Tại buổi lễ khởi công, Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh cho biết sân bay Phan Thiết được quy hoạch và nghiên cứu đầu tư từ năm 2014. Đây là cảng hàng không lưỡng dụng, quân sự kết hợp dân sự.
Trong đó, Thủ tướng giao Bộ Quốc phòng làm chủ đầu tư các hạng mục quân sự như: đường cất hạ cánh, đường lăn và khu quân sự. Cuối năm 2025, Quân chủng Phòng không – Không quân (Bộ Quốc phòng) đã đưa hạng mục quân sự vào hoạt động.
Riêng UBND tỉnh Bình Thuận (nay là Lâm Đồng) làm chủ đầu tư dự án dân dụng như: nhà ga, sân đỗ và hạ tầng hàng không dân dụng.
Đối với các hạng mục dân dụng, sau khoảng 10 năm và trải qua nhiều lần điều chỉnh thủ tục đầu tư, đến nay Sun Group là đơn vị khởi động trở lại.
Theo ông Minh, đây là cảng hàng không dân dụng đầu tiên tại Việt Nam được đầu tư bằng nguồn vốn tư nhân và sử dụng hạ tầng lưỡng dụng là đường cất hạ cánh, đường lăn do quân đội đầu tư để phục vụ cả nhiệm vụ quốc phòng lẫn phát triển kinh tế – xã hội.
Giai đoạn 2026 – 2030, Nhà nước sẽ đầu tư khoảng hơn 1,5 triệu tỉ đồng vào hạ tầng, trong đó hạ tầng giao thông là ưu tiên hàng đầu, với mục tiêu dẫn dắt, kích hoạt đầu tư.
“Cảng hàng không dân dụng Phan Thiết là một trong những dự án như vậy, thể hiện rất rõ chủ trương phát triển hạ tầng đồng bộ, hiện đại, gắn với thu hút đầu tư tư nhân theo tinh thần Nghị quyết số 68 của Bộ Chính trị”, Bộ trưởng Trần Hồng Minh chia sẻ.
Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng Hồ Văn Mười cho rằng đây là dự án mang tầm chiến lược, có vai trò kết nối tỉnh với các trung tâm kinh tế lớn trong nước và ngoài nước.
Tại buổi lễ, ông Đặng Minh Trường – Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Sun Group – cam kết sẽ tập trung tối đa nguồn lực để hoàn thành và đưa dự án vào khai thác trong năm 2027.
Theo ông Trường, đây là sân bay thứ ba (sau Vân Đồn, Phú Quốc) mà Sun Group tham gia phát triển.
“Cảng hàng không Phan Thiết không chỉ là một công trình hạ tầng, mà còn là mảnh ghép khởi đầu cho hệ sinh thái du lịch – nghỉ dưỡng – hàng không quy mô lớn mà Sun Group định hướng đầu tư tại Lâm Đồng trong thời gian tới.
Qua đó góp phần hình thành không gian phát triển mới, thúc đẩy các ngành dịch vụ, logistics và nâng cao năng lực thu hút đầu tư cho toàn khu vực”, ông Trường cho hay.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ
Kinh Doanh
Tin tức sáng 3-5: Casino, karaoke sẽ rời khỏi nhóm 'kinh doanh có điều kiện'?

Bộ Tư pháp đã công bố hồ sơ dự thảo nghị quyết của Chính phủ phân quyền, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh.
Theo đó, dự thảo đề xuất cắt giảm, phân quyền, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh thuộc phạm vi quản lý của các Bộ Công an, Công Thương, Khoa học và Công nghệ, Nội vụ, Quốc phòng, Tư pháp, Tài chính, Xây dựng, Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Y tế, Giáo dục và Đào tạo.
Việc này thực hiện theo cơ chế đặc biệt xử lý khó khăn, vướng mắc do quy định của pháp luật tại nghị quyết 206/2025 của Quốc hội.
Dự thảo đề nghị điều chỉnh nội dung phân quyền 20 thủ tục hành chính gồm 6 thủ tục hành chính lĩnh vực công thương và 14 thủ tục hành chính khác, đồng thời không quy định 283 điều kiện kinh doanh.
Trong đó có 1 điều kiện kinh doanh lĩnh vực tư pháp, 40 điều kiện kinh doanh lĩnh vực y tế, 198 điều kiện kinh doanh lĩnh vực công thương, 20 điều kiện kinh doanh lĩnh vực tài chính, 23 điều kiện kinh doanh lĩnh vực văn hóa, thể thao và du lịch, 1 điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng.
