Theo đặc phái viên TTXVN, chiều 5/5 (giờ địa phương), Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã đến sân bay quân sự Palam, thủ đô New Delhi, bắt đầu thăm cấp Nhà nước Cộng hòa Ấn Độ theo lời mời của Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi.
Đón Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam tại sân bay có Quốc vụ khanh Bộ Nội vụ Ấn Độ Nityanand Rai; Đại sứ Ấn Độ tại Việt Nam Tshering Wangchuk Sherpa; Đại sứ Việt Nam tại Ấn Độ Nguyễn Thanh Hải; Tổng Lãnh sự Việt Nam tại Mumbai (Ấn Độ) Lê Quang Biên cùng đông đảo cán bộ, nhân viên Đại sứ quán, cộng đồng người Việt Nam và lưu học sinh Việt Nam tại Ấn Độ.
Trên khắp thủ đô New Delhi, Chính phủ Ấn Độ đã bố trí các bức ảnh chân dung Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm với khẩu hiệu song ngữ nhiệt liệt chào mừng.
Tại khách sạn, đông đảo nghệ sĩ Ấn Độ đã nồng nhiệt chào đón Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam bằng các điệu múa truyền thống.
Ngay sau khi tới thủ đô New Delhi, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tiếp Cố vấn an ninh Quốc gia Ấn Độ Ajit Doval; gặp gỡ cán bộ, nhân viên Đại sứ quán Việt Nam và cộng đồng người Việt Nam tại Ấn Độ.
Chuyến thăm là sự kiện đối ngoại quan trọng và có ý nghĩa đặc biệt. Đây là lần đầu tiên Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm thăm Ấn Độ trên cương vị mới, diễn ra đúng dịp hai nước kỷ niệm 10 năm thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện (2016 – 2026).
Chuyến thăm là minh chứng rõ nét đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta trong kỷ nguyên mới mà Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIV đã đề ra. Đó là độc lập, tự chủ, tự cường, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại, là thành viên có trách nhiệm với cộng đồng quốc tế.
Tin Gốc: Dân Trí

Ngày 2/4, Tổng Bí thư Tô Lâm ký ban hành Kết luận Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa 14 về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, tài chính quốc gia, vay, trả nợ công và đầu tư công trung hạn 5 năm 2026-2030. Văn kiện xác định mục tiêu đến năm 2030 đưa Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao, thuộc nhóm 30 nền kinh tế có quy mô GDP lớn nhất thế giới, đồng thời nâng cao vị thế, uy tín quốc tế.
Kết luận đánh giá giai đoạn 2021-2025, kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, tăng trưởng bình quân khoảng 6,2%/năm, riêng năm 2025 đạt 8,02%; đạt và vượt 22/26 chỉ tiêu chủ yếu. Các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm, lạm phát, bội chi ngân sách và nợ công được kiểm soát; GDP bình quân đầu người đạt khoảng 5.026 USD, đưa Việt Nam vào nhóm nước có thu nhập trung bình cao. Cùng với đó, hạ tầng được đẩy mạnh đầu tư, nhiều dự án lớn được triển khai; an sinh xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại tiếp tục được củng cố.
Tuy nhiên, Trung ương cũng chỉ rõ những hạn chế khi nền tảng kinh tế vĩ mô chưa thực sự vững chắc, năng suất và sức cạnh tranh còn thấp; khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo đóng góp chưa nhiều cho tăng trưởng; thể chế, cơ chế, chính sách còn điểm nghẽn, trong khi khả năng huy động nguồn lực, đặc biệt từ khu vực tư nhân và đầu tư nước ngoài, chưa tương xứng. Một bộ phận người dân còn khó khăn, công tác tổ chức thực thi ở một số nơi chưa đáp ứng yêu cầu.
Trên cơ sở đó, Trung ương xác định quan điểm phát triển là bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện của Đảng, phát huy vai trò kiến tạo của Nhà nước và huy động sức mạnh của toàn xã hội với mục tiêu tăng trưởng hai con số gắn với ổn định vĩ mô. Nhiệm vụ trọng tâm là hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển, tháo gỡ dứt điểm các điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền đi đôi với cải cách thủ tục hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi và tăng cường giám sát, kiểm tra.
