Không mua được vé về quê vì giá cao, chị Hoàng Anh, ở phường An Hội Đông (TP HCM) chuyển sang tìm vé đi Thái Lan với kỳ vọng “dễ thở” hơn như những năm trước. Tuy nhiên, khi kiểm tra chặng TP HCM – Bangkok, chị tiếp tục bất ngờ vì giá tăng mạnh, nhiều chuyến ngày 29/4 chỉ còn hạng thương gia với giá hàng chục triệu đồng mỗi chiều. Kế hoạch đi nghỉ lễ của gia đình chị cuối cùng phải hủy.
Diễn biến này phản ánh rõ sự thay đổi của thị trường hàng không dịp lễ 30/4-1/5 năm nay. Nếu như trước đây, vé nội địa tăng mạnh, nhiều hành khách chuyển sang đi nước ngoài nhờ giá ổn định, thậm chí có khuyến mãi. Năm nay, lựa chọn này gần như không còn khi vé quốc tế cũng leo thang.
Theo ghi nhận từ các đại lý, những chặng bay từ TP HCM, Hà Nội đi Đông Nam Á tăng hơn 50% so với ngày thường và cao hơn khoảng 30% so với cùng kỳ năm ngoái. Giá khứ hồi đi Bangkok phổ biến 7,6-12 triệu đồng, còn chặng TP HCM-Singapore dao động 9-12 triệu đồng. Riêng các ngày cao điểm 29/4 và 30/4, nhiều chuyến bay đã hết sạch vé phổ thông, chỉ còn hạng thương gia với số lượng hạn chế. Giá vé tại các hãng như Singapore Airlines hay Scoot duy trì ở mức cao trong suốt giai đoạn này.
Theo bà Phạm Thị Hoài, chủ một đại lý vé máy bay tại phường Tân Thới Hiệp, đây là năm hiếm hoi giá vé quốc tế tăng mạnh trong dịp lễ, khi dải vé giá thấp gần như không còn; nếu có, khách phải đặt trước vài tháng và vẫn cao hơn cùng kỳ 10-20%.
Mặt bằng giá cao không chỉ dừng ở Đông Nam Á mà lan sang nhiều thị trường khác. Các chặng từ TP HCM đi Kuala Lumpur, Jakarta phổ biến trên 14 triệu đồng mỗi cặp vé khứ hồi, có thời điểm lên tới 20 triệu đồng. Ở khu vực Đông Bắc Á, các đường bay đi Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc duy trì mức 13-20 triệu đồng khứ hồi đã gồm thuế phí, trong khi một số chặng đến Đài Bắc, Thượng Hải tăng khoảng 15-20% so với ngày thường. Tỷ lệ lấp đầy trên nhiều chuyến bay quốc tế ngắn chiều về Hà Nội và TP HCM vượt 90%, cho thấy nguồn cung ghế không theo kịp nhu cầu tăng cao.
Trong khi vé quốc tế không còn là lựa chọn thay thế, thị trường nội địa cũng bước vào cao điểm quen thuộc. Loạt đường bay ghi nhận tình trạng hết vé hạng phổ thông như TP HCM đi Phú Quốc, Tuy Hòa, Côn Đảo, Pleiku; cùng các chặng từ Hà Nội đi Tuy Hòa, Nha Trang, Đà Nẵng, Đồng Hới. Nhu cầu tăng cao khiến nhiều khung giờ đẹp đã kín chỗ hoặc chỉ còn hạng giá cao.
Theo Cục Hàng không Việt Nam, trong bối cảnh giá nhiên liệu bay duy trì ở mức cao, cơ quan này đã đề xuất áp dụng phụ thu nhiên liệu đối với đường bay nội địa từ ngày 1/4 đến 30/6, với mức tối đa 680.000 đồng mỗi vé. Phụ thu được tính toán dựa trên chi phí tăng thêm khi giá Jet A-1 vượt 100 USD một thùng, theo nguyên tắc chia sẻ giữa doanh nghiệp và hành khách.
Áp lực chi phí cũng là nguyên nhân chính đẩy giá vé lên cao trên diện rộng. Căng thẳng tại Trung Đông khiến nhiều đường bay quốc tế phải điều chỉnh lộ trình, kéo dài thêm 2-3 giờ và làm mức tiêu hao nhiên liệu tăng 15-20%. Giá nhiên liệu Jet A-1 vì vậy duy trì ở mức cao, trong khi nguồn cung trong nước chỉ đáp ứng khoảng 20% nhu cầu, phần còn lại phụ thuộc nhập khẩu; một số nhà cung cấp đã trì hoãn giao hàng trong tháng 4 và có thể áp dụng điều khoản bất khả kháng.
Trong bối cảnh đó, các hãng hàng không chuyển sang trạng thái thận trọng, giảm tần suất ở một số đường bay và dồn chuyến để tối ưu hệ số lấp đầy. Báo cáo thường niên 2025 công bố mới đây của Tổng công ty Cảng hàng không Việt Nam (ACV), cho thấy các hãng ưu tiên khai thác đường bay trục chính và quốc tế, đồng thời cắt giảm các chuyến bay khung giờ đêm để tiết giảm chi phí. Xu hướng này cũng diễn ra trên thế giới khi các hãng như United Airlines và Delta Air Lines cắt giảm sản lượng ghế, còn Qatar Airways điều chỉnh mạng bay và hủy một số chuyến.
