Chia sẻ tại hội thảo về bất động sản du lịch ngày 23.6 do Báo Tài chính và Đầu tư tổ chức, bà Hoàng Thu Hằng, Phó cục trưởng Cục Quản lý nhà và thị trường bất động sản (Bộ Xây dựng), cho biết nhiều năm qua bất động sản du lịch, nghỉ dưỡng phát triển rất nhanh.
Trong khi đó, khuôn khổ pháp lý chưa theo kịp thực tiễn, dẫn tới nhiều khoảng trống trong quản lý và vận hành thị trường. Theo bà Hằng, việc ban hành luật Đất đai và luật Kinh doanh bất động sản mới đã tạo nền tảng pháp lý tương đối đầy đủ cho loại hình bất động sản này.
Một trong những điểm quan trọng nhất là luật Đất đai đã xác định rõ chế độ sử dụng đất đối với các dự án bất động sản du lịch, nghỉ dưỡng. Theo quy định hiện hành, đất xây dựng các công trình du lịch, nghỉ dưỡng được xác định là đất thương mại, dịch vụ.
Một vấn đề đang nổi lên là câu chuyện quản lý vận hành các khu bất động sản nghỉ dưỡng sau khi hoàn thành. Bà Hằng cho hay, cơ chế quản lý, khai thác và vận hành đối với loại hình này vẫn chưa thực sự đầy đủ, tạo ra những “khoảng trống” cần tiếp tục hoàn thiện trong thời gian tới.
Đặc biệt, nhiều mô hình kinh doanh mới cũng xuất hiện, trong đó, đáng chú ý là hình thức chủ đầu tư cam kết thuê lại hoặc cam kết lợi nhuận đối với sản phẩm nghỉ dưỡng. Theo đại diện Bộ Xây dựng, đây là mô hình phát sinh trong quá trình phát triển thị trường.
Trước đây, chủ đầu tư chủ yếu xây dựng và trực tiếp khai thác cho thuê, rồi chuyển sang mô hình bán sản phẩm. Gần đây, nhiều doanh nghiệp kết hợp bán sản phẩm với cam kết thuê lại hoặc chia sẻ lợi nhuận nhằm tăng tính hấp dẫn cho dự án.
Cho biết đây là quan hệ dân sự giữa chủ đầu tư và khách hàng, tuy nhiên, theo Cục phó Cục Quản lý nhà và thị trường bất động sản, cơ quan quản lý đang nghiên cứu các giải pháp chính sách nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, đồng thời tăng cường cơ chế giám sát đối với những cam kết mà doanh nghiệp đưa ra.
Ông Nguyễn Đình Thọ, Phó viện trưởng Viện Chiến lược, chính sách nông nghiệp và môi trường (Bộ NN-MT), thì cho rằng cơ chế chia sẻ lợi ích trong các dự án nghỉ dưỡng ảnh hưởng trực tiếp đến niềm tin giới đầu tư thời gian qua. Thực tế, sau khi bán bất động sản, nhiều chủ đầu tư tiếp tục thu phí hàng năm ở mức cao. Phí này gồm quản lý vận hành, an ninh, bảo trì hạ tầng, sử dụng tiện ích chung, thương hiệu…
“Nhiều nhà đầu tư mua bất động sản nghỉ dưỡng nhưng không nắm được chi phí vận hành thực tế là bao nhiêu, việc phân bổ nguồn thu có hợp lý không, hay chủ đầu tư tự quyết định toàn bộ”, ông Thọ cho biết.
Cạnh đó, khoảng trống về mức trần chi phí vận hành, quản lý loại hình bất động sản này cũng khiến người mua chịu nhiều rủi ro. Mỗi chủ đầu tư thu một mức khác nhau, khoảng 50.000 – 75.000 đồng, thậm chí có nơi 100.000 – 150.000 đồng/m2.
Ông Thọ cũng nêu ví dụ với một căn condotel có giá trị vài tỉ đồng, chi phí quản lý vận hành có thể lên tới vài triệu đồng mỗi tháng, khiến chủ nhà phải tăng tiền cho thuê để bù đắp lại. Trong khi đó, với nhà chung cư để ở, chính quyền địa phương đã đưa ra mức trần phí quản lý, như tại Hà Nội, mức tối thiểu là 1.200 đồng, tối đa 16.500 đồng/m2.