Phương thức quản lý nhà nước được yêu cầu chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm, đồng thời đổi mới tư duy đánh giá pháp luật theo hướng từ "tốt trong văn bản" sang "tốt trong cuộc sống". Môi trường đầu tư được đặt mục tiêu vào nhóm 3 nước dẫn đầu ASEAN và nhóm 30 quốc gia hàng đầu thế giới vào năm 2028, qua đó tạo nền tảng cho tăng trưởng cao và bền vững.
Về tài chính - ngân sách, Trung ương yêu cầu bảo đảm vai trò chủ đạo của ngân sách trung ương, nâng cao chất lượng nguồn thu, mở rộng cơ sở thu, triệt để tiết kiệm chi thường xuyên; điều hành bội chi trong phạm vi mục tiêu giai đoạn 2026-2030, bảo đảm an ninh, an toàn tài chính quốc gia.
Công tác quản lý nợ công phải chủ động, chặt chẽ, linh hoạt về công cụ và kỳ hạn vay, gắn với phát triển thị trường vốn, bảo đảm tính bền vững và giảm áp lực huy động vốn. Đầu tư công được định hướng tập trung, có trọng tâm, trọng điểm, ưu tiên các dự án quan trọng quốc gia, liên vùng, tạo lan tỏa lớn; giảm số lượng dự án, khắc phục tình trạng dàn trải và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
Kết luận cũng nhấn mạnh việc tiếp tục đổi mới quản trị doanh nghiệp nhà nước theo chuẩn mực quốc tế, đẩy mạnh cổ phần hóa, thoái vốn, nâng cao hiệu quả và vai trò dẫn dắt của khu vực này. Kinh tế tư nhân được xác định là động lực quan trọng, cần được tạo điều kiện tiếp cận bình đẳng các nguồn lực; phát triển các tập đoàn kinh tế lớn có năng lực cạnh tranh khu vực và toàn cầu.
Chính sách thu hút đầu tư nước ngoài được điều chỉnh theo hướng có chọn lọc, chuyển từ ưu đãi thuế sang ưu đãi theo kết quả, chú trọng chuyển giao công nghệ và liên kết với doanh nghiệp trong nước. Thị trường trong nước được xác định là điểm tựa quan trọng cho tăng trưởng, đi cùng các chương trình kích cầu tiêu dùng quy mô lớn và hiệu quả; đồng thời đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, chuỗi cung ứng và kênh dẫn vốn.
Các chính sách tài khóa, tiền tệ và vĩ mô khác phải được phối hợp chặt chẽ, linh hoạt, bảo đảm cung ứng vốn cho nền kinh tế và kiểm soát lạm phát, với yêu cầu kiên quyết không để xảy ra khủng hoảng kinh tế trong mọi tình huống. Hệ thống ngân hàng tiếp tục được hiện đại hóa, xử lý các tổ chức tín dụng yếu kém, nâng cao chất lượng tín dụng và tăng vốn điều lệ cho các ngân hàng thương mại nhà nước phù hợp với thông lệ quốc tế.
Khuyến khích đầu tư vào công nghệ chiến lược, công nghệ số
Trung ương xác định chuyển mạnh mô hình tăng trưởng sang dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chủ yếu. Nền công nghiệp quốc gia được xây dựng theo hướng hiện đại, nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngành nền tảng như năng lượng, cơ khí chế tạo, luyện kim, vận tải đường sắt, đóng tàu, vật liệu mới, công nghệ số và sinh học.
Các nút thắt về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo phải được tháo gỡ, hoàn thiện cơ chế khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào công nghệ, nhất là công nghệ chiến lược, công nghệ số; phát triển hạ tầng số, dữ liệu và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo.
Nông nghiệp tiếp tục được cơ cấu lại theo chuỗi giá trị, gắn với ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và phát triển kinh tế nông thôn. Chính sách đất lúa được nghiên cứu điều chỉnh theo hướng linh hoạt chuyển đổi diện tích kém hiệu quả nhưng vẫn quản lý chặt chẽ để bảo đảm an ninh lương thực. Kinh tế biển, kinh tế cửa khẩu được thúc đẩy phát triển gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường.