Dự thảo cũng đề xuất đơn giản hóa 45 thủ tục hành chính, gồm 13 thủ tục hành chính lĩnh vực y tế, 18 thủ tục hành chính lĩnh vực công thương, 2 thủ tục hành chính lĩnh vực tài chính, 12 thủ tục hành chính lĩnh vực văn hóa, thể thao và du lịch.
Về thời gian và chi phí tuân thủ, dự thảo nêu rõ đã cắt giảm 2.406 ngày tương ứng với cắt giảm chi phí là 298.316,212 triệu đồng. Theo dự thảo tờ trình, có 87 văn bản quy phạm pháp luật cần sửa đổi, trong đó 28 luật, 36 nghị định, 21 thông tư, 2 thông tư liên tịch.
Bộ Tài chính đang lấy ý kiến về dự thảo nghị quyết của Chính phủ cắt giảm ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện.
Tại dự thảo, Bộ Tài chính đề xuất cắt giảm 58 ngành, nghề kinh doanh có điều kiện quy định tại Luật Đầu tư.
Gồm hành nghề đấu giá tài sản, hành nghề thừa hành viên, kiểm định chất lượng giáo dục, hoạt động liên kết đào tạo với nước ngoài, kinh doanh hàng miễn thuế, kinh doanh tái bảo hiểm, môi giới bảo hiểm, đại lý bảo hiểm, kinh doanh casino, kinh doanh dịch vụ karaoke và vũ trường, kinh doanh đặt cược, kinh doanh rượu, xuất khẩu gạo, sản xuất lắp ráp, nhập khẩu ô tô…
Bộ Tài chính cũng đề xuất sửa đổi phạm vi của 12 ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện quy định tại Luật Đầu tư. Trong đó có hoạt động kinh doanh bảo hiểm, trò chơi có thưởng, giáo dục mầm non…
Ba ngày đầu kỳ nghỉ 30-4 và 1-5 đã đánh dấu sức bật mạnh mẽ về du lịch tại nhiều địa phương khi lượng khách tăng cao, nhiều cơ sở lưu trú kín phòng, sản phẩm biển đảo - văn hóa - sinh thái hút khách. Công tác tổ chức, bảo đảm an toàn được siết chặt, góp phần củng cố hình ảnh điểm đến hấp dẫn trong mùa cao điểm.
Tại tỉnh Khánh Hòa, ở khu vực Bãi Dài (Cam Ranh), các khu nghỉ dưỡng cao cấp nơi đây thu hút đông du khách, chủ yếu là khách gia đình. Nhiều cơ sở lưu trú như The Anam, Alma, Ana Mandara Cam Ranh đạt gần 100% công suất phòng. Với hơn 70.000 phòng lưu trú trên toàn tỉnh, ngành du lịch cơ bản đáp ứng nhu cầu tăng cao trong dịp lễ.
Dọc tuyến biển Trần Phú, Phạm Văn Đồng các khu vực thuộc phường Nha Trang luôn đông người dân và du khách tắm biển, vui chơi. Khu vui chơi giải trí VinWonders Nha Trang tiếp tục là điểm đến thu hút đông khách. Nhiều hoạt động văn hóa, nghệ thuật, diễu hành và trình diễn pháo hoa được tổ chức, tạo điểm nhấn cho du lịch biển đảo.
Bên cạnh đó, du lịch văn hóa ghi nhận sức hút rõ nét. Di tích quốc gia đặc biệt Tháp Bà Ponagar đón gần 12.000 lượt khách trong các ngày nghỉ lễ. Du khách tham quan, trải nghiệm các hoạt động truyền thống như dệt thổ cẩm, làm gốm, thưởng thức nghệ thuật dân gian.
Đáng chú ý, khu du lịch Nha Trang Xưa trở thành điểm đến mới thu hút đông đảo du khách trong dịp lễ với chương trình "Vui đại lễ - Chạm sắc Việt" diễn ra từ ngày 20-4 đến 3-5. Không gian tái hiện làng quê truyền thống mang đến trải nghiệm văn hóa đặc sắc, kết hợp tham quan, chụp ảnh và nghỉ dưỡng.
