Có một nghịch lý đang diễn ra tại các cổng dự án nhà ở xã hội phía bắc. Cùng một bộ hồ sơ mua nhà, nếu người lao động tự đi làm thì mất nhiều tháng và thường bị trả lại vì thiếu giấy tờ. Nhưng nếu trao cho nhóm môi giới đứng ngay trước dự án thì chỉ mất 4 – 7 triệu đồng và vài ngày là xong.
Con số này không phải giả thuyết mà là mức giá xử lý hồ sơ được Công an tỉnh Bắc Ninh công bố ngày 17.3 khi khởi tố 5 bị can về tội “làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” tại dự án Thống Nhất Smart City.
Trước đó 3 tháng, Công an tỉnh Thái Nguyên cũng đã khởi tố một nhóm tương tự tại dự án khu dân cư Đại Thắng.
Khi việc làm sai lại nhanh và chắc chắn hơn việc làm đúng thì lỗi không nằm ở người chọn đường tắt mà nằm ở chính con đường chính ngạch.
Về mặt pháp lý, hành vi làm giả giấy xác nhận đối tượng, giấy xác nhận điều kiện thu nhập, đơn xác nhận tiền lương rồi hợp thức hóa hồ sơ mua nhà ở xã hội cấu thành tội “làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo điều 341 bộ luật Hình sự năm 2015.
Khung cơ bản tại khoản 1 quy định phạt tiền từ 30 – 100 triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 2 năm.
Khung tại khoản 2 nâng lên từ 2 đến 5 năm tù nếu thuộc một trong các trường hợp định khung tăng nặng như làm giả từ 2 đến 5 tài liệu, thu lợi bất chính từ 10 đến dưới 50 triệu đồng.
Khung tại khoản 3 là 3 đến 7 năm tù nếu làm giả từ 6 tài liệu trở lên hoặc thu lợi bất chính từ 50 triệu đồng trở lên. Công an tỉnh Thái Nguyên đã khởi tố theo khoản 3 điều 341.
Vấn đề là khi người mua ký vào bộ hồ sơ do môi giới lập khống, biết rõ mình không đủ điều kiện mà vẫn nộp cho chủ đầu tư, họ cũng đã đồng phạm với vai trò người sử dụng tài liệu giả để thực hiện hành vi trái pháp luật.
Đây không phải là suy đoán mà là hệ quả trực tiếp từ cấu trúc tội danh ghép của điều 341. Giấc mơ an cư trong trường hợp này có thể kết thúc bằng một bản án treo hoặc một bản án tù giam tùy vào mức độ hiểu biết và sự thành khẩn khi bị phát hiện.
Nhưng tập trung toàn bộ sự chú ý vào người mua và nhóm môi giới sẽ là cách tiếp cận sai. Hồ sơ mua nhà ở xã hội không phải thứ người ta tự lập rồi tự phê duyệt.
Theo quy trình được quy định tại Nghị định 100/2024/NĐ-CP, đã được sửa đổi bổ sung bởi Nghị định 261/2025/NĐ-CP và Nghị định 54/2026/NĐ-CP, bộ hồ sơ phải đi qua ít nhất 3 lớp kiểm tra, gồm: chủ đầu tư tiếp nhận và đối chiếu điều kiện, Sở Xây dựng địa phương kiểm tra nhằm loại trừ việc một đối tượng được hỗ trợ nhiều lần và công an cấp xã phối hợp hậu kiểm thông tin thu nhập theo quy định mới tại Nghị định 54/2026.
Ba lớp kiểm tra đó, trên lý thuyết, đủ để một bộ hồ sơ khống không thể lọt qua. Thực tế lại cho thấy hàng trăm bộ đã lọt qua tại dự án Thống Nhất Smart City và dự án khu dân cư Đại Thắng.
Khi một cơ chế 3 lớp không chặn được hành vi được thực hiện công khai thì cơ chế đó chỉ tồn tại trên văn bản hoặc là có người ở một trong 3 lớp đã “nhắm mắt cho qua”.
Cả hai khả năng đều đặt ra câu hỏi về trách nhiệm của cơ quan chức năng chứ không chỉ của nhóm môi giới bị khởi tố.
Chỉ thị số 34/CT-TTg ngày 11.12.2025 của Thủ tướng Chính phủ đã xác định rất rõ nguyên tắc trách nhiệm. UBND các tỉnh, thành phố chịu trách nhiệm toàn diện trước Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về kết quả thực hiện chính sách phát triển, bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở xã hội trên địa bàn.
