Đây là nội dung đáng chú ý tại Nghị định 88/2026/NĐ-CP (có hiệu lực từ ngày 15.5.2026) về việc tạo lập và sử dụng dữ liệu giáo dục, đào tạo. Theo đó, mã số hồ sơ học tập suốt đời của công dân chính là số định danh cá nhân, để tra cứu học bạ, bằng cấp, chứng chỉ trên tài khoản định danh điện tử (VNeID), thay thế bản giấy.
Số định danh cá nhân này như chìa khóa để người dân truy cập vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về giáo dục. Các thông tin từ học bạ, văn bằng, chứng chỉ, kết quả học tập trên hệ thống dữ liệu này còn được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền số hóa trong VNeID và lưu trữ suốt đời.
Theo điều 8 của Nghị định 88/2026/NĐ-CP này, hệ thống giáo dục quốc dân sẽ tiến hành thu nhận và lưu giữ “Hồ sơ học tập suốt đời” của mỗi cá nhân.
Các dữ liệu này không chỉ đơn thuần là bằng tốt nghiệp mà bao quát toàn bộ lộ trình học tập, bao gồm: Học bạ điện tử ghi nhận quá trình học tập, kết quả rèn luyện của học sinh bậc phổ thông và giáo dục thường xuyên. Văn bằng, chứng chỉ: Các loại bằng tốt nghiệp các cấp học, chứng chỉ hoàn thành chương trình đào tạo, bồi dưỡng. Kết quả đại học, nghề nghiệp: Thông tin điểm số, kết quả học tập tại các trường đại học và cơ sở giáo dục nghề nghiệp. Thành tích và giải thưởng: Các thông tin chứng nhận giải thưởng, thành tích học tập do cơ quan có thẩm quyền cấp.
Ngoài ra, hồ sơ học tập trên VNeID còn có các dữ liệu khác như thông tin công nhận văn bằng nước ngoài, chứng nhận kết quả đánh giá năng lực và xác nhận đang theo học tại các cơ sở giáo dục.
Điểm mấu chốt mà người dân quan tâm chính là phương thức hiển thị và giá trị sử dụng của các loại giấy tờ này trên VNeID thế nào?
Theo Nghị định 88/2026/NĐ-CP quy định rõ quy trình số hóa, đó là sau khi dữ liệu được các cơ sở giáo dục cập nhật và lưu trữ hợp lệ trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về giáo dục và đào tạo, hệ thống sẽ tự động chia sẻ và tích hợp lên ứng dụng định danh điện tử VNeID.
Cá nhân có quyền khai thác dữ liệu học tập của bản thân trên VNeID để sử dụng tương đương cho các loại văn bản giấy liên quan.
Điều này đồng nghĩa với việc khi thực hiện bất kỳ các giao dịch dân sự, tuyển dụng hoặc thủ tục hành chính nào, người dân chỉ cần mở ứng dụng VNeID để xuất trình thông tin học bạ, bằng cấp mà không cần mang theo bản gốc hay bản sao chứng thực. Toàn bộ học bạ, bằng cấp sẽ tích hợp trong VNeID để người dân dễ dàng sử dụng.
Quy định về khai thác, sử dụng dữ liệu giáo dục và đào tạo theo Nghị định 88 cũng quy định chặt chẽ quyền tiếp cận thông tin để đảm bảo tính bảo mật.
Theo điều 12 Nghị định 88/2026/NĐ-CP quy định về khai thác, sử dụng dữ liệu giáo dục và đào tạo quy định việc sử dụng dữ liệu giáo dục và đào tạo được thực hiện theo quy định tại điều 16, điều 17, điều 21 luật Dữ liệu 2024 và các quy định của Nghị định 88/2026/NĐ-CP.
Cụ thể, các cá nhân được toàn quyền khai thác thông tin của chính mình. Cơ quan Đảng, Nhà nước, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội được khai thác và sử dụng dữ liệu giáo dục và đào tạo phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức đó.
Cơ sở giáo dục được khai thác, sử dụng dữ liệu giáo dục và đào tạo chứa thông tin về người học, nhà giáo thuộc phạm vi và đúng mục đích quản lý của đơn vị. Tổ chức, cá nhân khác chỉ được xem dữ liệu mở hoặc phải có sự đồng ý của chủ thể dữ liệu và đơn vị quản lý dữ liệu.
Tính đến nay, một số giấy tờ đã được tích hợp trên VNeID, cho phép người dân sử dụng thay thế bản cứng như: thẻ căn cước, giấy tạm trú, tạm vắng, giấy phép lái xe, đăng ký xe, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế… Các bản điện tử này có giá trị pháp lý tương đương thẻ cứng, có thể sử dụng trong nhiều giao dịch hành chính hoặc khi cần xuất trình giấy tờ tùy thân.
