Thanh tra Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Khu vực 2 vừa ban hành kết luận thanh tra đối với Công ty TNHH MTV Vàng bạc Đá quý Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín (Sacombank SBJ), qua đó ghi nhận doanh nghiệp cơ bản chấp hành các quy định trong hoạt động kinh doanh vàng nhưng vẫn còn một số tồn tại, hạn chế cần khắc phục.
Theo kết luận thanh tra, trong hoạt động kinh doanh vàng, Sacombank SBJ cơ bản đáp ứng các điều kiện hoạt động sản xuất, mua bán, gia công, xuất khẩu vàng trang sức mỹ nghệ; chấp hành quy định về điều kiện hoạt động và trách nhiệm của doanh nghiệp kinh doanh mua bán vàng miếng.
Doanh nghiệp cũng thực hiện chế độ báo cáo hoạt động kinh doanh vàng theo quy định; chấp hành quy định về kế toán, lập và sử dụng hóa đơn, chứng từ trong hoạt động kinh doanh vàng.
Trong lĩnh vực phòng, chống rửa tiền, cơ quan thanh tra đánh giá Sacombank SBJ cơ bản thực hiện đúng quy định pháp luật. Công ty đã ban hành, cập nhật và nghiên cứu sửa đổi, bổ sung quy trình nội bộ về phòng chống rửa tiền; tổ chức đào tạo; phân loại khách hàng theo mức độ rủi ro; đồng thời thực hiện rà soát, kiểm tra giao dịch khách hàng.
Tuy nhiên, kết luận thanh tra cũng chỉ ra doanh nghiệp còn xảy ra sai sót trong việc thu thập hồ sơ nhận biết khách hàng phục vụ công tác phòng, chống rửa tiền.
Ngoài ra, cơ quan thanh tra lưu ý một số tồn tại liên quan đến việc duy trì điều kiện sản xuất vàng trang sức mỹ nghệ và hoạt động mua vàng nguyên liệu từ khách hàng cá nhân.
Từ kết quả thanh tra, Thanh tra NHNN Khu vực 2 đã báo cáo, đề xuất NHNN Khu vực 2 có văn bản phối hợp với các cơ quan chức năng nhằm theo dõi, quản lý các vấn đề còn tồn tại, góp phần ổn định và bảo đảm an ninh thị trường vàng trên địa bàn.
Tin Gốc: Người Đưa Tin

Dù là mô hình hoàn toàn mới, chưa có tiền lệ và đòi hỏi cách tiếp cận khác biệt, song sau những tháng đầu vận hành, Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam tại Đà Nẵng và Tp.HCM đã bắt đầu ghi nhận những tín hiệu tích cực về thu hút đầu tư, hoàn thiện thể chế và hình thành hệ sinh thái tài chính hiện đại.
Trao đổi với Người Đưa Tin, ông Đặng Đình Đức - Phó Chủ tịch Thường trực Cơ quan điều hành Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam tại Đà Nẵng (VIFC-DN), sau gần 4 tháng đi vào hoạt động, Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam tại Đà Nẵng đã ghi nhận kết quả tích cực trên 3 phương diện: thu hút đầu tư, tổ chức vận hành và hoàn thiện thể chế.
Đến nay, trung tâm đã có 12 thành viên chính thức, 11 nhà đầu tư được cấp chấp thuận quan tâm và 12 nhà đầu tư đang hoàn thiện hồ sơ. Đồng thời, gần 90 nhà đầu tư trong và ngoài nước đã gửi thư bày tỏ quan tâm.
Về vận hành, bộ máy được kiện toàn với 21 nhân sự, có sự tham gia của chuyên gia quốc tế giàu kinh nghiệm, góp phần chuẩn hóa quy trình theo thông lệ quốc tế. Thành phố cũng đang hoàn tất thủ tục để tiếp nhận thêm chuyên gia trong thời gian tới.