Áp lực chi phí phản ánh trực tiếp vào hoạt động của doanh nghiệp. Vietnam Airlines ước tính chi phí phát sinh thêm trong năm 2026 có thể lên tới 11.000-27.000 tỷ đồng, trong khi Vietjet Air cho biết riêng tháng 4, chi phí tăng thêm khoảng 24 triệu USD khi giá nhiên liệu duy trì quanh mức cao. Nhiều hãng cũng áp dụng phụ thu nhiên liệu linh hoạt từ 20 đến 200 USD mỗi vé tùy chặng để bù đắp chi phí.
Theo các chuyên gia hàng không, trong bối cảnh nguồn cung ghế bị thu hẹp còn nhu cầu du lịch dịp lễ tăng mạnh, cả thị trường nội địa lẫn quốc tế đều ghi nhận mặt bằng giá cao. Khi chi phí nhiên liệu chưa có dấu hiệu hạ nhiệt, lựa chọn của hành khách tiếp tục bị thu hẹp và giá vé nhiều khả năng duy trì ở mức cao trong ngắn hạn.
Theo Hãng tin Bloomberg ngày 18-5, Công ty cổ phần Vàng bạc đá quý Bảo Tín Mạnh Hải, một trong những nhà bán lẻ vàng lớn nhất Việt Nam, đang chuẩn bị cho đợt chào bán cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO) vào quý 4-2026.
Theo đó, doanh nghiệp kim hoàn có trụ sở tại Hà Nội này đang trong giai đoạn tiền IPO, và dự kiến bắt đầu giới thiệu đợt chào bán với các nhà đầu tư thông qua các buổi gặp gỡ từ tháng 6.
Trả lời báo chí, ông Vũ Hùng Sơn, Chủ tịch Bảo Tín Mạnh Hải, cho hay công ty dự định bán ít nhất 15% cổ phần trong đợt IPO, nhưng không cho biết về mục tiêu huy động vốn.
Bloomberg nhận định Việt Nam đang tiến hành cải cách thị trường vàng nhằm tăng nguồn cung nguyên liệu, thu hẹp chênh lệch giữa giá vàng trong nước và thế giới, đồng thời siết chặt quản lý.
Bối cảnh này đang làm thay đổi cục diện cạnh tranh của các doanh nghiệp trong ngành, trong đó có việc dỡ bỏ độc quyền nhà nước đối với hoạt động sản xuất vàng miếng.
Theo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, đã có 11 doanh nghiệp và tổ chức tín dụng nộp hồ sơ xin cấp phép sản xuất vàng miếng tính đến tháng 4-2026. Ông Sơn, người đồng thời là Phó chủ tịch Hiệp hội Kinh doanh vàng Việt Nam, cho biết Bảo Tín Mạnh Hải kỳ vọng sẽ được phê duyệt vào giữa năm nay.
Đợt IPO dự kiến tiếp thêm động lực cho thị trường sơ cấp của Việt Nam sau khi chỉ số VN-Index tăng khoảng 41% trong năm 2025, qua đó khơi lại sự quan tâm của nhà đầu tư và thúc đẩy các doanh nghiệp huy động vốn qua thị trường chứng khoán, nhằm phục vụ tăng trưởng. Tính từ đầu năm đến nay, VN-Index đã tăng hơn 7%.
Ông Sơn cho biết Bảo Tín Mạnh Hải đang làm việc với các đơn vị tư vấn, trong đó có SSI Securities, để chuẩn bị cho công tác định giá và niêm yết.
Công ty dự kiến niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán TP.HCM trong cùng quý diễn ra IPO, và hiện đã thảo luận với các nhà đầu tư chiến lược tiềm năng.
Nếu thành công, Bảo Tín Mạnh Hải sẽ trở thành doanh nghiệp vàng thứ hai của Việt Nam niêm yết trên sàn chứng khoán, sau Công ty cổ phần Vàng bạc đá quý Phú Nhuận (PNJ).
Theo số liệu công bố hồi tháng 3, Bảo Tín Mạnh Hải ghi nhận lợi nhuận sau thuế đạt 774 tỉ đồng (29,4 triệu USD) trong năm 2025 so với mức 21,9 tỉ đồng của năm 2024.
Doanh thu tăng lên gần 28.000 tỉ đồng từ khoảng 2.500 tỉ đồng một năm trước đó.
Theo đó, ông Lê Ngọc Lâm, tổng giám đốc BIDV, được bầu giữ chức Chủ tịch Hội đồng quản trị ngân hàng này nhiệm kỳ 2022-2027, thay ông Phan Đức Tú nghỉ hưu từ ngày 1-7.
Ông Lê Ngọc Lâm sinh năm 1975, có trình độ thạc sĩ Tài chính - Ngân hàng và đã gắn bó với BIDV từ năm 1997.