Theo Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Khánh Hòa, trong các ngày lễ không ghi nhận vụ việc nghiêm trọng; công tác đảm bảo an toàn cho người dân và du khách được duy trì hiệu quả. Ngành chức năng tăng cường kiểm soát chất lượng dịch vụ, chưa ghi nhận phản ánh tiêu cực trong dịp lễ.
* Dịp nghỉ lễ này, tỉnh Đồng Tháp đón 397.034 lượt khách du lịch, tăng 250% so với cùng kỳ; tổng thu đạt hơn 140 tỉ đồng, tăng 202% so với cùng kỳ.
Đáng chú ý, những địa điểm du lịch như Vườn quốc gia Tràm Chim (xã Tràm Chim), bãi biển Tân Thành (xã Gò Công Đông), trại rắn Đồng Tâm, làng cổ Đông Hòa Hiệp (xã Cái Bè), cù lao Tân Phong (xã Ngũ Hiệp), Khu bảo tồn sinh thái Đồng Tháp Mười (xã Tân Phước)… đón hàng ngàn lượt khách tham quan.
Năm 2026, du lịch Đồng Tháp phấn đấu thu hút 8 triệu lượt khách, trong đó 870.000 lượt khách quốc tế, tổng thu du lịch đạt 4.800 tỉ đồng.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

Bà Nguyễn Thị Hương, Cục trưởng Cục Thống kê, Bộ Tài chính cho biết trong cuộc trao đổi với Tuổi trẻ về chủ đề biến dữ liệu thành tài nguyên số quốc gia.
* Thưa bà, Chính phủ đang đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, trong đó dữ liệu là tài nguyên số, vậy ngành Thống kê - cơ quan tập trung dữ liệu kinh tế, xã hội lớn nhất cả nước đã, đang và sẽ làm gì để biến số liệu, dữ liệu thống kê thành tài nguyên phát triển kinh tế số đất nước?
- Trong bối cảnh Chính phủ đang đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia và xác định dữ liệu là tài nguyên số quốc gia, ngành Thống kê nhận thức rõ trách nhiệm trong việc sản xuất và cung cấp thông tin thống kê chất lượng cao, kịp thời, minh bạch để số liệu thống kê trở thành tài nguyên phát triển kinh tế số đất nước.
Theo đó, quy trình sản xuất thông tin thống kê đã được ban hành mới theo hướng hiện đại hóa, làm cơ sở cho chuyển đổi số toàn diện.
Hình thức thu thập thông tin thống kê được chuyển đổi từ phiếu giấy sang phiếu điều tra điện tử (bao gồm phương thức phỏng vấn trực tiếp sử dụng thiết bị di động (CAPI) và phỏng vấn gián tiếp sử dụng webform) cho toàn bộ các cuộc điều tra giúp nâng cao đáng kể tính kịp thời và chất lượng dữ liệu thống kê.
Đồng thời, công tác chuẩn hóa danh mục, khái niệm, chỉ tiêu thống kê cũng được tăng cường để bảo đảm tính so sánh và khả năng liên thông dữ liệu.
Việc xây dựng cơ sở dữ liệu thống kê quốc gia cũng được đẩy mạnh nhằm chuyển đổi căn bản và toàn diện việc sản xuất, sử dụng thông tin thống kê.
Hiện tại, cục đã hoàn thành giai đoạn một - xây dựng Kho dữ liệu thống kê tổng hợp, kết nối, cung cấp dữ liệu cho Trung tâm dữ liệu quốc gia - là tài nguyên dùng chung trong hệ thống cơ quan nhà nước. Và để nâng cao độ bao phủ, tính chính xác của dữ liệu thống kê, cục khai thác, sử dụng dữ liệu hành chính thu thập từ các cơ quan bộ, ngành trong sản xuất thống kê
Để biến số liệu thống kê thành tài nguyên số quốc gia, ngành Thống kê đang tập trung xây dựng các phương pháp, chỉ tiêu nghiệp vụ thống kê nhằm đáp ứng nhu cầu của Đảng, Chính phủ trong việc ban hành các chương trình, nghị quyết thúc đẩy phát triển kinh tế số, xã hội số, chính phủ số.
Đối với xây dựng hạ tầng dữ liệu thống kê hiện đại gồm: Kho dữ liệu thống kê vi mô tập trung phục vụ đa dạng nhu cầu khai thác của các cơ quan, doanh nghiệp, người dân. Kho metadata phục vụ hiểu đúng, sử dụng đúng giá trị của dữ liệu thống kê đồng thời phục vụ chuẩn hóa, quản lý dữ liệu thống kê.