Nguồn nhân lực được nâng cao thông qua đổi mới giáo dục, phát triển đào tạo nghề, tăng cường năng lực ngoại ngữ và từng bước đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học.
Cả nước phấn đấu đến năm 2030 đưa vào sử dụng trên 5.000 km đường bộ cao tốc, đồng thời tập trung đầu tư tuyến đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam, các tuyến đường sắt đô thị, cảng biển, cảng hàng không và hạ tầng số đồng bộ, hiện đại, tạo nền tảng cho tăng trưởng nhanh và bền vững trong giai đoạn tới.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng yêu cầu các bộ, ngành, địa phương tận dụng tối đa công năng sử dụng của trụ sở làm việc hiện có, hạn chế tối đa việc xây dựng mới trụ sở, trung tâm hành chính trong bối cảnh ngân sách nhà nước còn khó khăn. Chủ trương này nhằm sử dụng hiệu quả nguồn lực công, tránh dàn trải đầu tư và giảm áp lực lên cân đối tài chính quốc gia.
Các cơ quan, địa phương chịu trách nhiệm về sự cần thiết khi quyết định đầu tư xây dựng trụ sở mới, bảo đảm hiệu quả sử dụng ngân sách nhà nước, không làm ảnh hưởng đến các mục tiêu phát triển quan trọng khác, đồng thời tăng cường kiểm soát để phòng, chống lãng phí, tiêu cực trong đầu tư công.
Vũ Tuân
Nguồn: https://vnexpress.net/viet-nam-dat-muc-tieu-vao-nhom-30-nen-kinh-te-lon-nhat-the-gioi-5057828.html
Thời Sự
Thủ tướng yêu cầu công khai tiến độ giải ngân, triển khai dự án giao thông trọng điểm

Theo đó, Thủ tướng Lê Minh Hưng giao Văn phòng Chính phủ, Bộ Xây dựng, các địa phương và các cơ quan liên quan cập nhật tiến độ mới nhất về tình hình thực hiện, kết quả giải ngân các dự án để thông báo công khai trên Cổng Thông tin điện tử Chính phủ và Bộ Xây dựng làm cơ sở theo dõi, đôn đốc, chỉ đạo.
Đồng thời cập nhật số liệu nêu trên trong báo cáo của Chính phủ tại Phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 6 năm 2026 và Hội nghị trực tuyến Chính phủ với các địa phương dự kiến tổ chức vào ngày 4-7-2026.
Thủ tướng khẳng định việc hoàn thành các dự án trọng điểm, quan trọng quốc gia trong lĩnh vực giao thông có ý nghĩa rất quan trọng, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, góp phần hoàn thành mục tiêu phát triển "2 con số" trong năm 2026 và các năm tiếp theo.
Do vậy, kết quả triển khai các dự án là một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá, sắp xếp cán bộ theo quy định của Đảng và cũng là cơ sở quyết định việc ưu tiên phân bổ vốn đầu tư, giao nhiệm vụ quản lý dự án cho các cơ quan, đơn vị trong các năm tiếp theo.
Biểu dương Bộ Xây dựng và các bộ, ngành, địa phương và các đơn vị trong triển khai thực hiện dự án, song Thủ tướng đánh giá một số dự án chậm trong công tác chuẩn bị đầu tư.
Tình trạng thiếu vật liệu phục vụ thi công trong khi các cơ chế, chính sách đặc thù đã được ban hành đầy đủ.
Tiến độ giải phóng mặt bằng, thi công còn chậm so với kế hoạch, một số dự án đã hoàn thành thủ tục đầu tư, không có vướng mắc nhưng tiến độ giải ngân vốn đầu tư công 6 tháng đầu năm thấp hơn bình quân chung của cả nước (25,7%), nhiều dự án dưới 10%.
Vì vậy với quan điểm chủ động, nỗ lực thực hiện theo đúng chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền; không đùn đẩy, né tránh trách nhiệm, trông chờ, ỷ lại, Thủ tướng yêu cầu bảo đảm tiến độ triển khai các dự án, kiên quyết không được lùi, kéo dài, điều chỉnh tiến độ.