"Nhiều tổ chức tài chính, quỹ đầu tư, tập đoàn đa quốc gia đã làm việc trực tiếp hoặc trực tuyến, không chỉ tìm hiểu mà còn xúc tiến hiện diện và triển khai thủ tục cho các dự án cụ thể. Điều này cho thấy niềm tin thị trường đang dần hình thành", ông Đức cho biết.
Trong khi đó, tại Tp.HCM, ông Nguyễn Hữu Huân - Phó Chủ tịch cơ quan điều hành Trung tâm Tài chính quốc tế Tp.Hồ Chí Minh (VIFC-HCM) đánh giá tín hiệu tích cực lớn nhất của IFC-HCMC là đã bắt đầu xuất hiện những chuyển động thực chất của dòng vốn và cấu trúc thị trường.
Theo ông Huân, hiện đã có khoảng 50 định chế tài chính và nhà đầu tư lớn đăng ký hiện diện hoặc tham gia hệ sinh thái của trung tâm, với tổng vốn cam kết xấp xỉ 19 tỷ USD.
"Dù đây mới là vốn cam kết chứ chưa phải dòng vốn giải ngân thực tế, nhưng về mặt kinh tế học, điều đó phản ánh kỳ vọng của thị trường đối với một cấu trúc tài chính mới đang hình thành tại Việt Nam", ông Huân nhận định.
Theo lãnh đạo hai trung tâm, Việt Nam không lựa chọn cách phát triển theo mô hình "sao chép" các trung tâm tài chính truyền thống. PGS.TS Nguyễn Hữu Huân cho rằng, IFC-HCM đang đi theo chiến lược chọn các phân khúc ngách như tài chính hàng không, tài chính hàng hải và tài chính số.
"Một trung tâm đi sau nếu muốn cạnh tranh thì phải tạo ra sự khác biệt về cấu trúc thị trường, thay vì cạnh tranh trực diện với Singapore hay Hong Kong (Trung Quốc)", ông Huân nói.
Trong khi đó, Đà Nẵng lại tập trung vào việc xây dựng các nền tảng tài chính mới phục vụ đổi mới sáng tạo và chuyển đổi xanh. Theo ông Đặng Đình Đức, cơ quan điều hành đang nghiên cứu đề xuất xây dựng 2-3 sàn giao dịch chuyên biệt, trong đó có sàn giao dịch tài sản số và token hóa tài sản trong khuôn khổ sandbox nhằm huy động vốn cho các dự án hạ tầng lớn của Đà Nẵng, miền Trung và cả nước.
Bên cạnh đó là kế hoạch hình thành trung tâm giao dịch tín chỉ carbon thí điểm và nghiên cứu xây dựng sàn giao dịch hàng hóa cho kim loại màu, kết nối với các sàn quốc tế và Khu thương mại tự do Đà Nẵng.
Theo ông Đức, định hướng của Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam tại Đà Nẵng không chỉ là nơi cung ứng dịch vụ tài chính mà còn là hạt nhân kết nối dòng vốn, công nghệ và tri thức, qua đó hình thành cực tăng trưởng tài chính mới cho khu vực miền Trung.
Một trong những thách thức lớn nhất hiện nay là xây dựng mô hình vận hành cho lĩnh vực hoàn toàn mới tại Việt Nam. Ông Đặng Đình Đức cho biết, khó khăn lớn nhất của VIFC-DN là chuyển từ giai đoạn thiết kế sang vận hành thực tế, vừa tuân thủ khung pháp lý trong nước vừa tiếp cận chuẩn mực quốc tế.
Đặc biệt, các lĩnh vực như fintech, tài sản số hay tài chính xanh phát triển rất nhanh, đòi hỏi phải cân bằng giữa đổi mới sáng tạo và kiểm soát rủi ro. Yêu cầu về giám sát, phòng chống rửa tiền và bảo đảm an toàn hệ thống được đặt ra rất cấp thiết.
Theo ông Đức, VIFC-DN hiện lựa chọn cách tiếp cận "vừa làm, vừa hoàn thiện", ban hành hướng dẫn tạm thời, phối hợp với các bộ ngành rà soát quy định và tham vấn nhà đầu tư quốc tế để hoàn thiện chính sách theo hướng tiệm cận chuẩn mực toàn cầu.
