Bộ Tài chính vừa đề xuất loại bỏ sản xuất, lắp ráp, nhập khẩu ô tô khỏi danh mục kinh doanh có điều kiện (từ ngày 1.7.2026). Đề xuất này tuy có vẻ mang lại sự thông thoáng, giảm chi phí nhưng sẽ đe dọa sự phát triển của công nghiệp ô tô, hệ sinh thái ô tô, quyền lợi người tiêu dùng và các hệ lụy cho phát triển của đất nước ở kỷ nguyên vươn mình.
Trải qua 30 năm phát triển, Việt Nam là một trong số ít các quốc gia (18 nước) có khả năng tự sản xuất được thương hiệu ô tô nội địa bài bản, sản lượng năm 2025 khoảng 484.500 xe, tăng trưởng 39,1% so với 2024. Theo Tổ chức các nhà sản xuất ô tô quốc tế (OICA), Việt Nam ở vị trí 32 – 34 sản lượng ô tô toàn cầu.
Tổng doanh thu toàn ngành công nghiệp ô tô hơn 1,7 triệu tỉ đồng, đóng góp khoảng 3% tổng sản phẩm nội địa (GDP), nếu tính cả các hệ sinh thái ô tô như sản xuất lắp ráp, công nghiệp hỗ trợ, dịch vụ kỹ thuật và thương mại thì mức đóng góp khoảng 5 – 7%.
Hiện ngành ô tô Việt Nam có khoảng 1 triệu lao động, là nhóm có năng suất lao động cao nhất trong các ngành chế biến, chế tạo, gấp khoảng 3 – 5 lần so với các ngành lao động thấp khác.
Dư địa để phát triển ngành công nghiệp ô tô rất lớn khi tỷ lệ sở hữu xe hiện tại mới đạt khoảng 63 xe/1.000 dân, thấp hơn nhiều so với các nước trong khu vực như Thái Lan 280 xe/1.000 dân, Malaysia 170 xe/1.000 dân. Giai đoạn 2025 – 2030 được xác định là thời kỳ “bùng nổ ô tô hóa” (motorization) khi GDP bình quân đầu người vượt ngưỡng 5.000 USD hướng tới 7.500 USD vào năm 2030, là cơ hội “vàng” để ngành ô tô Việt Nam bứt phá.
Theo dự báo, tốc độ tăng trưởng ngành ô tô bình quân 14 – 16%/năm, đây là mức tăng trưởng rất cao, góp phần tăng trưởng GDP cả nước kỳ vọng 2 con số. Quy mô tiêu thụ dự kiến đạt 1 – 1,1 triệu xe năm 2030 với đóng góp GDP và vai trò ngành công nghiệp lên mức 7% – 9% GDP hoặc cao hơn, đáp ứng khoảng 70% nhu cầu nội địa. Công nghiệp hỗ trợ với mức nội địa hóa 55 – 60%, tạo tiền đề để xuất khẩu linh kiện và phụ tùng đạt giá trị 14 tỉ USD.
Với tiềm năng lớn, ngành ô tô Việt Nam cần một cuộc cách mạng về chính sách và đầu tư nghiên cứu và phát triển (R&D) để có thể tiến vào tốp 10 quốc gia sản xuất ô tô thế giới và làm chủ công nghệ lõi (ICE, PIN, EVCU).
Đầu tiên, Việt Nam cần thay đổi chính sách để tạo điều kiện phát triển, chuyển từ “lắp ráp” sang “nghiên cứu R&D và sản xuất” như duy trì “lá chắn” kỹ thuật giữ ô tô trong danh mục kinh doanh có điều kiện nhưng chuyển sang hậu kiểm minh bạch. Đồng thời, sử dụng rào cản kỹ thuật như khí thải Euro 6, 7, tiêu chuẩn an toàn để ngăn chặn xe công nghệ cũ, giá rẻ tràn vào.
Bên cạnh đó, nhà nước cũng cần ưu đãi đặc thù cho công nghệ lõi. Với xe ô tô truyền thống, nhà nước có thể hỗ trợ trực tiếp cho các dự án sản xuất động cơ, như mô hình Kim Long Motor hợp tác sản xuất, xuất khẩu động cơ. Còn với xe điện, ưu đãi đặc thù có thể tập trung vào sản xuất pin và hệ điều hành EVCU.