Ngoài ra, Cục Thống kê đang tăng cường khai thác các nguồn dữ liệu hành chính có tính pháp lý từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về doanh nghiệp, Cơ sở dữ liệu quản lý thuế để tận dụng dữ liệu sẵn có, đáng tin cậy để sản xuất và cung cấp thông tin thống kê bảo đảm chất lượng, kịp thời.
Xây dựng nền tảng số quản lý dữ liệu thống kê dùng chung và các nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu để tập trung hóa các hoạt động quản lý, thu thập, xử lý, tích hợp, tổng hợp dữ liệu thống kê, qua đó cung cấp, chia sẻ tài nguyên dữ liệu tin cậy, đa dạng cho các đối tượng người dùng.
Trong quản lý dữ liệu, ngành Thống kế cũng áp dụng các thông lệ quốc tế về quản trị, quản lý dữ liệu, nâng cao chất lượng, độ tin cậy, tính minh bạch và khả năng tái sử dụng, chia sẻ và liên thông dữ liệu.
Thời gian tới, ngành Thống kê sẽ tiếp tục chuyển đổi mạnh mẽ, trước hết là đổi mới phương thức sản xuất thông tin thống kê từ mô hình dựa chủ yếu vào điều tra thống kê và báo cáo thống kê sang mô hình sản xuất thông tin thống kê dựa trên dữ liệu đa nguồn, trong đó dữ liệu hành chính giữ vai trò nền tảng, kết hợp với dữ liệu lớn, dữ liệu địa không gian và các nguồn dữ liệu khác nhằm nâng cao chất lượng, tính đầy đủ, tính kịp thời.
Đổi mới quy trình sản xuất thông tin thống kê theo mô hình GSBPM (Generic Statistical Business Process Model) phiên bản mới nhất, bảo đảm bao quát toàn bộ vòng đời dữ liệu.
Thực hiện đổi mới mô hình thông tin thống kê theo GSIM nhằm chuẩn hóa cấu trúc thông tin, bảo đảm khả năng chia sẻ và tái sử dụng dữ liệu. Xây dựng và áp dụng chuẩn trao đổi dữ liệu thống kê theo SDMX trong toàn bộ hệ thống thống kê. Xây dựng hệ thống tiêu chuẩn dữ liệu và siêu dữ liệu (metadata) thống nhất bảo đảm liên thông, tích hợp và khai thác hiệu quả dữ liệu.
Phát triển hệ sinh thái dữ liệu thống kê đồng bộ, hiện đại, từng bước hình thành kinh tế dữ liệu thống kê gắn với kinh tế dữ liệu quốc gia. Tiếp tục xây dựng, và vận hành cơ sở dữ liệu thống kê quốc gia theo hướng tập trung, tích hợp, kết nối với các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành.
Xây dựng, phát triển các sản phẩm dữ liệu thống kê có giá trị gia tăng cao cung cấp trên thị trường dữ liệu. Xây dựng và vận hành Cổng dữ liệu thống kê cung cấp dữ liệu mở miễn phí và dịch vụ dữ liệu có tính phí. Cung cấp dịch vụ kết nối, chia sẻ dữ liệu thống kê qua API và phát triển các dịch vụ dữ liệu thống kê trực tuyến khác phục vụ đa dạng đối tượng sử dụng.
Đồng thời, ngành Thống kê sẽ tăng cường ứng dụng các mô hình phân tích, dự báo hiện đại, phát triển hệ thống sản phẩm phân tích chuyên sâu phong phú, đa dạng.
Hoạt động phổ biến thông tin thống kê cũng được đổi mới theo hướng tăng cường trực quan hóa dữ liệu (dashboard, infographic), chuyển từ báo cáo tĩnh sang nền tảng dữ liệu tương tác, cho phép người dùng tự do tùy biến biểu đồ, chuỗi thời gian và trích xuất dữ liệu để tái sử dụng. Mở rộng cung cấp dữ liệu dưới dạng dịch vụ, phục vụ hiệu quả cho tất cả các đối tượng người dùng.
Thiết lập hệ thống đánh giá và giám sát chất lượng thống kê theo toàn bộ quy trình sản xuất thông tin, công khai minh bạch các tiêu chí chất lượng.