Ở góc độ Tp.HCM, ông Nguyễn Hữu Huân cho rằng điểm tiến bộ đáng chú ý nhất là việc triển khai sandbox và khung pháp lý đặc thù theo Nghị quyết 222 cùng các nghị định liên quan. Theo ông, điều nhà đầu tư quốc tế quan tâm nhất không phải là ưu đãi thuế, mà là khả năng chuyển đổi vốn, mức độ bảo vệ pháp lý và khả năng thoái vốn.
"Khi nhà đầu tư nhìn thấy một không gian pháp lý linh hoạt nhưng vẫn có kiểm soát rủi ro, họ sẽ sẵn sàng tham gia hơn", ông Huân nói.
Theo PGS.TS Nguyễn Hữu Huân, vốn quốc tế không đi theo lời kêu gọi mang tính hành chính mà vận động theo logic lợi nhuận, rủi ro và khả năng thanh khoản.
"Vấn đề cốt lõi không phải là làm sao thu hút thêm nhà đầu tư, mà là làm sao tạo ra lý do để nhà đầu tư buộc phải đi qua trung tâm này", ông Huân nhấn mạnh.
Muốn làm được điều đó, theo ông, trung tâm tài chính phải tạo ra các thị trường và sản phẩm tài chính gắn với nhu cầu thực của nền kinh tế như tài chính hàng không, tài chính hàng hải, tài sản số hay tài chính xanh.
Trong khi đó, ông Đặng Đình Đức cho biết VIFC-DN hiện tập trung vào 3 trụ cột chính: triển khai hiệu quả các cơ chế chính sách đã được ban hành; xây dựng bộ máy vận hành minh bạch, ổn định; và định vị trung tâm trở thành kênh dẫn vốn cho các lĩnh vực ưu tiên như hạ tầng, quản lý tài sản dài hạn, tài chính chuỗi cung ứng và chuyển đổi xanh.
Bên cạnh thể chế và dòng vốn, nguồn nhân lực cũng là yếu tố then chốt. Ông Đặng Đình Đức cho biết ngay trong đợt tuyển dụng đầu tiên, VIFC-DN đã nhận được 129 hồ sơ ứng tuyển, trong đó khoảng 20% là chuyên gia nước ngoài và người Việt Nam ở nước ngoài từng học tập, làm việc tại các trung tâm tài chính quốc tế. Đáng chú ý, trung tâm đã ký hợp đồng với một chuyên gia quốc tế từng là giám đốc điều hành một trung tâm tài chính quốc tế để chuẩn hóa quy trình vận hành theo thông lệ toàn cầu.
Trong thời gian tới, VIFC-DN sẽ tiếp tục tuyển dụng theo hướng quốc tế hóa, kết hợp thu hút nhân tài toàn cầu và phát triển nguồn nhân lực trong nước.
Theo các chuyên gia, tác động của trung tâm tài chính quốc tế sẽ không xuất hiện ngay lập tức mà mang tính tích lũy trong trung và dài hạn. Tuy nhiên, nếu được vận hành đúng hướng, đây có thể trở thành một trong những động lực tăng trưởng quan trọng nhất của Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới.
PGS.TS Nguyễn Hữu Huân cho rằng, sự xuất hiện của VIFC-HCMC không đơn thuần là bổ sung thêm một khu chức năng tài chính, mà là cú hích mang tính "tái cấu trúc" đối với mô hình tăng trưởng của Tp.HCM.
Theo ông, trong nhiều năm qua, tăng trưởng của Tp.HCM chủ yếu dựa vào sản xuất, bất động sản và tín dụng ngân hàng. Tuy nhiên, khi nền kinh tế bước sang giai đoạn phát triển mới, mô hình này dần bộc lộ giới hạn về khả năng hấp thụ vốn và tạo ra giá trị gia tăng cao. Việc hình thành trung tâm tài chính quốc tế sẽ giúp thành phố chuyển sang mô hình tăng trưởng dựa nhiều hơn vào thị trường vốn, dịch vụ tài chính chất lượng cao và dòng vốn quốc tế.