Theo ông, nhiều dự án condotel, biệt thự nghỉ dưỡng hiện mang bản chất của hoạt động huy động vốn hơn là giao dịch bất động sản truyền thống. Nhà đầu tư mua sản phẩm này với kỳ vọng nhận lợi nhuận từ khai thác kinh doanh trong tương lai, tương tự việc cổ đông mua cổ phiếu doanh nghiệp để hưởng cổ tức và tăng giá cổ phiếu. Tuy nhiên, cơ chế công bố thông tin, quản trị và giám sát lại chưa bám sát với bản chất của loại hình đầu tư này.
Ông Nguyễn Đình Thọ đề xuất nghiên cứu mô hình quỹ đầu tư hoặc các cấu trúc tài chính tương tự để quản lý huy động vốn sản phẩm bất động sản nghỉ dưỡng. Nói cách khác, dự án có 100 nhà đầu tư giống như một doanh nghiệp có 100 cổ đông, chủ đầu tư cần công bố thông tin định kỳ, báo cáo tài chính, kiểm toán và cơ chế công khai thông tin tương tự thị trường chứng khoán.
“Giải pháp này đảm bảo quyền lợi người mua, bảo vệ doanh nghiệp làm ăn chân chính, tránh tình trạng các mô hình kinh doanh hợp pháp bị đánh đồng với hành vi lừa đảo”, ông Thọ nói.
Theo công bố từ Ngân hàng Nhà nước (NHNN), lãi suất thị trường liên ngân hàng ngày 26.5 tăng nhẹ so với cuối tuần qua. Lãi suất tiền đồng ở kỳ hạn qua đêm lên 7,68%/năm, 1 và 2 tuần lên 7,48%/năm, 1 tháng lên 7,49%/năm, 3 tháng lên 7,75%, 6 tháng 8,55%/năm… Doanh số chủ yếu tập trung ở kỳ hạn qua đêm là chính, lên đến 816.140 tỉ đồng, kỳ 1 hạn 1 tuần có doanh số 78.364 tỉ đồng, 2 tuần 14.150 tỉ đồng.
Trên thị trường mở (OMO), các ngân hàng trúng thầu với khối lượng lớn. Ngày 27.5, ở kỳ hạn 7 ngày, 7 thành viên trúng thầu với khối lượng 6.000 tỉ đồng; kỳ hạn 35 ngày có 10 thành viên trúng 13.000 tỉ đồng; 19 thành viên trúng thầu kỳ hạn 56 ngày với khối lượng 14.000 tỉ đồng. Lãi suất trúng thầu ở mức 4,5%/năm. Từ ngày 18 - 20.5, tại kênh cầm cố, NHNN chào thầu 45.000 tỉ đồng với các kỳ hạn 7 ngày, 35 ngày và 56 ngày, lãi suất duy trì ở mức 4,5%. Tất cả khối lượng này đều trúng thầu. Trong tuần, có 52.000 tỉ đồng đáo hạn trên kênh cầm cố và NHNN không chào thầu tín phiếu NHNN. Như vậy, tuần qua, NHNN hút ròng 7.000 tỉ đồng khỏi thị trường qua kênh OMO. Có 301.578,83 tỉ đồng lưu hành trên kênh cầm cố.
Theo Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam, hoạt động huy động vốn ngân hàng thời gian qua luôn có sự chênh lệch giữa tín dụng và huy động vốn, tạo áp lực lên thanh khoản hệ thống. Lãi suất huy động tiếp tục phân hóa mạnh, dao động từ 3,7 - 7,7%/năm. Qua quá trình giám sát, NHNN phát hiện vẫn còn một số ngân hàng thương mại thực hiện điều chỉnh tăng lãi suất. Do đó, NHNN đề nghị NHNN chi nhánh tại các khu vực họp với các ngân hàng thương mại yêu cầu quán triệt việc cắt giảm lãi suất, cũng như kiểm tra việc thực hiện.