Có thể khẳng định, ngành Thống kê đang và sẽ đóng vai trò nòng cốt trong việc sản xuất dữ liệu thống kê thành một nguồn tài nguyên dữ liệu số quan trọng, góp phần nâng cao chất lượng điều hành, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển bền vững trong kỷ nguyên số.
* Định kỳ hàng tháng, hàng quý Cục Thống kê đều công bố rộng rãi báo cáo tình hình kinh tế - xã hội của đất nước trên báo chí, truyền thông, điều này có ý nghĩa gì với công tác điều hành kinh tế - xã hội, với người dân, doanh nghiệp, thời gian tới ngành sẽ tiếp tục đổi mới ra sao để mỗi con số thống kê thực sự "biết nói"?
- Việc Cục Thống kê định kỳ công bố thông tin kinh tế - xã hội hằng tháng, hằng quý có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với công tác quản lý, điều hành.
Đây là nguồn thông tin chính thống, tin cậy và có tính hệ thống, giúp Chính phủ, Thủ tướng, các bộ, ngành và địa phương theo dõi sát diễn biến tình hình, đánh giá đúng thực trạng và xu hướng phát triển của nền kinh tế, từ đó đưa ra các quyết sách đúng đắn, linh hoạt và hiệu quả hơn.
Đối với cộng đồng doanh nghiệp và nhà đầu tư, các thông tin thống kê công bố định kỳ không chỉ phản ánh bức tranh tổng thể của nền kinh tế mà còn cung cấp những tín hiệu quan trọng về thị trường, xu hướng sản xuất, tiêu dùng, đầu tư.
Trên cơ sở đó, các doanh nghiệp, nhà đầu tư chủ động điều chỉnh kế hoạch sản xuất, kinh doanh, phân bổ nguồn lực, mở rộng hay thu hẹp hoạt động một cách hợp lý, hạn chế rủi ro và nắm bắt cơ hội.
Còn với người dân và xã hội, việc công bố rộng rãi các chỉ tiêu kinh tế - xã hội góp phần nâng cao tính minh bạch, củng cố niềm tin vào công tác điều hành của Nhà nước, giúp công chúng có cái nhìn đầy đủ, khách quan hơn về tình hình phát triển của đất nước.
Trong bối cảnh công nghệ số phát triển mạnh mẽ như hiện nay, ngành Thống kê nhận thức rõ sứ mệnh phải luôn làm cho mỗi con số thực sự "biết nói" để dẫn dắt nhận thức và hỗ trợ ra quyết định.
Do vậy, trong thời gian tới, ngành sẽ tiếp tục đổi mới mạnh mẽ theo hướng nâng cao hơn nữa chất lượng, độ tin cậy và tính kịp thời của số liệu, bảo đảm phản ánh sát thực tiễn, đúng thực chất của nền kinh tế.
Một định hướng quan trọng khác là đẩy mạnh công tác phân tích, diễn giải số liệu, chuyển từ tư duy "có gì công bố nấy" sang chủ động cung cấp thông tin có chọn lọc, có chiều sâu, gắn với bối cảnh và xu hướng phát triển.
Các sản phẩm thống kê không chỉ là những bảng số liệu khô cứng, mà được bổ sung các nhận định, phân tích, dự báo, giúp người sử dụng hiểu đúng, hiểu sâu và khai thác hiệu quả hơn. Đồng thời, ngành cũng sẽ tăng cường ứng dụng công nghệ số, khai thác dữ liệu lớn, kết nối và chia sẻ dữ liệu với các bộ, ngành để mở rộng nguồn thông tin đầu vào, qua đó nâng cao chất lượng và tính toàn diện của số liệu thống kê.
Hình thức phổ biến thông tin thống kê cũng sẽ tiếp tục được đổi mới theo hướng trực quan, hiện đại và thân thiện hơn với người dùng, phù hợp với từng nhóm đối tượng khác nhau, từ nhà quản lý, nhà nghiên cứu đến doanh nghiệp và người dân.
Mục tiêu cuối cùng là để mỗi thông tin thống kê khi được công bố không chỉ dừng lại ở giá trị tham khảo, mà thực sự trở thành cơ sở tin cậy cho việc hoạch định chính sách, điều hành kinh tế và ra quyết định trong toàn xã hội.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

Nhận định trên được Thứ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Đức Tâm đưa ra trong cuộc trao đổi với Tuổi Trẻ về kết quả một năm thực hiện nghị quyết 68 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân (KTTN).