Bộ Xây dựng có trách nhiệm hướng dẫn, hoàn thiện hệ thống thông tin phục vụ hậu kiểm trên phạm vi cả nước và tổ chức kiểm tra chuyên đề. Bộ Công an có trách nhiệm chỉ đạo công an cấp xã xác nhận điều kiện thu nhập và điều tra các hành vi môi giới trái phép.
Cả 3 cấp đều được giao nhiệm vụ cụ thể. Thế nhưng từ tháng 12.2025 đến nay, chưa có địa phương nào công khai danh tính cán bộ Sở Xây dựng hoặc công an cấp xã đã ký xác nhận trên các bộ hồ sơ bị làm giả mà hàng trăm căn hộ đã được bán. Chưa có chủ đầu tư nào bị xử lý hành chính với lý do tiếp nhận hồ sơ không đủ điều kiện.
Một chính sách an sinh xã hội không thể chỉ được bảo vệ bằng việc khởi tố nhóm môi giới ở vòng ngoài. Nghị định 54/2026/NĐ-CP đã bổ sung cơ chế công khai danh sách người mua sau khi ký hợp đồng lên hệ thống thông tin quốc gia về nhà ở và thị trường bất động sản. Đồng thời giao công an cấp xã phối hợp hậu kiểm thu nhập trong các trường hợp cần thiết. Nhưng cơ chế hậu kiểm chỉ có ý nghĩa khi đi kèm một cơ chế truy trách nhiệm rõ ràng đối với người đã ký xác nhận sai.
Nếu một cán bộ xã ký xác nhận tình trạng nhà ở hoặc xác nhận thu nhập cho người không đủ điều kiện, hành vi đó có thể cấu thành tội “thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” theo điều 360 bộ luật Hình sự, hoặc tội “lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ” theo điều 356 nếu có yếu tố vụ lợi.
Niềm tin vào chính sách an sinh xã hội không bị xói mòn bởi vài nhóm môi giới. Nó bị xói mòn khi người lao động thu nhập thấp sau khi tuân thủ đầy đủ quy định, vẫn nhìn thấy những căn hộ đáng lẽ dành cho mình được sang tay công khai với giá chênh lệch hàng trăm triệu đồng.
Một chính sách lớn không thể vận hành bằng những cú hích từ trên xuống mỗi khi có vụ việc nổi cộm. Nó phải vận hành bằng một cơ chế chịu trách nhiệm thường trực tại chính nơi bộ hồ sơ được ký xác nhận.
Từ 2 vụ án tại Bắc Ninh và Thái Nguyên, điều cần làm không phải là ban hành thêm chỉ thị hay thông tư. Cần làm ngay 3 việc cụ thể để thay đổi tình hình.
Thứ nhất là công khai trên cổng thông tin Sở Xây dựng danh tính đầy đủ của cán bộ đã ký xác nhận đối tượng và điều kiện thu nhập trên mỗi bộ hồ sơ được duyệt, kèm theo cơ chế khiếu nại của người dân.
Thứ hai là mở rộng điều tra các vụ án đã khởi tố theo hướng xem xét trách nhiệm hình sự của người ký xác nhận sai theo điều 360 hoặc điều 356 bộ luật Hình sự, không để dừng lại ở nhóm môi giới trung gian.
Thứ ba là bổ sung vào luật Nhà ở một điều khoản về trách nhiệm liên đới của chủ đầu tư khi tiếp nhận hồ sơ không đủ điều kiện, thay vì chỉ buộc người mua phải trả lại căn hộ.
Khi chịu trách nhiệm được phân bổ đều trên toàn bộ chuỗi xét duyệt, hành vi hợp thức hóa sẽ không còn chỗ để hình thành mặt bằng giá công khai như đã xảy ra.
Mục tiêu một triệu căn nhà ở xã hội đến năm 2030 không thể đạt được bằng những con số tiến độ trên báo cáo. Nó chỉ có ý nghĩa khi người công nhân thu nhập 8 triệu đồng/tháng tin rằng nếu mình tuân thủ đúng quy trình, mình sẽ có cơ hội.
Niềm tin một khi đã mất thì không thể khôi phục bằng cách khởi tố thêm vài nhóm môi giới mà chỉ có thể khôi phục bằng việc để người thu nhập thấp nhìn thấy cán bộ nào đã ký xác nhận sai phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với hậu quả họ gây ra.