Trước khi được bầu làm chủ tịch Hội đồng quản trị, ông từng đảm nhiệm nhiều vị trí quan trọng như phó giám đốc Ban Quản lý rủi ro tín dụng, phó giám đốc Sở Giao dịch 1, giám đốc Ban Quản lý rủi ro tín dụng, giám đốc Ban Khách hàng doanh nghiệp, phó tổng giám đốc BIDV. Từ tháng 3-2021, ông giữ chức tổng giám đốc BIDV.
Cùng với đó, BIDV bổ nhiệm ông Hoàng Việt Hùng giữ chức tổng giám đốc với thời hạn 5 năm kể từ ngày 1-7.
Ông Hoàng Việt Hùng sinh năm 1972, công tác tại BIDV từ năm 1996. Trước khi được bổ nhiệm làm tổng giám đốc, ông là phó tổng giám đốc BIDV từ tháng 3-2020 và từng giữ chức giám đốc Ban Tổ chức nhân sự.
Trong đợt kiện toàn nhân sự này, BIDV cũng bổ nhiệm hai phó tổng giám đốc mới là ông Lê Huy Hoàng và ông Vũ Hoàng Dương.
BIDV được thành lập từ tháng 4-1057, hiện là ngân hàng có quy mô tài sản lớn nhất Việt Nam với tổng tài sản đạt 3,3 triệu tỉ đồng. Ngân hàng có vốn điều lệ 72.800 tỉ đồng, trong đó vốn Nhà nước đạt 55.861 tỉ đồng, tương ứng tỉ lệ sở hữu 76,73%.
Theo số liệu của Cục Hải Quan (Bộ Tài chính), ba tháng đầu năm, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Mỹ đạt khoảng 39 tỷ USD, giảm hơn 4,3 tỷ USD so với cùng kỳ năm ngoái, tương đương gần 10%.
Đà giảm xuất hiện ở nhiều nhóm hàng, nhất là ngành tiêu dùng. Trong đó, dệt may sụt mạnh nhất với hơn 1,2 tỷ USD, về còn hơn 3,9 tỷ USD.
Gỗ và sản phẩm gỗ giảm gần 1 tỷ USD, đạt khoảng 2 tỷ USD. Các sản phẩm nhựa, thủy sản cũng giảm, lần lượt còn 928 triệu USD và 343 triệu USD.
Ở nhóm hàng công nghiệp - công nghệ, xuất khẩu các mặt hàng điện tử, điện thoại sang nền kinh tế lớn nhất thế giới vẫn đạt gần 12,4 tỷ USD, trong khi máy móc, thiết bị linh kiện xấp xỉ 6,2 tỷ USD.
Tuy vậy, dữ liệu cho thấy nhu cầu tại Mỹ phục hồi chậm, đặc biệt với các mặt hàng mang tính chu kỳ và dễ bị cắt giảm chi tiêu như thời trang, đồ nội thất... trong bối cảnh căng thẳng Trung Đông leo thang từ cuối tháng 2 đến nay.
Xung đột tại biển Đỏ khiến doanh nghiệp đối diện áp lực kép, chi phí logistics tăng vọt, trong khi sức mua suy yếu. Hàng từ khu vực châu Á sang bờ Đông nước Mỹ buộc phải vòng qua Mũi Hảo Vọng (Nam Phi), kéo dài thời gian thêm 10-15 ngày, làm đội chi phí và gia tăng rủi ro trễ mùa vụ.
Với dệt may - ngành có biên lợi nhuận thấp, việc giao hàng chậm có thể khiến mất đơn; còn ngành gỗ chịu áp lực lớn hơn khi chi phí vận tải vốn chiếm tỷ trọng cao trong giá thành.
Ông Phạm Văn Việt, Chủ tịch HĐQT Công ty Việt Thắng Jean, cho biết chi phí nguyên liệu đã tăng 8-18%, trong khi cước vận chuyển đội thêm 4.000-5.000 USD mỗi container. Trong bối cảnh sức mua tại Mỹ yếu, doanh nghiệp buộc phải chia nhỏ đơn hàng, hạn chế vận chuyển đường hàng không và tìm cách mở rộng sang thị trường khác để giảm rủi ro.
Cùng xu hướng, ông Nguyễn Đình Tùng, CEO Vina T&T Group, cho biết từ đầu tháng 3, nhiều lô hàng xuất sang Mỹ phải điều chỉnh, thậm chí tạm hoãn khi xung đột Trung Đông bùng phát. Đến nay, chi phí vẫn neo cao khiến hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp bị gián đoạn. Để bù đắp, Vina T&T đẩy mạnh đưa hàng sang Australia, Nhật Bản và Trung Quốc.
Việt Nam chiếm hơn 45% thị phần đồ gỗ và khoảng 19% dệt may tại Mỹ, khiến hai ngành này rất nhạy cảm với biến động. Nếu căng thẳng Trung Đông kéo dài, các doanh nghiệp dự báo áp lực xuất khẩu nhiều khả năng còn tiếp diễn trong quý II khi chi phí logistics vẫn cao và sức mua chưa phục hồi.