Đó là nhận định của các chuyên gia tại Hội thảo "An ninh năng lượng đến năm 2030: Khơi thông nguồn lực phát triển hạ tầng năng lượng" do Hội Thông tin Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASTI) phối hợp Tạp chí Một Thế Giới tổ chức tại TP.HCM ngày 17.7.
Phát biểu khai mạc, TS Trần Văn Tùng, Chủ tịch VASTI, cho rằng sự phát triển của kinh tế số, trí tuệ nhân tạo (AI), điện toán đám mây, trung tâm dữ liệu và các ngành công nghệ cao đang khiến nhu cầu điện tăng nhanh. Trong khi quá trình chuyển dịch năng lượng xanh và biến động thị trường năng lượng toàn cầu tạo thêm nhiều sức ép. Vì thế, phát triển hạ tầng năng lượng không chỉ cần nguồn vốn mà còn phải khai thác hiệu quả tri thức, công nghệ và nguồn nhân lực.
Tại hội thảo, ông Bùi Trung Kiên, Phó tổng giám đốc Tổng công ty Điện lực TP.HCM (EVNHCMC), thông tin đến năm 2030 sản lượng điện thương phẩm của TP.HCM có thể đạt khoảng 75 tỉ kWh. Riêng các dự án AI Data Center trước mắt cần khoảng 200 MW điện. Thách thức không chỉ là đáp ứng công suất mà còn phải bảo đảm nguồn điện ổn định, liên tục, đòi hỏi đầu tư đồng bộ lưới điện, nguồn dự phòng và hạ tầng đấu nối.
Ông Đỗ Văn Năm, Thành viên Hội đồng thành viên Tổng công ty Điện lực miền Bắc (EVNNPC), dự báo nhu cầu điện sẽ tiếp tục tăng mạnh đến năm 2030, với sản lượng điện thương phẩm đạt khoảng 160-165 tỉ kWh và công suất phụ tải cực đại gần 32.800 MW. Ông cho rằng cần đẩy nhanh đầu tư nguồn và lưới điện, phát triển năng lượng tái tạo và sử dụng điện hiệu quả để đáp ứng nhu cầu tăng trưởng.
VGS-TS Võ Xuân Vinh, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Kinh doanh (Đại học Kinh tế TP.HCM), nhận định giai đoạn 2026-2030 là "cửa sổ cơ hội" để Việt Nam tháo gỡ các điểm nghẽn của ngành năng lượng. "Những nút thắt lớn nhất hiện nay là cơ chế tài chính, chính sách và hạ tầng truyền tải. Giá điện chưa phản ánh đầy đủ tín hiệu thị trường, trong khi lưới điện và hệ thống lưu trữ chưa theo kịp tốc độ phát triển năng lượng tái tạo", ông Vinh chỉ rõ.
Để bảo đảm an ninh năng lượng, GS Võ Xuân Vinh đề xuất ba ưu tiên gồm: cải cách thị trường điện theo cơ chế giá thị trường và tái cơ cấu EVN; hoàn thiện chính sách để thu hút đầu tư; đẩy mạnh đầu tư lưới điện, hệ thống lưu trữ năng lượng và các dự án điện gió ngoài khơi. Chỉ khi tháo gỡ đồng bộ các điểm nghẽn về thể chế, tài chính và hạ tầng, Việt Nam mới có thể bảo đảm an ninh năng lượng và đáp ứng mục tiêu tăng trưởng bền vững.
PGS-TS Huỳnh Thành Đạt - Phó trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, nguyên Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ - khẳng định, an ninh năng lượng không chỉ là bảo đảm nguồn cung cho phát triển kinh tế - xã hội mà đã trở thành yếu tố cốt lõi của năng lực cạnh tranh quốc gia và là nền tảng cho các ngành công nghệ chiến lược như AI, trung tâm dữ liệu, bán dẫn và điện toán đám mây. Năng lượng là "hạ tầng của hạ tầng", quyết định khả năng phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và mô hình tăng trưởng mới. Do đó, cần khơi thông nguồn lực phát triển hạ tầng năng lượng thông qua hoàn thiện thể chế, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển nguồn nhân lực, nâng cao năng lực doanh nghiệp và tăng cường hợp tác quốc tế, nhằm tạo nền tảng cho tăng trưởng bền vững trong dài hạn.