Đó không phải là một yêu cầu khắt khe mà là điều kiện tối thiểu để một chính sách an sinh xã hội giữ được tính chính danh.
Ngày 8/5, ông Hoàng Văn Chuyên, Phó chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Thanh Hóa, cho biết đơn vị đang triển khai phương án xử lý hàng trăm cây muội hồng thu giữ từ các vụ khai thác, vận chuyển, buôn bán trái phép thời gian qua.
Đến nay, kiểm lâm toàn tỉnh đã phát hiện, xử lý 49 vụ vi phạm liên quan cây muội hồng, thu giữ gần 560 cây và hơn 260 phôi cây, xử phạt hơn 260 triệu đồng.
Tuy nhiên, quá trình bảo quản tang vật phát sinh nhiều khó khăn do đặc tính sinh trưởng của loài cây này. Muội hồng chủ yếu sống trên núi đá, rễ bám sâu trong khe đá nên sau khi bị đào khỏi tự nhiên rất khó chăm sóc, tỷ lệ sống thấp.
"Tang vật sau khi thu giữ đều được yêu cầu giâm gốc, chăm sóc ngay để giữ cây sống. Dù vậy, nhiều cây đã chết từ trước khi bị phát hiện hoặc chết trong quá trình bảo quản", ông Chuyên nói.
Tại vườn quốc gia Bến En, đơn vị này đã tiếp nhận hơn 120 cây, phôi muội hồng từ lực lượng kiểm lâm bàn giao. Tuy nhiên, chỉ khoảng 40 cây còn sống, số còn lại đã chết khô, không còn khả năng phục hồi. Phần lớn là cây già, được nhận định đã sinh sống hàng chục năm trên núi đá.
Trong khi đó, tại Hạt Kiểm lâm Như Thanh, nhiều cây muội hồng bị chất đống trong góc nhà, thân khô quắt, lá rụng hết. Đại diện đơn vị thừa nhận một số cây khi thu giữ đã chết, số còn sống dù được ươm trồng vẫn héo dần do thiếu kinh nghiệm chăm sóc.
Theo lãnh đạo Chi cục Kiểm lâm Thanh Hóa, hiện đơn vị đã thống nhất phương án chuyển giao toàn bộ cây muội hồng còn sống cho hai vườn quốc gia và hai khu bảo tồn thiên nhiên trên địa bàn để tiếp tục chăm sóc, bảo tồn.
"Trong quá trình bàn giao sẽ kiểm đếm, phân loại cây còn sống và đã chết", ông Chuyên nói và cho hay quan điểm của ngành là không thanh lý tang vật để tránh thương mại hóa loài cây. Đối với số cây đã chết, kiểm lâm cho biết sẽ tiêu hủy.
Theo đánh giá của cơ quan chuyên môn, muội hồng không phải loài thực vật quý hiếm thuộc nhóm bảo vệ đặc biệt, cũng không có giá trị nghiên cứu cao để làm tiêu bản bảo tồn.
Trước đó ngày 15/4, Sở Nông nghiệp và Môi trường Thanh Hóa đã có văn bản yêu cầu các đơn vị liên quan khẩn trương xây dựng phương án xử lý tang vật vi phạm hành chính là cây muội hồng sau khi có quyết định tịch thu.
Theo chỉ đạo, tang vật sau tịch thu thuộc sở hữu toàn dân, việc xử lý phải tuân thủ đầy đủ trình tự pháp luật. Trong thời gian chưa bàn giao, các đơn vị quản lý phải chịu trách nhiệm bảo quản, tránh để hư hỏng hoặc thất thoát.
Dù vậy, đến nay mới chỉ có vườn quốc gia Bến En tiếp nhận cây muội hồng về chăm sóc, các đơn vị còn lại vẫn chưa hoàn tất việc tiếp nhận.
Muội hồng có tên khoa học Syzygium myrtifolium, thuộc họ sim, mọc chủ yếu trên các mỏm đá cheo leo hoặc trong những cánh rừng tự nhiên có trữ lượng thấp. Thời gian gần đây, loài cây này bất ngờ được giới chơi sinh vật cảnh săn lùng để làm bonsai, trưng bày trong phòng trà, quán cà phê hoặc spa, được mệnh danh là "nữ hoàng phòng trà".
