. Thay đổi này sẽ có hiệu lực từ mùa thu tới, nếu được thông qua.
Ông Matias Marttinen, Bộ trưởng Việc làm Phần Lan, cho rằng quy định mới nhằm đảm bảo du học sinh tuân thủ nghiêm ngặt các điều kiện cư trú, vì lợi ích chung. Họ cần chứng minh khả năng tự trang trải chi phí sinh hoạt để được giữ giấy phép, nên việc nhận trợ cấp bị coi là không đáp ứng điều kiện.
Từ tháng 9/2023 đến cuối năm ngoái, hệ thống giám sát của cơ quan di trú Phần Lan ghi nhận hơn 300 sinh viên xin trợ cấp xã hội, trên tổng số 37.000 giấy phép cư trú được rà soát. Giới chức muốn giảm thiểu tối đa con số này.
Một số đề xuất khác cũng nhằm ngăn ngừa rủi ro tài chính với du học sinh ngay từ sớm. Cụ thể, người thân của họ chỉ được phép nộp đơn xin cư trú sau khi con em đã sống tại Phần Lan ít nhất một năm, có cái nhìn thực tế về mức chi phí sinh hoạt đắt đỏ ở đây.
Ngoài ra, Phần Lan sẽ ra quy định cụ thể về mức tài chính của du học sinh (bằng euro) thay vì hướng dẫn chung như hiện nay, kèm yêu cầu về trình độ ngoại ngữ để chặn các trường hợp "mượn danh" du học.
Phần Lan có khoảng 22.000 sinh viên quốc tế, trong đó người Việt khoảng 2.000, theo số liệu năm 2023 của chính phủ nước này. Nhóm ngoài EU/EEA hiện phải chi trả mức học phí dao động 8.000-20.000 euro/năm (246 - 615 triệu đồng), tùy ngành học và cơ sở đào tạo.
Hiệp hội Giáo sư đại học Mỹ (AAUP) cách đây một tuần công bố báo cáo thường niên về thu nhập của giảng viên. Dữ liệu được tổng hợp từ gần 770 đại học và cao đẳng, 360.000 giảng viên cơ hữu, 125.000 giảng viên thỉnh giảng và đội ngũ quản lý cấp cao ở các trường.
Báo cáo nêu một thực trạng đáng lo ngại. Lương trung bình của giảng viên cơ hữu tăng 2,3% trong năm học 2024-2025, nhưng chỉ số giá tiêu dùng trong cùng kỳ lại tăng 2,7%. Do đó, lương thực tế của họ sau khi điều chỉnh theo lạm phát giảm khoảng 0,4%.
Nếu so với giai đoạn trước, bức tranh tổng thể còn ảm đạm hơn. Lương thực tế trung bình của giảng viên cơ hữu hiện thấp hơn năm 2019 khoảng 9,5%, kém năm 2008 gần 6%. Trong hơn 750 trường có dữ liệu đối sánh hai năm học gần nhất, hơn 80% báo cáo mức lương danh nghĩa tăng, nhưng thực chất chỉ khoảng 40% trường trả lương vượt lạm phát.
Trong khi đó, nhóm giảng viên thỉnh giảng (không có biên chế) còn khó khăn hơn. Thu nhập của họ được đánh giá là ở mức thấp, manh mún, thiếu ổn định khi khoảng 70% số trường đặt mức lương sàn cho mỗi học phần (3 tín chỉ) từ 4.000 USD trở xuống. Chỉ khoảng 1/3 trường hỗ trợ đóng quỹ hưu trí cho một phần hoặc toàn bộ nhóm này, và 30% hỗ trợ đóng bảo hiểm y tế.
Ngược lại, lương trung bình của các hiệu trưởng dao động khoảng 275.000 đến 850.000 USD, tùy trường công hay tư thục, cao gấp 3-5 lần mức của một giáo sư.
Ngoài tiền lương, báo cáo còn cho thấy một làn sóng giảm biên chế ở các trường. Vào học kỳ mùa thu năm 2023, chỉ 32% giảng viên có biên chế chính thức hoặc lộ trình biên chế (tenure-track), giảm mạnh so với mức 53% của năm 1987.
Theo AAUP, điều này có nghĩa là tỷ lệ giảng viên có thể theo đuổi nghiên cứu và đổi mới mà không bị ảnh hưởng bởi áp lực từ doanh nghiệp hay chính trị đã giảm.
Lĩnh vực giáo dục đại học ở Mỹ đang đối mặt nhiều biến động, như lạm phát, can thiệp chính trị, nguồn kinh phí nghiên cứu thất thường, tốc độ phục hồi tuyển sinh sau đại dịch không đồng đều,...
AAUP nhìn nhận thu nhập của giảng viên là vấn đề quản trị cốt lõi. Mô hình chi trả lương cho thấy các trường có đang bảo vệ nhân sự và các hoạt động học thuật, nhằm duy trì giảng dạy, nghiên cứu và quản trị chung không, hay đang ngày càng bị cuốn vào vòng xoáy xử lý khủng hoảng và áp lực từ bên ngoài.
Hồi tháng 3, gần 1.000 giảng viên hợp đồng ở Đại học New York đồng loạt bãi công, do phải gánh vác gần 1/3 khối lượng giảng dạy nhưng chỉ nhận 2% quỹ lương, khiến không kham nổi chi phí đắt đỏ tại Manhattan.