Các công trình, dự án phải triển khai tuân thủ đúng quy trình, thủ tục, quy định của pháp luật; bảo đảm chất lượng, tuân thủ đúng tiêu chuẩn kỹ thuật, an toàn trong cả vòng đời dự án, không vì tiến độ mà bỏ qua các quy trình, tiêu chuẩn kỹ thuật làm ảnh hưởng tới chất lượng công trình.
Chi phí đầu tư các công trình, dự án phải được kiểm soát chặt chẽ, bảo đảm tính đúng, tính đủ theo định mức, đơn giá, suất đầu tư. Tuyệt đối không để xảy ra tiêu cực, tham nhũng, thất thoát, lãng phí tài sản, nguồn lực nhà nước, xã hội.
Quá trình nghiên cứu chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư các công trình, dự án phải đánh giá tổng thể về hiệu quả tài chính, hiệu quả kinh tế - xã hội và các mục tiêu bảo đảm quốc phòng, an ninh.
Thủ tướng giao công tác giải phóng mặt bằng phải do Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực tiếp chỉ đạo; cần huy động cả hệ thống chính trị vào cuộc, bảo đảm tiến độ bàn giao mặt bằng cho các công trình, dự án đúng tiến độ. Đẩy nhanh tiến độ thực hiện, giải ngân các dự án, tăng sản lượng thực hiện và giải ngân.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ
Thời Sự
Kế hoạch lập thêm phường từ các xã của TP.HCM sẽ triển khai ra sao trong năm 2026?

Siêu đô thị TP.HCM sau hợp nhất có 168 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 113 phường (đơn vị hành chính đô thị), 54 xã và 1 đặc khu. Theo tiến độ dự kiến cuối năm 2026, TP.HCM sẽ có thêm phường từ 54 xã hiện nay.
Thực hiện chỉ đạo của Bộ Chính trị, Thủ tướng về quy hoạch, xây dựng, quản lý và phát triển bền vững đô thị Việt Nam tầm nhìn đến năm 2045, và chỉ đạo gần đây của Bộ Chính trị "rà soát, đánh giá tổng thể các địa phương sau 1 năm hợp nhất, sáp nhập, trường hợp có đủ điều kiện theo quy định thì báo cáo cấp có thẩm quyền nâng cấp lên chính quyền đô thị (thành phố/phường)", TP.HCM đã triển khai kế hoạch xây dựng đề án thành lập đơn vị hành chính đô thị.
Đề án nhằm nâng cấp lên chính quyền đô thị (phường) từ 54 xã hiện nay của TP.HCM.
Trình tự để chuyển xã lên phường trải qua 9 bước. Theo chỉ đạo của UBND TP.HCM, ở bước 1, chủ tịch UBND các xã phải khẩn trương rà soát đánh giá hiện trạng của xã theo các điều kiện, tiêu chuẩn, tiêu chí của đơn vị hành chính đô thị (phường) tương ứng theo quy định; báo cáo ban thường vụ đảng ủy xã thông qua, gửi về Sở Nội vụ để thẩm định trước ngày 23-4-2026.
Đồng thời, UBND các xã tiến hành ngay việc xây dựng đề án thành lập đơn vị hành chính đô thị; phối hợp với các sở, ngành liên quan hoàn thiện các tiêu chí chưa đạt để hoàn chỉnh đề án.
Bước 2, Sở Nội vụ và các sở ngành liên quan thẩm định đề án của các xã, trình cho Đảng ủy UBND TP trước ngày 8-5-2026 để xem xét thông qua.
Tiếp đó, trước ngày 13-5-2026, UBND xã hoàn tất thủ tục lấy ý kiến cử tri về đề án để tổng hợp hồ sơ, đề án trình UBND TP (qua Sở Nội vụ) trước 20-5-2026.
Ban Thường vụ Thành ủy xem xét thông qua các đề án trước 30-5-2026 để UBND TP trình đề án cho Chính phủ, Bộ Nội vụ trước 15-6-2026.
Trong 30 ngày kể từ ngày nhận đề án của thành phố, Bộ Nội vụ chủ trì thẩm định. Trên cơ sở đó UBND TP.HCM tiếp thu, giải trình.
Đề án hoàn chỉnh sẽ được Bộ Nội vụ trình Chính phủ để trình cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Bước cuối cùng, Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội thẩm tra trước khi trình Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định chuyển xã lên phường.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

