Tại bang Tennessee (Mỹ), công ty trí tuệ nhân tạo của tỷ phú Elon Musk vừa ráo riết lắp đặt hàng loạt hệ thống pin Megapack khổng lồ với mục đích rất rõ ràng rằng siêu máy tính cần nguồn điện liên tục, và lưới điện truyền thống đang bộc lộ sự chậm chạp.
Cùng thời điểm, từ những trung tâm năng lượng mặt trời ở Texas, thảo nguyên Nội Mông (Trung Quốc) cho đến khu đất của một nhà máy than cũ phía bắc Sydney, hàng loạt siêu dự án lưu trữ điện đang xếp hàng chờ hòa lưới.
Theo Bloomberg, một làn sóng thâu tóm lưới điện toàn cầu đang diễn ra âm thầm nhưng mãnh liệt, được dẫn dắt bởi một thiết bị quen thuộc, đó là pin lưu trữ.
Cơn lốc giảm giá từ “công xưởng” thế giới
Động lực lớn nhất đằng sau sự bùng nổ này là bài toán kinh tế. Theo dữ liệu từ BloombergNEF, chi phí pin đã bốc hơi tới 75% trong giai đoạn 2018-2025. Giới phân tích dự báo mức giá này sẽ còn tiếp tục giảm thêm 25% từ nay đến năm 2035.
Nguyên nhân cốt lõi của cú sập giá này đến từ “cơn dư cung” tại Trung Quốc. Việc đầu tư ồ ạt để phát triển chuỗi cung ứng xe điện trong nhiều năm qua đã tạo ra một lượng pin khổng lồ. Hệ quả là giá thành lao dốc, đẩy các sản phẩm lưu trữ tràn ngập thị trường toàn cầu.
Kịch bản này đang lặp lại chính xác những gì đã xảy ra với ngành điện mặt trời sau năm 2021. Đáng chú ý, giá pin vẫn liên tục phá đáy ngay cả khi chi phí của nhiều công nghệ năng lượng sạch khác đang có dấu hiệu tăng lên.
Nhờ mức giá ngày càng rẻ, năm nay được kỳ vọng sẽ trở thành bước ngoặt đưa pin lưu trữ thành nhân tố có ảnh hưởng sâu rộng trong hệ thống năng lượng. Các nhà phân tích dự báo công suất lắp đặt toàn cầu sẽ tăng khoảng 1/3 ngay trong năm nay, dẫn dắt bởi các thị trường châu Âu, Trung Đông, châu Phi và Mỹ Latinh.
Lợi nhuận từ việc “mua đáy, bán đỉnh” điện năng
Khi chi phí đầu tư không còn là gánh nặng, cách vận hành của thị trường điện bắt đầu thay đổi. Tại những khu vực có tỷ trọng năng lượng tái tạo cao, pin đóng vai trò như một nhà buôn sành sỏi. Hệ thống sẽ tự động mua điện vào lúc giá rẻ khi dư thừa nắng, gió, và bán ra thị trường khi nhu cầu tiêu thụ tạo đỉnh.
Trước đây, hệ thống điện phải phụ thuộc hoàn toàn vào nhiệt điện than và khí đốt mỗi khi nguồn năng lượng tái tạo suy giảm. Giờ đây, pin lưu trữ đang chứng minh khả năng thay thế với chi phí rẻ hơn và tốc độ phản hồi nhanh hơn.
Tại Australia, thị trường pin lớn nhất tính theo đầu người, hệ thống lưu trữ có thời điểm đã cung cấp nhiều điện hơn cả các nhà máy khí đốt vào giờ cao điểm buổi tối.
Sự xuất hiện của các “siêu pin” đang định hình lại cấu trúc hạ tầng năng lượng. Tại Nội Mông (Trung Quốc), 3 dự án khổng lồ với tổng công suất 7,4 GWh đang được triển khai. Tại Australia, dự án Waratah Super Battery cũng đang thay đổi hoàn toàn cách thức phân phối điện năng.