* Thưa ông, sau một năm thực hiện nghị quyết 68 của Bộ Chính trị về phát triển KTTN, đâu là những kết quả có thể đong đếm được?
- Khu vực KTTN đã được định vị là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế. Trên cơ sở đó, nhận thức cả hệ thống chính trị và toàn xã hội với khu vực này đã có sự chuyển biến rất rõ.
Thực tiễn sau một năm triển khai nghị quyết 68 của Bộ Chính trị, khu vực KTTN đã có những chuyển biến rõ nét.
Nghị quyết đã tạo hiệu ứng tích cực, lan tỏa mạnh mẽ tinh thần khởi nghiệp và kinh doanh. Ngay sau khi nghị quyết số 68 được ban hành và được thể chế hóa thông qua chương trình hành động của Chính phủ, khí thế khởi sự kinh doanh lan tỏa mạnh mẽ, thể hiện rõ qua số lượng doanh nghiệp (DN), hộ kinh doanh đăng ký mới và quay trở lại hoạt động tăng mạnh so với trước đó.
Từ tháng 5-2025 đến hết năm 2025, có khoảng 18.000 DN thành lập mới/tháng, số DN quay trở lại hoạt động đạt hơn 8.300 DN/tháng.
Tính chung năm 2025, tổng vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế của khu vực KTTN ước đạt gần 6,4 triệu tỉ đồng, tăng 77,8% so với cùng kỳ năm trước.
Trong 4 tháng đầu năm 2026, đà này tiếp tục được duy trì. Cả nước có gần 75.000 DN thành lập mới, với tổng vốn đăng ký hơn 730.000 tỉ đồng và tạo việc làm gần 400.000 lao động.
Bên cạnh đó, có hơn 48.000 DN quay trở lại hoạt động, nâng tổng số DN gia nhập và tái gia nhập thị trường lên gần 123.000 DN, tăng 36,7%.
Những kết quả trên cho thấy nghị quyết số 68 đã củng cố niềm tin, khơi thông động lực kinh doanh và thúc đẩy khu vực KTTN phát triển.
Bên cạnh đó, cùng với đà phục hồi kinh tế và niềm tin gia tăng của khu vực KTTN, việc chuẩn bị thành công lộ trình nâng hạng, thị trường chứng khoán Việt có bước khởi sắc sau khi nghị quyết số 68 được ban hành. Tính đến hết tháng 4-2026, tổng giá trị vốn hóa toàn thị trường đạt khoảng 10,5 triệu tỉ đồng, cao nhất từ trước đến nay, tương đương khoảng 82% GDP cả nước năm 2025.
Kết quả phục hồi và tăng trưởng sản xuất - kinh doanh của khu vực KTTN tác động tích cực tới thu ngân sách. Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026, tổng thu ngân sách ước đạt hơn 1,1 triệu tỉ đồng, tăng 15,2% so với cùng kỳ.
Việc triển khai nghị quyết số 68 còn tạo hiệu ứng lan tỏa trong huy động nguồn lực xã hội, thu hút các tập đoàn tư nhân lớn tham gia đầu tư các dự án hạ tầng chiến lược, quan trọng quốc gia. Nghị quyết góp phần định hình lại cấu trúc phát triển của khu vực KTTN, gia tăng vai trò của khu vực này trong thực hiện các mục tiêu phát triển nhanh, bền vững đất nước trong trung và dài hạn.
* Nghị quyết 68 đặt trọng tâm vào cải cách thể chế, cắt giảm thủ tục hành chính (TTHC) và chuyển từ "tiền kiểm" sang "hậu kiểm", vậy kết quả sau một năm thế nào?
- Ngay từ đầu tháng 4, Chính phủ đã ban hành 11 nghị quyết về cắt giảm (bãi bỏ), phân cấp và đơn giản hóa các TTHC, điều kiện kinh doanh thuộc các lĩnh vực quan trọng như tư pháp, đầu tư, môi trường.
Đồng thời, Thủ tướng đã ban hành 15 quyết định phê duyệt phương án cắt giảm TTHC, điều kiện kinh doanh thuộc phạm vi quản lý của 14 bộ, dự kiến sẽ bãi bỏ 606 TTHC, đơn giản hóa 2.479 TTHC.