Sáng 3/6, làm việc với Đảng ủy Công an Trung ương về đề án xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, hài hòa, phát triển, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh xây dựng xã hội hiện đại là sự nghiệp của toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Ông yêu cầu tăng cường sự lãnh đạo toàn diện của Đảng, nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nước, phát huy vai trò của nhân dân, gia đình, cộng đồng, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội trong xây dựng xã hội văn minh, hiện đại. Việt Nam cần tiếp thu tinh hoa văn minh nhân loại, thành tựu khoa học công nghệ và quản trị tiên tiến, đồng thời giữ vững bản sắc văn hóa dân tộc, độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa trong quá trình phát triển đất nước.
Người đứng đầu Đảng, Nhà nước cho rằng phát triển đất nước phải bảo đảm hài hòa giữa vật chất và tinh thần, giữa kinh tế với văn hóa và con người; nâng cao đời sống tinh thần, củng cố niềm tin xã hội và hạnh phúc của nhân dân.
"Không để xã hội giàu lên về vật chất nhưng nghèo đi về văn hóa, đạo đức và các giá trị nhân văn", Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nói, đồng thời lưu ý không đánh đổi trật tự, kỷ cương, công bằng xã hội, môi trường và giá trị văn hóa để lấy tăng trưởng kinh tế đơn thuần.
Ông nhấn mạnh xây dựng con người là trung tâm, văn hóa là nền tảng, pháp luật và kỷ cương là trụ cột. Xây dựng xã hội văn minh xã hội chủ nghĩa trước hết là xây dựng con người Việt Nam thời kỳ mới có lý tưởng, nhân cách, văn hóa, ý thức công dân, tinh thần trách nhiệm và khả năng thích ứng với xã hội hiện đại. Quá trình này cần kết hợp chặt chẽ giữa đức trị và pháp trị, giữa giáo dục, thuyết phục với kỷ luật, kỷ cương và thượng tôn pháp luật.
Theo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, an ninh con người là trung tâm của phát triển và là thước đo bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa. Mọi chủ trương, chính sách phải hướng tới bảo vệ con người, nâng cao chất lượng cuộc sống, bảo đảm người dân được sống an toàn, lành mạnh, có cơ hội phát triển và thụ hưởng công bằng thành quả phát triển.
Ông cũng yêu cầu xây dựng nền quản trị xã hội hiện đại, chuyển mạnh từ quản lý sang quản trị và kiến tạo xã hội. Trong đó, dữ liệu là nền tảng, công nghệ số là công cụ và người dân là trung tâm. Hệ thống mục tiêu cần được rà soát theo hướng phản ánh trực tiếp chất lượng xã hội, chất lượng quản trị, mức độ an toàn, niềm tin, hạnh phúc và chất lượng sống của người dân.
Theo lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Nghị quyết này không làm thay các nghị quyết chuyên ngành, nhưng phải đóng vai trò tích hợp, kết nối và định hình mô hình xã hội Việt Nam trong thời kỳ mới, làm rõ những giá trị cũng như chuẩn mực và những yêu cầu tổng thể mà toàn hệ thống chính trị phải hướng tới trong quá trình xây dựng xã hội văn minh xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam trong thời gian tới.
Ngày 4.5, Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Gia Lai cho biết xác xe tăng được trục vớt ở bãi biển Quy Nhơn đã bị hư hỏng quá nặng và khó có khả năng phục dựng để trưng bày.
Theo đó, sau hơn 50 năm bị vùi lấp dưới cát và nước biển, hiện xác xe tăng chỉ còn lại phần khung kim loại hoen gỉ, không đủ căn cứ để nhận diện chủng loại hay phiên hiệu.
Chiếc xe có kích thước ước tính rộng khoảng 3 m, cao 2,7 m, dài gần 6 m (không tính nòng pháo). Phần tháp pháo đã mất, thân xe bị ăn mòn nghiêm trọng, nhiều chi tiết chỉ còn lại khung sắt và bánh răng.
Theo đại diện cơ quan quân sự, với hiện trạng xuống cấp nghiêm trọng, chiếc xe tăng khó có khả năng phục dựng hoặc trưng bày, dự kiến sẽ được tiếp nhận và xử lý theo quy định.