Cơn sốt muội hồng khiến nhiều người dân đổ xô vào rừng khai thác trái phép. Theo Chi cục Kiểm lâm Thanh Hóa, việc đào bới ồ ạt không chỉ ảnh hưởng đến hệ sinh thái rừng tự nhiên mà còn tiềm ẩn nguy cơ tai nạn do địa hình hiểm trở. Tại Thanh Hóa đã có hai trường hợp rơi từ núi đá tử vong khi đi khai thác muội hồng, ông Chuyên cho biết thêm.
Theo quy định của Luật Lâm nghiệp năm 2017, việc khai thác lâm sản trong rừng tự nhiên phải được cơ quan có thẩm quyền cho phép. Do đó, hành vi tự ý vào rừng đào, vận chuyển hoặc mua bán cây muội hồng khi chưa được cấp phép đều bị xem là khai thác lâm sản trái phép.
Ngoài xử phạt hành chính, trường hợp gây thiệt hại nghiêm trọng cho rừng hoặc tổ chức khai thác quy mô lớn còn có thể bị xem xét trách nhiệm hình sự.
Theo tờ trình dự thảo, hiện Học viện Cán bộ TP.HCM trực thuộc Thành ủy, Viện Nghiên cứu phát triển TP.HCM trực thuộc UBND TP.HCM và Trường Đoàn Lý Tự Trọng thuộc Thành Đoàn TP.HCM đều là các đơn vị sự nghiệp có tính chất bổ trợ nhưng thuộc các cơ quan quản lý khác nhau.
Việc sáp nhập để tập trung nguồn lực về tài chính, cơ sở vật chất và nhân lực vào một đầu mối, tạo sự gắn kết giữa nghiên cứu và đào tạo.
Các kết quả nghiên cứu của Viện Nghiên cứu phát triển sẽ được chuyển hóa thành nội dung đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức; đồng thời phục vụ đào tạo, huấn luyện đội ngũ cán bộ Đoàn, Hội, Đội và cung cấp cơ sở dữ liệu phục vụ hoàn thiện thể chế, đáp ứng yêu cầu xây dựng cơ quan đào tạo, nghiên cứu chuyên sâu cho hệ thống chính trị của thành phố.
Đề án xác định việc sáp nhập gắn với đổi mới tổ chức bộ máy và phương thức lãnh đạo, bảo đảm nâng cao hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động, đồng thời kế thừa và phát huy thế mạnh của từng đơn vị.
Trong đó, Học viện Cán bộ TP.HCM tiếp tục phát huy truyền thống đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; Viện Nghiên cứu phát triển phát huy năng lực nghiên cứu khoa học, tham mưu chiến lược; Trường Đoàn Lý Tự Trọng tiếp tục đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ Đoàn, Hội, Đội.
Sau sắp xếp, Học viện Cán bộ TP.HCM được định hướng trở thành trung tâm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức và nguồn nhân lực cho nền công vụ, đồng thời là đơn vị nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, nghiên cứu chuyên sâu về chính sách phát triển.
Đề án đề xuất sáp nhập Viện Nghiên cứu phát triển TP.HCM (không bao gồm Trung tâm Tư vấn ứng dụng kinh tế) và Trường Đoàn Lý Tự Trọng vào Học viện Cán bộ TP.HCM, tiếp tục sử dụng tên gọi Học viện Cán bộ TP.HCM.
Học viện sẽ đồng thời thực hiện chức năng của trường chính trị cấp tỉnh theo quy định của Ban Bí thư, chức năng đào tạo đại học và sau đại học theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ, đồng thời kế thừa chức năng, nhiệm vụ của Viện Nghiên cứu phát triển TP.HCM và Trường Đoàn Lý Tự Trọng.
Về tổ chức bộ máy, đề án đề xuất sắp xếp từ 21 đơn vị hiện có của ba cơ quan xuống còn 10 đơn vị. Trong đó gồm 3 phòng, 3 khoa, 1 viện, 2 trung tâm và 1 trường trực thuộc Học viện Cán bộ TP.HCM.
Đồng thời, Trung tâm Tư vấn ứng dụng kinh tế thuộc Viện Nghiên cứu phát triển sẽ được chuyển nguyên trạng về trực thuộc Cơ quan điều hành Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam tại TP.HCM.
Theo đề án, sau sắp xếp, bộ máy Học viện Cán bộ TP.HCM được tổ chức lại từ 21 đơn vị xuống còn 10 đơn vị, gồm 3 phòng, 3 khoa, 1 viện, 2 trung tâm và 1 trường trực thuộc. Đồng thời, Trung tâm Tư vấn ứng dụng kinh tế được chuyển nguyên trạng về Cơ quan điều hành Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam tại TP.HCM.