Công nghệ cũng không ngừng tiến hóa để đáp ứng nhu cầu thị trường. Bên cạnh dòng pin lithium-ion truyền thống, các công nghệ mới như pin oxy hóa sắt của Form Energy đang gây chú ý. Công nghệ này cho phép lưu trữ điện năng lên tới 100 giờ, cao gấp 25 lần so với các loại pin thông thường hiện nay.
Châu Âu loay hoay, Việt Nam rục rịch chuyển mình
Nhu cầu lưu trữ năng lượng đang trở nên cấp bách hơn bao giờ hết, đặc biệt là tại châu Âu. Sự phát triển quá nóng của năng lượng tái tạo tại khu vực này đang gây áp lực nghiêm trọng lên lưới điện, khiến sản lượng và giá điện biến động mạnh.
Chỉ tính riêng tại Đức, quốc gia này có thể đối mặt khoản thiệt hại lên tới 3,7 tỷ euro trong năm nay do buộc phải cắt giảm công suất điện tái tạo dư thừa. Để giải quyết bài toán này, công suất lưu trữ tại châu Âu được dự báo sẽ tăng gấp 5 lần vào cuối thập kỷ, nhảy vọt từ khoảng 50 GW năm 2025 lên 75 GW vào cuối 2026.
Xu hướng lưu trữ năng lượng đang bắt đầu hiện diện rõ hơn tại Việt Nam, trong bối cảnh chi phí nhiên liệu tăng cao và một số dự án điện khí LNG đã tính đến phương án chuyển sang mô hình tái tạo kết hợp pin lưu trữ (BESS). Tuy nhiên, thị trường hiện vẫn ở giai đoạn sơ khai, thiếu hệ thống tiêu chuẩn và khung pháp lý hoàn chỉnh.
Theo ông Bùi Xuân Bình, Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc GG Power, giai đoạn trước thị trường chủ yếu do các đơn vị thương mại dẫn dắt, “nhạy xu hướng nhưng thiếu nền tảng R&D và tư duy sản xuất công nghiệp”.
Ông cho biết thêm: “Họ còn dè chừng vì tiêu chuẩn, quy định và chính sách cho sản phẩm này chưa được hình thành. Thực tế, đã xuất hiện tình trạng lắp ráp pin từ linh kiện cũ, kém chất lượng mà không tuân thủ quy chuẩn an toàn.
Dù vậy, dư địa tăng trưởng được đánh giá là rất lớn. Kế hoạch thúc đẩy khoảng 14 triệu hộ gia đình lắp đặt điện mặt trời kèm pin lưu trữ đến năm 2030 mở ra quy mô thị trường lên tới hàng tỷ USD. “Đây là một thị trường siêu lớn. Mỗi nhà chỉ cần lắp hệ thống 5kW, nhân với 14 triệu hộ, quy mô đã lên tới nhiều tỷ USD”, ông Bình nhấn mạnh.
Rào cản lớn nhất hiện nay lại nằm ở tâm lý người tiêu dùng. Pin lưu trữ vẫn là khái niệm mới, trong khi lo ngại về an toàn khi đặt một hệ thống pin lớn trong gia đình chưa được giải tỏa. Theo ông, chìa khóa nằm ở việc sản phẩm phải đạt các tiêu chuẩn khắt khe quốc tế, đồng thời doanh nghiệp cần kiên trì “giáo dục thị trường”, giúp người dùng hiểu và trải nghiệm thực tế.
Dù ngành pin toàn cầu vẫn đang đối mặt với nhiều rào cản như sự phụ thuộc vào chuỗi cung ứng Trung Quốc, rủi ro địa chính trị hay tình trạng tắc nghẽn lưới điện, xu hướng điện hóa là không thể đảo ngược.