"Sự xuất hiện của trung tâm tài chính sẽ tạo thêm một kênh dẫn vốn mới, giúp TP.HCM kết nối trực tiếp với dòng vốn toàn cầu. Khi đó, thành phố không chỉ "xin vốn" mà có thể "hấp thụ vốn" theo cơ chế thị trường thông qua trái phiếu, cổ phiếu, quỹ đầu tư hay các sản phẩm tài chính mới", ông Huân phân tích.
Theo ông Huân, tác động của trung tâm tài chính cũng không chỉ dừng ở lĩnh vực tài chính – ngân hàng mà sẽ lan tỏa sang toàn bộ nền kinh tế đô thị. Khi dòng vốn quốc tế, các định chế tài chính, quỹ đầu tư và doanh nghiệp công nghệ tài chính cùng hiện diện, thành phố sẽ có thêm động lực để nâng cấp hạ tầng số, cải thiện chất lượng quản trị đô thị, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và hình thành các ngành dịch vụ giá trị gia tăng cao.
"Trong dài hạn, Tp.HCM sẽ không chỉ là nơi tạo ra hàng hóa và dịch vụ, mà còn là nơi tạo ra và phân bổ vốn, tức nắm giữ vai trò cao hơn trong chuỗi giá trị kinh tế toàn cầu", ông Huân nhận định.
Ở góc độ Đà Nẵng, ông Đặng Đình Đức cho rằng, VIFC-DN được định hướng trở thành cực tăng trưởng tài chính mới của miền Trung, đóng vai trò kết nối dòng vốn cho các dự án hạ tầng, chuyển đổi xanh và đổi mới sáng tạo.
Theo ông Đức, lợi thế của Đà Nẵng nằm ở khả năng phát triển các mô hình tài chính mới gắn với tài sản số, tín chỉ carbon, tài chính xanh và thương mại tự do. Đây cũng là những lĩnh vực đang thu hút sự quan tâm ngày càng lớn của các nhà đầu tư quốc tế trong bối cảnh kinh tế toàn cầu chuyển mạnh sang xu hướng số hóa và phát triển bền vững.
Theo lãnh đạo hai trung tâm, nếu tận dụng tốt cơ hội này, Việt Nam không chỉ có thêm nguồn lực cho tăng trưởng mà còn từng bước nâng vị thế trên bản đồ tài chính khu vực, tham gia sâu hơn vào mạng lưới dòng vốn và chuỗi giá trị toàn cầu.
Tin Gốc: Người Đưa Tin
Kinh Tế
"Nước rút" xử lý trụ sở dôi dư - Bài 2: Không thiếu cơ chế, thiếu cách làm

Theo ông Nguyễn Tân Thịnh - Cục trưởng Cục Quản lý công sản (Bộ Tài chính), quá trình xử lý các cơ sở nhà, đất dôi dư do sáp nhập đơn vị hành chính và tinh gọn bộ máy được chia thành 3 giai đoạn.
Giai đoạn đầu là trước khi sắp xếp tổ chức bộ máy, các cơ quan, đơn vị phải tiến hành kiểm kê, rà soát toàn bộ tài sản, xây dựng phương án đối với từng cơ sở nhà, đất, xác định cơ sở nào tiếp tục sử dụng, cơ sở nào điều chuyển, chuyển giao hoặc xử lý theo hình thức khác.
Giai đoạn thứ hai là khi bộ máy mới bắt đầu vận hành. Yêu cầu đặt ra là phải bảo đảm cơ sở vật chất để chính quyền hoạt động thông suốt, cung cấp dịch vụ công cho người dân, doanh nghiệp, không để gián đoạn việc giải quyết thủ tục hành chính.
"Hiện nay, chúng ta đang ở giai đoạn 3, tức là tiếp tục rà soát lại toàn bộ tài sản sau sắp xếp. Những tài sản tiếp tục sử dụng thì phải rà soát theo quy định về tiêu chuẩn, định mức. Còn những cơ sở dôi dư thì phải xử lý và đưa vào khai thác", ông Thịnh cho biết.