Thị trường chứng khoán ngày 25/6 ghi nhận diễn biến kém tích cực khi áp lực bán gia tăng trong bối cảnh dòng tiền suy yếu và thiếu vắng động lực dẫn dắt từ nhóm cổ phiếu vốn hóa lớn.
Sau nhịp tăng đầu phiên, VN-Index nhanh chóng quay đầu giảm khi nhóm cổ phiếu họ Vingroup đồng loạt điều chỉnh, trong khi các nhóm ngân hàng và chứng khoán chỉ dao động nhẹ. Đến cuối phiên sáng, áp lực bán gia tăng khiến chỉ số có thời điểm đánh mất mốc 1.860 điểm.
Bước sang phiên chiều, thanh khoản tiếp tục ở mức thấp, lực cầu chưa đủ mạnh để hấp thụ lượng cung gia tăng. VN-Index duy trì trạng thái rung lắc và đóng cửa tại 1.863,07 điểm, giảm 14,95 điểm, tương ứng 0,8% so với phiên trước.
Trên sàn HoSE, thị trường ghi nhận 177 mã giảm giá, trong khi chỉ có 119 mã tăng và 69 mã đứng tham chiếu. Tổng khối lượng giao dịch đạt hơn 490,6 triệu cổ phiếu, tương ứng giá trị 16.113,8 tỷ đồng. Trong đó, giao dịch thỏa thuận đạt gần 89,8 triệu đơn vị.
Xét theo nhóm ngành, bất động sản là một trong những lĩnh vực gây áp lực lớn nhất lên thị trường khi chỉ số ngành giảm 1,73%.
Nhiều cổ phiếu vốn hóa lớn đóng cửa trong sắc đỏ như VIC giảm 2,39% xuống 225.000 đồng/cổ phiếu, VHM giảm 1,94% xuống 156.500 đồng/cổ phiếu, VRE giảm 2,31%, NVL giảm 2,32% và HDC giảm 2,3%. Một số mã đi ngược xu hướng như NRC tăng 6,35%, HQC tăng 0,4%, VPI tăng 0,32% và KBC tăng nhẹ 0,17%.
Nhóm năng lượng là ngành giảm mạnh nhất thị trường với mức giảm 2,58%. Hàng loạt cổ phiếu dầu khí chịu áp lực bán như BSR giảm 3,72%, PVC giảm 4,48%, PVS giảm 2,06%, PLX giảm 1,46% và PVD giảm 1,1%.
Ở chiều ngược lại, nhóm tài chính tiếp tục đóng vai trò nâng đỡ chỉ số khi tăng 0,22% và là ngành có thanh khoản lớn nhất thị trường với giá trị giao dịch hơn 5.531 tỷ đồng.
Trong nhóm ngân hàng, TCB tăng 2,77%, OCB tăng 2,83%, trong khi SHB giữ giá tham chiếu. Nhiều mã khác như ACB, CTG, MBB và HDB chỉ điều chỉnh nhẹ dưới 1,2%.
Nhóm viễn thông cũng là điểm sáng hiếm hoi khi tăng 0,18%. Đáng chú ý, SMT tăng mạnh 9,68%, VGI tăng 0,23%, góp phần thu hẹp đà giảm của thị trường chung.
Trong khi đó, nhóm công nghệ diễn biến phân hóa. FPT tăng 0,28% với thanh khoản hơn 6,5 triệu cổ phiếu, ELC tăng 0,92%, trong khi GEE giảm 1,96% và CMG giảm nhẹ 0,18%.
Về giao dịch nhà đầu tư nước ngoài, khối ngoại tiếp tục duy trì trạng thái bán ròng với giá trị hơn 1.073 tỷ đồng. Các mã bị bán mạnh gồm VHM, CTG, FPT, BSR, VIC và STB. Ở chiều mua, dòng vốn ngoại tập trung vào một số cổ phiếu như LPB, POW và BMP.