Ba phòng chuyên môn gồm Phòng Tổ chức, hành chính, quản trị; Phòng Quản lý đào tạo; Phòng Quản lý khoa học, thông tin, tư liệu. Trong đó, Phòng Tổ chức, hành chính, quản trị được sáp nhập từ các bộ phận có chức năng tương đồng, hai phòng còn lại giữ nguyên.
Ba khoa gồm Khoa Xây dựng Đảng, Khoa Lý luận cơ sở và Khoa Nhà nước và Pháp luật tiếp tục được giữ nguyên.
Đề án thành lập Viện Nghiên cứu phát triển trực thuộc Học viện Cán bộ TP.HCM trên cơ sở sáp nhập các phòng chuyên môn của Viện Nghiên cứu phát triển hiện nay. Sau sắp xếp, viện mới gồm 3 phòng chuyên môn và Văn phòng Viện, đồng thời tiếp nhận thêm một số chức năng nghiên cứu về hội nhập quốc tế, chuyển đổi xanh và phát triển bền vững.
Trung tâm Bồi dưỡng và Dịch vụ được tổ chức lại trên cơ sở sắp xếp Trung tâm Đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ và ngoại ngữ của Học viện, đồng thời tiếp nhận một số chức năng từ Viện Nghiên cứu phát triển. Trung tâm có nhiệm vụ tổ chức các chương trình bồi dưỡng, liên kết đào tạo, cung cấp dịch vụ hỗ trợ người học, khai thác cơ sở vật chất và hỗ trợ hội nhập quốc tế.
Trung tâm Mô phỏng và Dự báo kinh tế - xã hội TP.HCM được giữ nguyên. Trường Đoàn Lý Tự Trọng trở thành đơn vị trực thuộc Học viện Cán bộ TP.HCM, tiếp tục thực hiện nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng và huấn luyện đội ngũ cán bộ Đoàn, Hội, Đội.
Đề án dự kiến bố trí 246 biên chế, gồm 63 biên chế của Học viện Cán bộ TP.HCM, 48 biên chế của Trường Chính trị Bình Dương và Trường Chính trị Bà Rịa, 130 biên chế của Viện Nghiên cứu phát triển và 5 biên chế của Trường Đoàn Lý Tự Trọng.
Học viện Cán bộ TP.HCM sẽ tiếp nhận toàn bộ cơ sở vật chất, trang thiết bị của Viện Nghiên cứu phát triển và Trường Đoàn Lý Tự Trọng, quản lý 7 cơ sở.
Đối với trụ sở Trường Đoàn Lý Tự Trọng tại số 3 đường Dân Chủ (phường Thủ Đức), trình Ban Chấp hành Đảng bộ TP.HCM xem xét điều chỉnh đề án số 22 để tiếp tục giao Học viện Cán bộ TP.HCM quản lý, sử dụng làm nơi đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ Đoàn, Hội, Đội.
Như Thanh Niên đã thông tin, Bộ Xây dựng vừa báo cáo Thủ tướng Chính phủ về việc nghiên cứu đầu tư cầu cạn tại khu vực ĐBSCL. Nghiên cứu này xuất phát từ yêu cầu thực tế khi việc thần tốc nối dài cao tốc về vựa lúa của cả nước thời gian qua đã đồng thời bộc lộ những dấu hiệu ảnh hưởng về địa chất của khu vực.
Theo quy hoạch, từ nay đến năm 2030, khu vực ĐBSCL sẽ đưa vào khai thác ít nhất hơn 1.200 km đường bộ cao tốc, chưa kể hàng trăm ki lô mét quốc lộ và đường dân sinh cần được nâng cấp, mở rộng. Những dự án quy mô lớn cùng triển khai tại vùng địa chất "siêu nhạy cảm" này đang đặt ra yêu cầu cấp bách có phương án thi công hợp lý, bền vững.
Bộ Xây dựng cho biết các dự án tại ĐBSCL có tính chất đặc thù như điều kiện địa chất rất yếu, địa hình chia cắt bởi hệ thống kênh rạch, chịu ảnh hưởng nặng nề của biến đổi khí hậu, nước biển dâng, đặc biệt là phải xử lý nền đất yếu với thời gian chờ lún kéo dài (khoảng 12 - 16 tháng). Diễn biến lún phức tạp và kéo dài theo thời gian cũng như sử dụng nguồn vật liệu đá, cát đắp rất lớn.