Chính sách thuế quan cũng nên áp dụng linh hoạt, trong đó mức thuế nhập khẩu 0% cho linh kiện phục vụ sản xuất trong nước chưa làm được, đồng thời bảo hộ có thời hạn cho linh kiện đã nội địa hóa đạt chuẩn.
Để đạt tốp 10, Việt Nam phải nâng tỷ lệ đầu tư cho R&D lên mức đột phá, từ 0,43% GDP tăng lên mức 2 – 4% doanh thu, tương đương các nước phát triển, thông qua các quỹ hỗ trợ đổi mới công nghệ của nhà nước.
Ngoài ra, nhà nước cũng cần hỗ trợ làm chủ công nghệ thông qua việc giúp doanh nghiệp giảm chi phí thử nghiệm sản phẩm mới và làm chủ các tiêu chuẩn quốc tế, đào tạo nhân lực chuyên sâu về động cơ ô tô, pin EVCU-AI…
Ô tô là “ngành công nghiệp nền tảng”, đóng vai trò là ngành trung tâm, dẫn dắt nhiều ngành khác phát triển, kéo theo chuỗi cung ứng của các ngành công nghiệp và chuỗi dịch vụ kỹ thuật – thương mại. Nếu mất đi, Việt Nam sẽ chỉ là thị trường tiêu thụ, phụ thuộc hoàn toàn vào công nghệ và sản phẩm từ bên ngoài, đánh mất cơ hội làm chủ các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo cốt lõi.
Thực tế cho thấy các quốc gia có ngành ô tô mạnh đều trải qua và duy trì bảo hộ. Đơn cử như Hàn Quốc từng cấm nhập khẩu xe nguyên chiếc trong nhiều thập niên để Hyundai, Kia có thời gian lớn mạnh và chiếm lĩnh thị trường. Thái Lan duy trì các điều kiện cực kỳ khắt khe về tỷ lệ nội địa hóa và tiêu chuẩn kỹ thuật…
Trung Quốc sử dụng chính sách “đổi thị trường lấy công nghệ”, buộc các hãng xe ngoại phải liên doanh với doanh nghiệp nội và đáp ứng các tiêu chuẩn sản xuất nghiêm ngặt để được hoạt động.
Chưa kể, khi không còn hàng rào kỹ thuật, rủi ro “thương mại ngắn hạn” sẽ phát sinh với sự xuất hiện hàng loạt doanh nghiệp nhỏ chỉ làm thương mại, người tiêu dùng bị bỏ rơi. Ô tô là tài sản lớn và cần bảo trì định kỳ 10 – 15 năm, doanh nghiệp thương mại thuần túy thường không đầu tư kho phụ tùng hay trạm dịch vụ chuyên nghiệp, gây khó khăn cho người mua do thiếu linh kiện thay thế chính hãng.
Đối với doanh nghiệp, chính sách này có thể phá vỡ quy hoạch và “phi công nghiệp hóa”, gây tác dụng ngược cho công nghiệp hiện đại. Các tập đoàn lớn sẽ cân nhắc việc đóng cửa nhà máy tại Việt Nam để chuyển sang nhập khẩu từ các trung tâm sản xuất lớn trong khu vực. Hậu quả, Việt Nam sẽ mất đi cơ hội tiếp nhận chuyển giao công nghệ và đào tạo nhân lực kỹ thuật cao.
Đối với kinh tế vĩ mô, thay vì giá trị gia tăng được giữ lại trong nước thông qua sản xuất, dòng tiền sẽ chảy ra nước ngoài để chi trả cho xe nguyên chiếc nhập khẩu. Nếu sản xuất đình trệ, làn sóng thất nghiệp ở nhóm lao động kỹ năng là điều khó tránh khỏi.
Chưa kể, việc nhập khẩu ồ ạt các dòng xe giá rẻ, công nghệ cũ (để tối ưu giá) sẽ gây áp lực cực lớn lên hạ tầng giao thông vốn đã quá tải và làm trầm trọng thêm vấn đề ô nhiễm môi trường.
Đặc biệt, Việt Nam có thể sẽ đánh mất cơ hội trong “kỷ nguyên xe điện” khi sản xuất, lắp ráp, nhập khẩu ô tô không còn trong danh mục kinh doanh có điều kiện. Việt Nam đang có cơ hội hiếm hoi để “đi tắt đón đầu” thông qua xe điện.