Ông Brent Wanner từ Cơ quan Năng lượng Quốc tế khẳng định: “Bất cứ khoản đầu tư nào vào hệ thống điện hiện nay đều phải tính đến pin”. Trong kỷ nguyên năng lượng mới, ai kiểm soát được công nghệ lưu trữ, người đó sẽ nắm giữ lợi thế vận hành toàn bộ hệ thống điện tương lai.
Nhiều doanh nghiệp năng lượng tái tạo vừa công bố tình hình tài chính năm 2025 ghi nhận kết quả kinh doanh không mấy khả quan, thậm chí nhiều doanh nghiệp thua lỗ.
Cụ thể, Công ty cổ phần Năng lượng Hồng Phong 1 (HP1C) - chủ đầu tư nhà máy điện mặt trời Hồng Phong 1A công suất 150MW (Bình Thuận cũ) vừa công bố tình hình tài chính năm 2025, với khoản lỗ sau thuế hơn 180,7 tỷ đồng.
Trong khi đó, năm 2024, doanh nghiệp này ghi nhận mức lãi 71,3 tỷ đồng. Tại thời điểm cuối năm 2025, vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp giảm từ 1.254 tỷ đồng xuống còn 1.073 tỷ đồng.
Hệ số nợ/vốn chủ sở hữu tăng từ 2,83 lên 3,2 lần, với tổng nợ phải trả lên tới gần 3.439 tỷ đồng. Dư nợ trái phiếu chiếm hơn 2.100 tỷ đồng.
Tương tự, Công ty cổ phần Năng lượng Hồng Phong 2 - chủ đầu tư dự án Nhà máy điện mặt trời Hồng Phong 1B công suất 100MW (Bình Thuận cũ) cũng ghi nhận khoản lỗ hơn 97 tỷ đồng trong năm 2025, trái ngược với mức lãi hơn 55 tỷ đồng của năm trước.
Vốn chủ sở hữu doanh nghiệp giảm từ hơn 1.019 tỷ đồng xuống còn hơn 922 tỷ đồng, trong khi tổng nợ phải trả tăng lên hơn 1.671 tỷ đồng.
Theo báo cáo tài chính năm 2025 vừa công bố, Công ty TNHH Đầu tư và Phát triển Điện mặt trời KN Vạn Ninh - chủ đầu tư Dự án Nhà máy điện mặt trời KN Vạn Ninh (Khánh Hòa) ghi nhận lãi sau thuế giảm từ hơn 45 tỷ đồng xuống còn hơn 26 tỷ đồng, tương đương mức giảm khoảng 42%.
Tổng nợ phải trả tại cuối năm 2025 ở mức 1.276 tỷ đồng, dù đã giảm khoảng 84 tỷ đồng so với năm trước. Trái phiếu doanh nghiệp tiếp tục chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu nợ với hơn 808 tỷ đồng, toàn bộ là trái phiếu phát hành riêng lẻ trong nước.
Ở chiều ngược lại, một số doanh nghiệp điện tái tạo vẫn duy trì được lợi nhuận. Chẳng hạn, Công ty cổ phần điện gió Bắc Phương - chủ đầu tư Nhà máy điện gió Đông Hải 1 giai đoạn 2 (Bạc Liêu cũ) ghi nhận lãi sau thuế năm 2025 đạt hơn 48 tỷ đồng, tăng gần 12% so với năm 2024.
Tương tự, Công ty cổ phần điện gió Phong Liệu - chủ đầu tư dự án nhà máy điện gió Phong Liệu tại Quảng Trị ghi nhận lãi sau thuế năm 2025 đạt hơn 163,6 tỷ đồng, tăng hơn 14% so với năm 2024.
Công ty cổ phần Ea Súp 1 - chủ đầu tư Nhà máy Điện mặt trời Ea Súp 1 (Đắk Lắk) ghi nhận lợi nhuận sau thuế năm 2025 đạt hơn 66,3 tỷ đồng, tăng nhẹ so với mức gần 65 tỷ đồng của năm 2024.