Theo lãnh đạo Cục Quản lý công sản, 2 giai đoạn đầu đã được thực hiện thành công. Trong giai đoạn 3, việc xử lý tiếp tục được chia thành 2 bước. Bước thứ nhất là xử lý theo quy định của pháp luật về tài sản công, xác định tài sản nào giữ lại, tài sản nào thanh lý, điều chuyển, chuyển giao về địa phương hoặc thu hồi. Đến nay, 34/34 địa phương đã hoàn thành bước này.
Tuy nhiên, nhiều cơ sở sau khi hoàn thành bước một vẫn phải tiếp tục xử lý ở bước hai mới có thể đưa vào khai thác và xử lý triệt để. Có những cơ sở được chuyển sang làm trạm y tế nên có thể sử dụng ngay. Nhưng cũng có những cơ sở sau khi thu hồi hoặc chuyển giao về địa phương thì địa phương phải tiếp tục thực hiện các thủ tục liên quan đến giao đất, cho thuê đất, cho thuê nhà, chuyển đổi công năng hoặc bố trí cho mục đích sử dụng khác. Theo ông Thịnh, đây chính là phần việc cần tập trung xử lý trong thời gian tới.
Theo báo cáo của các địa phương đến ngày 27/4, tổng số cơ sở nhà, đất dôi dư đã được thu hồi, chuyển giao về địa phương quản lý, xử lý là 11.396 cơ sở. Trong đó, 9.228 cơ sở do địa phương quyết định thu hồi, chuyển giao và 2.168 cơ sở do các cơ quan Trung ương chuyển giao về địa phương.
Đến nay, có 5.065 cơ sở hoàn thành xử lý hoặc được đưa vào khai thác. Như vậy, còn 6.331 cơ sở tiếp tục phải xử lý hoặc khai thác, trong đó 2.585 cơ sở đã có phương án xử lý, khai thác, còn 3.746 cơ sở chưa có phương án.
Theo ông Nguyễn Tân Thịnh, cơ chế, chính sách và các văn bản hướng dẫn của Trung ương đã được điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung để phù hợp với mô hình tổ chức mới.
Tuy nhiên, kết quả xử lý giữa các địa phương vẫn có sự khác biệt đáng kể. Cùng một khuôn khổ pháp lý nhưng có địa phương xử lý rất nhanh, có địa phương vẫn còn nhiều cơ sở tồn đọng, kể cả các địa phương có điều kiện tương đồng. Điều đó cho thấy yếu tố quyết định nằm ở cách tổ chức thực hiện.
Theo ông Thịnh, bên cạnh những khó khăn khách quan, thực tế triển khai tại các địa phương cũng phát sinh nhiều tình huống khác nhau. Có địa phương chỉ dôi dư vài chục hoặc vài trăm cơ sở, nhưng cũng có nơi dôi dư tới hàng nghìn cơ sở. Có nơi điều kiện thị trường thuận lợi, nhưng cũng có địa phương miền núi, vùng sâu, vùng xa nên việc khai thác hoặc cho thuê tài sản gặp nhiều khó khăn.
Ngoài ra, một số nơi còn lúng túng trong quá trình vận hành thực tế. Có những đơn vị ban đầu muốn sử dụng các trụ sở lớn, khang trang của huyện hoặc tỉnh cũ, nhưng khi đi vào hoạt động mới phát sinh chi phí vận hành lớn, vượt quá nhu cầu sử dụng thực tế. Có nơi tập trung toàn bộ cơ sở nhà, đất dôi dư để cấp xã xử lý nhưng chưa tính đến khả năng thực hiện của từng địa phương.
Bên cạnh đó còn có những khó khăn do lịch sử sử dụng nhà, đất để lại như bị lấn chiếm, thiếu hồ sơ pháp lý hoặc tài sản được xây dựng trên đất của tổ chức, cá nhân khác nên việc xử lý cần thêm thời gian.