Qua các dấu vết ban đầu, phương tiện này được cho là thuộc một đơn vị của Sư đoàn 22, quân đội Việt Nam cộng hòa, bị phá hủy trong quá trình rút lui ngày 31.3.1975 tại khu vực cảng quân sự Quy Nhơn. Tuy nhiên, nhận định trên chưa thể kiểm chứng chắc chắn, bởi thời điểm đó có nhiều đơn vị cùng hiện diện và rút quân, khiến việc xác định nguồn gốc cụ thể gặp khó khăn.
Trước đó, chiều 29.4, khi thủy triều rút, lực lượng chức năng đã tổ chức trục vớt xác xe tăng ở bãi biển Quy Nhơn. Khi được đưa lên, bên trong phương tiện chứa đầy cát, bùn và rác tích tụ qua thời gian dài.
Quá trình trục vớt, cơ quan chức năng thu thập được nhiều hiện vật liên quan đến quân sự và vật dụng cá nhân. Trong đó, một số khẩu súng AR-15 bị gãy báng, rỉ sét, vỡ vụn; nhiều loại đạn, gồm đạn pháo 120 ly, đạn 14,5 ly, đạn 12,7 ly và đạn súng cá nhân, phần lớn không còn nguyên vẹn.
Đáng chú ý, trong quá trình trục vớt, lực lượng chức năng còn phát hiện một số mẩu xương. Các di vật này đã được Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Gia Lai bàn giao cho chính quyền địa phương tại Quy Nhơn để tiếp tục xử lý theo quy định. Số đạn dược thu được sẽ được tiêu hủy trong thời gian tới nhằm đảm bảo an toàn.
Như Báo Thanh Niên đã thông tin, chiều 17.4, anh Lương Quốc Cường (31 tuổi, ở phường Quy Nhơn) trong lúc chạy bộ dọc tuyến đường Xuân Diệu ở bãi biển Quy Nhơn đã phát hiện một vật thể dạng khối chữ nhật nhô lên khỏi mặt cát, nghi là xác xe tăng.
Theo anh Cường, vật thể này không còn tháp pháo, phần thân bị gỉ sét, ăn mòn mạnh do nước biển và phủ rêu xanh. Hình ảnh sau khi đăng tải trên mạng xã hội nhanh chóng thu hút sự quan tâm của cộng đồng, làm dấy lên nhiều suy đoán về nguồn gốc của xác xe tăng ở bãi biển Quy Nhơn.
Sáng 25/6, lãnh đạo UBND phường Kim Liên (Hà Nội) xác nhận thông tin trên. Đại tá La Văn Cầu là thương binh hạng 71%, sinh sống tại phố Tây Sơn, phường Kim Liên.
Ông sinh năm 1932, là người dân tộc Tày, quê tại xã Phong Nặm, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng (nay là xã Đình Phong, tỉnh Cao Bằng). Tham gia quân đội năm 1948, ông chiến đấu trong Đại đội 671, Trung đoàn 174, Đại đoàn 316 và được kết nạp Đảng năm 1950. Đến nay, ông có 76 năm tuổi Đảng.
Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, ông trực tiếp tham gia 29 trận đánh lớn nhỏ, lập nhiều chiến công. Trước Chiến dịch Biên giới Thu - Đông năm 1950, ông góp mặt trong trận phục kích Bông Lau - Lũng Phầy, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, góp phần tạo thế cho chiến trường Cao Bằng.
Tên tuổi của Anh hùng La Văn Cầu gắn liền với trận đánh cứ điểm Đông Khê. Khi mang bộc phá đánh lô cốt mở đường cho đơn vị tiến công, ông bị đạn địch bắn dập nát cánh tay phải. Trong tình thế hiểm nghèo, ông yêu cầu đồng đội chặt phần cánh tay bị thương, tiếp tục ôm khối bộc phá bằng tay còn lại lao lên phá hủy lô cốt, mở đường cho đơn vị xung phong giành thắng lợi.
Ngày 19/5/1952, ông là một trong bảy chiến sĩ đầu tiên trên cả nước được Chủ tịch Hồ Chí Minh phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân tại Đại hội Chiến sĩ thi đua và Cán bộ gương mẫu toàn quốc lần thứ nhất.
Sau chiến tranh, dù mang thương tật nặng, ông tiếp tục công tác trong quân đội, đảm nhiệm nhiều vị trí trong lĩnh vực tuyên huấn, công tác thanh niên và công tác cán bộ; được phong quân hàm đại tá, nghỉ hưu năm 1996. Sau khi nghỉ hưu, ông tiếp tục tham gia công tác xã hội, là nguyên Ủy viên Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Với những cống hiến to lớn, ông được Đảng, Nhà nước trao tặng nhiều phần thưởng cao quý, trong đó có Huân chương Quân công hạng Nhì, Huân chương Quân công hạng Ba và Huân chương Kháng chiến hạng Nhất.