Trong khi đó, Công ty cổ phần Ea Súp 3 - chủ đầu tư dự án Nhà máy điện mặt trời Ea Súp 3 (Đắk Lắk) - ghi nhận lợi nhuận sau thuế hơn 278 tỷ đồng trong năm 2025, giảm mạnh so với mức hơn 459 tỷ đồng của năm trước đó.
Sáng 9-4, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã cho ý kiến về dự án nghị quyết của Quốc hội về việc ban hành một số quy định về thuế bảo vệ môi trường, thuế giá trị gia tăng (VAT), thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xăng, dầu và nhiên liệu bay.
Theo tờ trình của Chính phủ, xung đột tại Trung Đông làm giá năng lượng, đặc biệt là dầu mỏ và khí đốt biến động mạnh, nguồn cung xăng dầu bị gián đoạn, giá dầu thô thế giới có xu hướng tiếp tục tăng cao.
Các tác động này đã ảnh hưởng lớn đến nguồn cung, thị trường xăng dầu trong nước, làm giá xăng dầu tăng cao trong thời gian ngắn, ảnh hưởng đến sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, người dân.
Trong thời gian vừa qua, để góp phần đa dạng hóa nguồn cung, bình ổn giá xăng dầu trong nước, Chính phủ và Thủ tướng đã chỉ đạo sử dụng nhiều công cụ về chính sách tài khóa.
Tuy nhiên, đây chỉ là giải pháp cấp bách áp dụng trong thời gian ngắn, trong khi tình hình xung đột ở Trung Đông vẫn tiếp tục diễn biến khó lường và tác động trực tiếp đến thị trường xăng dầu trong nước.
Vì vậy, để đảm bảo mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát, ổn định tâm lý và đời sống người dân cũng như doanh nghiệp, cần xây dựng chính sách có thời hạn dài hơn để trình Quốc hội ban hành theo thẩm quyền.
Bộ Tài chính trình Chính phủ để trình Quốc hội sớm xem xét, thông qua dự án nghị quyết ngay tại đầu kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI.
Theo đó, dự thảo nghị quyết quy định mức thuế bảo vệ môi trường, thuế VAT, thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xăng, dầu và nhiên liệu bay như sau:
Mức thuế bảo vệ môi trường đối với xăng (trừ ethanol), dầu diesel, nhiên liệu bay, dầu hỏa và dầu mazut là 0 đồng/lít.
Xăng, dầu diesel, nhiên liệu bay, dầu hỏa và dầu mazut thuộc đối tượng không phải kê khai, tính nộp thuế VAT nhưng được khấu trừ thuế VAT đầu vào. Mức thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xăng các loại là 0%.
Về thời hạn áp dụng, Chính phủ đề xuất từ ngày 16-4 đến hết 30-6 và giao Thủ tướng ban hành quyết định cá biệt để điều chỉnh (rút ngắn hoặc kéo dài) hiệu lực của nghị quyết để bảo đảm việc điều hành thị trường xăng, dầu trong nước phù hợp với diễn biến giá dầu thế giới.
Báo cáo thẩm tra sơ bộ về dự thảo nghị quyết, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính Phan Văn Mãi cho biết thường trực Ủy ban cơ bản nhất trí với sự cần thiết ban hành chính sách để điều chỉnh một số quy định về thuế bảo vệ môi trường, thuế VAT, thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xăng, dầu và nhiên liệu bay theo đề xuất của Chính phủ.
Thảo luận về nội dung này, các ý kiến đề nghị Chính phủ có các giải pháp tổng thể, đồng bộ từ điều hành giá, minh bạch hóa các thành phần cấu thành giá xăng dầu cơ sở đến bảo đảm chuỗi cung ứng.
Đồng thời cần tăng cường kiểm tra, xử lý nghiêm các hành vi đầu cơ, găm hàng, kiểm soát hóa đơn điện tử minh bạch, chặt chẽ để xác nhận tính thực tế của các chi phí đầu vào của các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu, tránh trục lợi chính sách...