Đánh giá về kết quả xử lý thời gian qua, ông Nguyễn Tân Thịnh cho biết một số địa phương như Quảng Ninh, Hải Phòng và Hà Nội có cách làm khá hiệu quả.
Theo ông, điểm chung của các địa phương này là có sự vào cuộc rất quyết liệt của cấp ủy, chính quyền địa phương và huy động được cả hệ thống chính trị tham gia. "Xử lý tài sản công không phải riêng ngành tài chính làm được, mà liên quan tới quy hoạch, đất đai, xây dựng, giáo dục, y tế... nên phải có nhiều cơ quan cùng phối hợp", ông Thịnh nói.
Theo lãnh đạo Cục Quản lý công sản, cách làm hiệu quả hiện nay là Sở Tài chính chủ trì, phối hợp cùng các sở, ngành xuống tận xã hoặc cụm xã để rà soát từng cơ sở cụ thể.
Các đơn vị cùng trao đổi, thống nhất phương án xử lý đối với từng cơ sở: cơ sở nào chuyển sang trường học, cơ sở nào phục vụ y tế, cơ sở nào làm nhà ở tái định cư, vườn hoa, công viên hoặc phục vụ phát triển kinh tế - xã hội; đồng thời xác định rõ hồ sơ, thẩm quyền, trình tự, thủ tục triển khai.
"Nhiều lãnh đạo địa phương vào cuộc rất sát. Có nơi lãnh đạo UBND tỉnh trực tiếp xuống hiện trường, xem bản đồ, kiểm tra thực tế rồi quyết định ngay phương án tại hiện trường nên tiến độ xử lý rất nhanh", ông Thịnh cho biết.
Theo ông, các địa phương làm tốt còn rất linh hoạt trong chuyển đổi công năng. Những cơ sở gần trường học được ưu tiên phục vụ giáo dục; gần cơ sở y tế được chuyển sang phục vụ y tế.
Có nơi phá dỡ công trình cũ để làm công viên, sân chơi công cộng hoặc mở rộng hạ tầng hiện có, đáp ứng yêu cầu ưu tiên bố trí, sắp xếp nhà, đất dôi dư cho giáo dục, y tế, thể dục thể thao và các mục đích công cộng khác.
"Quảng Ninh thậm chí còn tận dụng một số cơ sở làm nơi giới thiệu sản phẩm địa phương hoặc bố trí nhà ở tái định cư phục vụ các dự án. Khi địa phương chủ động, linh hoạt thì tốc độ xử lý sẽ nhanh hơn rất nhiều", ông Thịnh cho biết.
Ông Nguyễn Tân Thịnh cho rằng, cơ chế hiện hành về cơ bản vẫn đủ để xử lý tài sản công trong điều kiện bình thường. Tuy nhiên, đợt sắp xếp lần này có đặc điểm khác biệt là số lượng cơ sở nhà, đất dôi dư phát sinh rất lớn trong thời gian ngắn, trong khi yêu cầu đặt ra là phải xử lý nhanh.
Kết luận số 27 của Ban Bí thư về tình hình chủ yếu các địa phương quý I, phương hướng, nhiệm vụ quý II/2026 đã nêu rõ yêu cầu hoàn thành việc xử lý, sắp xếp, sử dụng tài sản công, trụ sở dôi dư trong quý II/2026.
Trên cơ sở tổng hợp các khó khăn, vướng mắc và kiến nghị từ các bộ, ngành, địa phương, Bộ Tài chính đã xây dựng dự thảo Nghị quyết đặc thù về cơ chế đẩy nhanh tiến độ khai thác, xử lý các cơ sở nhà, đất dôi dư để trình Chính phủ xem xét, quyết định.
Tinh thần xuyên suốt của dự thảo là tăng phân cấp, rút ngắn thủ tục, đơn giản hóa quy trình nhưng vẫn bảo đảm nguyên tắc quản lý chặt chẽ tài sản công. Định hướng mới không chỉ tập trung vào bảo toàn tài sản trên hồ sơ mà đặt trọng tâm vào hiệu quả khai thác thực tế và khả năng nhanh chóng đưa tài sản quay trở lại phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.