Ngoài ra, một điểm cải cách lớn trong Luật Đầu tư vừa được Quốc hội thông qua là rà soát, cắt giảm mạnh danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện. Theo đó, Quốc hội cắt giảm 38 ngành, nghề và điều chỉnh phạm vi 20 ngành, nghề, phù hợp với tinh thần nghị quyết 68.
Luật Đầu tư cũng bổ sung các quy định để làm rõ nguyên tắc xác định điều kiện đầu tư kinh doanh, qua đó sàng lọc, phân định các ngành, nghề thực sự cần "tiền kiểm" và chuyển các ngành, nghề có thể kiểm soát bằng quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật do cấp có thẩm quyền ban hành sang cơ chế "hậu kiểm".
Không dừng lại ở đó, giữa tháng 5 vừa qua, Chính phủ đã ban hành 3 nghị quyết đặc thù về phân quyền, cắt giảm, đơn giản TTHC, điều kiện kinh doanh của 11 ngành, lĩnh vực và các ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện. Đây là cơ sở pháp lý vững chắc để thời gian tới tiếp tục đẩy mạnh cắt giảm, đơn giản hóa TTHC, điều kiện kinh doanh.
* Tăng cường cơ hội tiếp cận đất đai, mặt bằng cho khu vực KTTN cũng là một yêu cầu nghị quyết 68 đặt ra, điều này đã được cụ thể hóa ra sao?
- Tiếp cận đất đai, mặt bằng sản xuất, kinh doanh là một trong những điểm nghẽn lớn, kéo dài với khu vực KTTN, đặc biệt là DN nhỏ và vừa.
Tính đến hết năm 2025, cả nước có 324 khu công nghiệp đã đi vào hoạt động với khoảng 68.000ha đất công nghiệp, 153 khu đang trong quá trình xây dựng, dự kiến bổ sung khoảng 32.600ha đất công nghiệp thời gian tới.
Tỉ lệ lấp đầy tại các khu công nghiệp đã hoạt động khoảng 78,8%. Đúng là DN nhỏ và vừa thường gặp bất lợi hơn trong cạnh tranh thuê đất, thuê nhà xưởng so với các DN lớn.
Nghị quyết 68 đã xác định tạo thuận lợi cho KTTN tiếp cận các nguồn lực về đất đai, vốn, nhân lực chất lượng cao. Trong đó, đặt yêu cầu đẩy mạnh chuyển đổi số để tạo thuận lợi cho khu vực KTTN tiếp cận đất đai, mặt bằng sản xuất, kinh doanh, đồng thời có cơ chế, chính sách phù hợp để kiểm soát biến động giá đất, nhất là giá đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp.
Thời gian tới, trọng tâm là phải đưa chính sách hỗ trợ DN tư nhân tiếp cận đất đai, mặt bằng sản xuất đi vào thực chất, chuyển từ cách tiếp cận hỗ trợ chung sang hỗ trợ cụ thể.
Các địa phương cần nhanh chóng bố trí, dành quỹ đất cho các DN nhỏ và vừa theo quy định tại nghị quyết 198 năm 2025 của Quốc hội, song song đó cần xây dựng cơ chế vận hành và có chủ thể chịu trách nhiệm.
Về phía Bộ Tài chính, trong quá trình xây dựng dự thảo Luật Hỗ trợ DN nhỏ và vừa (sửa đổi), dự kiến trình Quốc hội tại kỳ họp thứ 2 vào tháng 10-2026, sẽ tiếp tục nghiên cứu theo hướng quy định rõ hơn trách nhiệm của địa phương, cơ chế công khai quỹ đất, phương thức hỗ trợ và nhóm đối tượng ưu tiên.
* Sau một năm thực hiện nghị quyết 68, theo ông đâu là những việc cần làm quyết liệt hơn?
- DN cảm nhận sự thay đổi không chỉ qua thông điệp đồng hành, mà qua thủ tục thuận lợi hơn, chi phí tuân thủ thấp hơn, khả năng tiếp cận nguồn lực tốt hơn và sự chủ động hơn từ cơ quan nhà nước. Vì vậy, cần tập trung mạnh vào tổ chức thực hiện và đo lường hiệu quả chính sách bằng chính trải nghiệm của DN, hộ kinh doanh.
Tôi cho rằng thông điệp xuyên suốt, nhất quán, không thay đổi trong phát triển KTTN là lấy DN làm trung tâm - lấy hiệu quả làm thước đo - lấy kết quả thực tế làm đánh giá cuối cùng.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