Kết luận nội dung này, Phó chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Hồng cho biết Ủy ban Thường vụ Quốc hội cơ bản nhất trí với sự cần thiết ban hành một nghị quyết riêng của Quốc hội về chính sách điều chỉnh một số quy định về thuế với xăng dầu theo đề xuất của Chính phủ.
Việc này nhằm kịp thời bổ sung các giải pháp đồng bộ, hiệu quả, góp phần giảm thiểu tác động tiêu cực do khan hiếm nhiên liệu và biến động tăng giá, ảnh hưởng đến sản xuất, kinh doanh và đời sống nhân dân, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì mục tiêu tăng trưởng.
Ủy ban Thường vụ Quốc hội thống nhất trình Quốc hội xem xét, quyết định về mức thuế bảo vệ môi trường, thuế VAT, thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xăng dầu và nhiên liệu bay với mức thuế suất như đề xuất của Chính phủ.
Giao Chính phủ quyết định điều chỉnh, rút ngắn hoặc kéo dài hiệu lực của nghị quyết, cân nhắc bổ sung quy định trong trường hợp khẩn cấp và giao Chính phủ điều chỉnh mức thuế tại nghị quyết, báo cáo lại Quốc hội tại kỳ họp gần nhất...
Tôi đồng tình với ý kiến của ông Ju Liang ở Đại học Vân Nam trong bài "Kho lạnh bảo vệ nông dân" (Tuổi Trẻ ngày 27-4), thủ phạm lại là một mắt xích tưởng khô khan: kho lạnh tại nguồn.
Nông sản Việt Nam có một nghịch lý đau lòng. Chúng ta đứng hàng đầu thế giới về xuất khẩu thanh long, sầu riêng, cà phê, hồ tiêu; xuất khẩu rau quả năm 2025 đạt khoảng 8,5 tỉ USD.
Nhưng giá trị thu về mỗi ha canh tác vẫn thấp hơn Thái Lan, thua xa Chile hay New Zealand ở cùng nhóm sản phẩm. Vì sao? Phần lớn câu trả lời nằm ở 24 giờ đầu tiên sau thu hoạch - khoảng thời gian mà trái cây, rau củ bắt đầu "chết" sinh học nếu không được hạ nhiệt kịp thời.
Con số gây sốc: tỉ lệ tổn thất sau thu hoạch của ngành rau quả Việt Nam ở mức 20 - 40% tùy mặt hàng, theo báo cáo của Hiệp hội Rau quả Việt Nam tại Hội nghị xúc tiến thương mại tháng 6-2025. Tính ra thiệt hại kinh tế lên tới 3,5 - 4,1 tỉ USD mỗi năm - một khoản "thuế tàng hình" mà ngành nông nghiệp đang âm thầm trả.
Trong khi đó toàn quốc hiện chỉ có khoảng 117 kho lạnh chuyên nghiệp. Tới 90% trong số đó phục vụ đông lạnh sâu cho thủy sản và thịt. Kho mát chuyên dụng (0 - 15oC) cho trái cây tươi - vốn là trái tim của chuỗi giá trị nông sản xuất khẩu - gần như là khoảng trống trên bản đồ hạ tầng.
Hệ quả là người nông dân buộc phải bán ngay, bán vội. Mỗi đợt "được mùa rớt giá" lại có kêu gọi "giải cứu". Nhưng "giải cứu" là dấu hiệu của một chuỗi cung ứng không có vùng đệm.
Trong kinh tế học vận trù, kho lạnh cho phép nông dân và hợp tác xã giữ hàng lại 3 - 7 ngày - đủ để thương lượng, đủ để đón sóng giá, khớp đơn xuất khẩu. Không có vùng đệm, bên bán mất quyền thương lượng. Đó là "lời nguyền vỉa hè": nông sản chín cây, đồng hồ sinh học đếm ngược từng giờ, và người mua nắm thế thượng phong.