Sau khi tổ chức so sánh, đánh giá giữa giải pháp xây dựng đường cao tốc tại ĐBSCL trên nền đất với giải pháp xây trên cầu cạn, Bộ Xây dựng kiến nghị đối với các dự án triển khai giai đoạn 2026 - 2030 và các năm tiếp theo sẽ ưu tiên sử dụng phương án cầu cạn, nhất là cho các khu vực nền đất yếu, khu vực địa hình khó khăn, phức tạp phải đào sâu đắp cao.
Nhận xét về kiến nghị "ưu tiên sử dụng phương án cầu cạn" khi xây dựng cao tốc tại khu vực ĐBSCL, bạn đọc (BĐ) Minh Nghĩa nêu: "Trước đây, câu chuyện này đã được đặt ra khi phương án cầu cạn có những ưu điểm nổi trội so với phương án đắp nền như không chiếm quỹ đất, thi công ít ảnh hưởng tới đời sống người dân địa phương, song thời điểm đó ít được chọn vì vốn đầu tư ban đầu lớn".
Nối tiếp ý kiến này, BĐ Liêm cho rằng với đặc thù địa chất của vùng ĐBSCL, nếu nhìn theo tổng thể thì việc chấp nhận mức đầu tư cao hơn ở thời điểm ban đầu là phương án hợp lý: "Tuy đắt hơn nhưng đáng. Làm đường trên cao, cầu cạn là phương án hợp lý. Thách thức về nền đất yếu được giải quyết, nỗi lo khan hiếm cát bồi đắp nền được giải tỏa. Giá trị đầu tư dự án tăng nhưng thi công sẽ nhanh, chất lượng hơn, không băn khoăn với nỗi lo trễ tiến độ".
Đồng quan điểm, BĐ Sanh Pham chia sẻ: "Khan hiếm cát và quản lý cát vẫn là thách thức với ngành xây dựng. Để thay thế, ngành xây dựng đã tính tới phương án dùng cát biển, cát từ đá nghiền, cát phế liệu từ mỏ đá, cát nhân tạo từ thủy tinh, xỉ quặng, từ phế liệu như xà bần xây dựng… Giải pháp nào cũng phải tính toán sao cho tiết kiệm, tránh lãng phí đất, cát tại chỗ. Chúng ta đang thiếu cát xây dựng thì càng phải chấp nhận đầu tư để ưu tiên mô hình thiết kế phù hợp, trong trường hợp này chính là ưu tiên phương án cầu cạn khi xây dựng cao tốc cho ĐBSCL".
Tán thành kiến nghị của Bộ Xây dựng, BĐ Le Nam đánh giá hiệu quả đầu tư cao tốc cho khu vực ĐBSCL "cần tính toán theo vòng đời dự án". BĐ này phân tích thêm: "Nếu dùng phương án đắp nền phổ biến thì thời gian để quay lại duy tu, bồi đắp cao tốc lại ngắn hơn vì nền đất yếu. Tưởng tiết kiệm ban đầu, nhưng hóa ra chi phí tổng thể cho vòng đời dự án lại phình to hơn, chủ yếu tốn kém cho khâu duy tu, bảo dưỡng…".
BĐ Cuong Trinh nhận xét: "Quan trọng hơn cả là Bộ Xây dựng cũng khẳng định phương án cầu cạn có thể rút ngắn thời gian thi công cao tốc so với phương án đắp nền khoảng 10 - 12 tháng. Nếu so sánh về thời gian thi công để đưa cao tốc vào vận hành thì độ chênh chi phí đầu tư ban đầu là chấp nhận được".
Cùng nhận định, BĐ Tran Phan lưu ý: "Câu chuyện khai thác cát ở ĐBSCL đang rất nóng vì tình trạng sạt lở, sụt lún. Phát triển hệ thống cao tốc cho ĐBSCL là rất cấp thiết nhưng cần đảm bảo sự cấp thiết này không gây ra những nỗi lo hay ý kiến tranh cãi khác nhau về tình trạng sạt lở, sụt lún bờ sông".
Từ những ý kiến trên, BĐ Trường Lưu đề nghị: "Các dự án cần lựa chọn kết hợp giữa phương án đắp nền hay cầu cạn tùy vào điều kiện địa chất từng đoạn, khu vực ĐBSCL để tối ưu hóa chi phí nhưng vẫn đẩy nhanh tiến độ, đảm bảo chất lượng".