Một trong những nội dung đáng chú ý là cơ chế cho thuê tài sản công theo hướng linh hoạt hơn. Bộ Tài chính đề xuất đơn giản hóa việc xác định giá cho thuê, không bắt buộc thực hiện đầy đủ quy trình thẩm định phức tạp như hiện nay; đồng thời phân cấp cho đơn vị quản lý nhà hoặc Chủ tịch UBND cấp xã quyết định giá thuê trong một số trường hợp.
Trường hợp đấu giá không thành, địa phương có thể điều chỉnh giảm giá để sớm đưa tài sản vào khai thác thay vì tiếp tục để trống kéo dài. Với các cơ sở nhà, đất được giao cho tổ chức quản lý, kinh doanh nhà của địa phương khai thác, Bộ Tài chính đề nghị thực hiện theo hướng "làm đến đâu ban hành giá cho thuê đến đó", không chờ hoàn thiện đồng bộ toàn bộ cơ chế.
Dự thảo cũng cho phép bên thuê được chủ động cải tạo, sửa chữa tài sản phục vụ nhu cầu sử dụng nếu không ảnh hưởng kết cấu công trình; chi phí do bên thuê tự chịu và có thể được xem xét kéo dài thời gian thuê trong trường hợp có đầu tư lớn.
Để rút ngắn thời gian xử lý, Bộ Tài chính đề xuất cho phép chuyển giao nhà, đất theo nguyên trạng, kể cả khi hồ sơ pháp lý chưa hoàn thiện hoặc tài sản đang bị lấn chiếm. Các tồn tại liên quan sẽ tiếp tục được xử lý trong quá trình quản lý sau đó thay vì phải hoàn tất toàn bộ hồ sơ mới được bàn giao.
Tin Gốc: Người Đưa Tin

Theo đó, từ 28.4, phí nền tảng áp dụng đối với các dịch vụ GrabBike là 3.000 đồng. Đối với các dịch vụ Grab 4 bánh (không bao gồm dịch vụ GrabTaxi), mức phí nền tảng sẽ từ 5.000 - 19.000 đồng tùy theo khu vực điểm đón và quãng đường di chuyển.
Đối với phí dịch vụ cộng thêm, hãng này áp dụng mức từ 4.000 - 11.000 đồng đối với GrabExpress, mức phí tùy vào loại hình dịch vụ mà người dùng lựa chọn. Phí dịch vụ áp dụng cho các đơn hàng GrabFood, GrabMart và tùy vào mô hình hợp tác của các đối tác thương nhân là 4.000 đồng hoặc 6.000 đồng.
Nhìn chung, các loại phí của hầu hết các dịch vụ nhích thêm khoảng 1.000 đồng.
Grab lý giải việc điều chỉnh nhằm duy trì vận hành cho nền tảng, nâng cao chất lượng dịch vụ, cải tiến kỹ thuật, tăng thêm nhiều tính năng cũng như đưa ra các chương trình ưu đãi, đồng thời không ngừng nâng cao trải nghiệm dành cho người dùng và đối tác.
Việc điều chỉnh cũng giúp Grab có thể tăng cường triển khai các chương trình hỗ trợ cho cộng đồng đối tác tài xế khắp cả nước trong bối cảnh bão giá nhiên liệu kéo dài.
Trước đó, Grab Việt Nam đã 6 tuần liên tiếp dùng ngân sách của mình để kéo dài chương trình thưởng thêm theo tuần hỗ trợ đối tác tài xế ứng phó với biến động giá xăng dầu. Song song đó, Grab vẫn tiếp tục đẩy mạnh các chương trình ưu đãi nhằm hỗ trợ đối tác tài xế chuyển đổi sang xe điện để tiết kiệm chi phí, thêm tự tin chuyển đổi và góp phần thúc đẩy giao thông xanh tại Việt Nam.
Tin Gốc: Thanh Niên