Bài học từ Chile và Nam Phi về táo, nho và cam rất đáng suy ngẫm. Họ không xuất khẩu theo mùa vụ tự nhiên. Họ xuất khẩu theo nhịp điệu do chính họ thiết kế, nhờ hệ thống kho lạnh điều tiết từ trang trại ra cảng. Khi người bán kiểm soát được nhịp độ, quyền định giá tự khắc chuyển dịch.
Thái Lan không vượt Việt Nam về diện tích canh tác trái cây, nhưng vượt xa về giá trị xuất khẩu trên mỗi tấn. Bí quyết nằm ở mô hình các trạm sơ chế và kho mát đặt ngay tại vùng trồng.
Sầu riêng Monthong hái xong được đưa vào buồng tiền làm lạnh trong vài giờ rồi phân loại theo chuẩn xuất khẩu tại chỗ. Chuỗi này không chỉ giữ được phẩm cấp mà còn cho phép Thái Lan truy xuất nguồn gốc đến từng lô hàng - điều kiện sống còn để chinh phục các thị trường khắt khe.
Ấn Độ theo hướng khác. Chương trình Mega Food Parks và các gói tín dụng thuộc Bộ Công nghiệp chế biến thực phẩm hỗ trợ 35 - 50% chi phí đầu tư hạ tầng chuỗi lạnh cho doanh nghiệp nội.
Với vùng như đông bắc Ấn và vùng xa, mức hỗ trợ có thể tới 75%. Cơ chế rõ ràng: Nhà nước không làm kho, nhưng "kích" dòng vốn tư nhân chảy vào khu vực nông thôn - nơi vốn không đủ hấp dẫn với logic thị trường thuần túy.
Trung Quốc thì đi xa hơn nữa. Chỉ riêng một huyện Chu Chí (Thiểm Tây) đã có tới 3.000 kho lạnh phục vụ vùng táo - nhiều hơn tổng số kho lạnh chuyên nghiệp của cả Việt Nam gấp hàng chục lần.
Thứ nhất, Việt Nam cần quy hoạch quỹ đất logistics chuyên biệt tại các vùng trồng trọng điểm - Đồng bằng sông Cửu Long cho trái cây, Tây Nguyên cho cà phê và bơ, Đông Nam Bộ cho rau quả xuất khẩu. Đất cho kho lạnh phải nằm trong quy hoạch hạ tầng nông nghiệp - logistics tích hợp, không bị đẩy sang nhóm "đất thương mại dịch vụ" với giá thuê phi lý khiến bài toán đầu tư vỡ trận ngay từ đầu.
Thứ hai, và là sống còn nhất: giá điện. Kho lạnh tiêu thụ điện gấp 4 - 6 lần kho thường trên cùng diện tích. Nếu ngành sản xuất có giá điện ưu đãi, không có lý do gì hạ tầng cold chain phục vụ nông nghiệp - ngành trực tiếp tạo sinh kế cho hơn 30 triệu người - lại bị áp giá điện kinh doanh. Đây là sự công bằng chính sách.
Thứ ba, tiếp cận vốn. Một gói tín dụng chuyên biệt cho hạ tầng chuỗi lạnh, với lãi suất và thời hạn phù hợp chu kỳ hoàn vốn 7 - 10 năm, hoàn toàn khả thi nếu có sự phối hợp giữa Ngân hàng Nhà nước, Ngân hàng Phát triển Việt Nam và các ngân hàng thương mại. Mô hình bảo lãnh tín dụng qua Quỹ Bảo lãnh doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể được sử dụng.
Mất một vụ mùa, nông dân thiệt một năm. Mất một thập kỷ không đầu tư kho lạnh tại nguồn, ngành nông sản Việt mất quyền định giá cả một thế hệ. Với 3,5 - 4,1 tỉ USD tổn thất mỗi năm, chúng ta đang trả cho sự trì hoãn một cái giá đủ để xây dựng một hệ thống kho lạnh tại nguồn hoàn chỉnh trên cả nước chỉ trong vòng 5 năm.