Nếu “thả cửa”, các dòng xe điện giá siêu rẻ, không có hạ tầng trạm sạc tiêu chuẩn, không có cam kết tái chế pin từ các đơn vị nhập khẩu thương mại sẽ tràn vào, không chỉ phá vỡ quy hoạch ngành xe điện nội địa mà còn để lại gánh nặng về môi trường.
Thay vì xóa bỏ, nhà nước nên “nâng cấp” các điều kiện kinh doanh bằng số hóa thủ tục, chuyển toàn bộ việc đăng ký, kiểm định, báo cáo sang môi trường số, giúp loại bỏ cơ chế “xin – cho”, giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp. Tiêu chuẩn hóa thay vì định tính các điều kiện kinh doanh bằng các bộ tiêu chuẩn kỹ thuật rõ ràng thay vì những quy định chung chung dễ gây hiểu lầm.
Chuyển từ “tiền kiểm” sang “hậu kiểm có kiểm soát” là mấu chốt của cải cách hiện đại. Tiền kiểm thường bắt doanh nghiệp phải chứng minh đủ điều kiện mới được phép kinh doanh. Điều này thường tạo ra rào cản gia nhập thị trường và gây chậm trễ.
Trong khi đó, hậu kiểm có kiểm soát cho phép kinh doanh dựa trên cam kết, doanh nghiệp được phép hoạt động ngay sau khi đăng ký và cam kết đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn về bảo hành, bảo dưỡng, an toàn. Cách làm này vừa tạo sự thông thoáng cho các doanh nghiệp làm ăn chân chính, vừa loại bỏ được các doanh nghiệp “thương mại chụp giật” không đủ năng lực hậu mãi bài bản.
Ngày 18.5, UBND tỉnh Lâm Đồng ban hành văn bản chỉ đạo các giải pháp triển khai nguồn vốn đầu tư công năm 2026. Đáng chú ý, Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng Hồ Văn Mười nghiêm khắc phê bình 10 chủ tịch UBND xã, phường có kế hoạch vốn lớn nhưng chưa giải ngân vốn đầu tư công được đồng nào.
Theo kết quả giải ngân vốn đầu tư công đến giữa tháng 5.2026, nhiều địa phương được giao nguồn vốn hàng chục tỉ đồng nhưng tỉ lệ giải ngân vẫn bằng 0.
Văn bản do Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng Hồ Văn Mười ký nêu rõ, phường Phú Thủy là địa phương được giao vốn cao nhất, hơn 19,5 tỉ đồng nhưng đến nay "chưa giải ngân một đồng nào". Tiếp theo là phường Bắc Gia Nghĩa hơn 16,9 tỉ đồng; phường Phước Hội hơn 16,4 tỉ đồng; phường Mũi Né 16,2 tỉ đồng; phường Hàm Thắng hơn 15,8 tỉ đồng; phường Xuân Trường - Đà Lạt 15,7 tỉ đồng; xã Đức Lập hơn 15,6 tỉ đồng; phường Tiến Thành 15,5 tỉ đồng; xã Tân Hội 15,1 tỉ đồng và xã Krông Nô 14,2 tỉ đồng. Tất cả địa phương này đều có tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công bằng 0.
Đáng chú ý, trong 10 xã, phường bị phê bình có 5 đơn vị thuộc địa bàn tỉnh Bình Thuận trước đây.
Không chỉ cấp xã, phường, Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng cũng phê bình 5 giám đốc ban quản lý dự án có kết quả giải ngân thấp nhất toàn tỉnh.
Cụ thể, Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng số 1 mới giải ngân đạt 2,7%; Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng khu vực Hàm Tân đạt 0,96%; Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng khu vực Tánh Linh chưa giải ngân; Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng khu vực Đắk Mil đạt 2,81%; Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng khu vực Đắk R'lấp đạt 3,29%.
Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng yêu cầu 10 chủ tịch UBND xã, phường cùng 5 giám đốc ban quản lý dự án khẩn trương kiểm điểm trách nhiệm, báo cáo kết quả về UBND tỉnh. Đồng thời, các đơn vị phải làm rõ nguyên nhân chậm giải ngân vốn đầu tư công, xây dựng kế hoạch và giải pháp khắc phục trong thời gian tới.
UBND tỉnh cũng yêu cầu các sở, ngành, địa phương và chủ đầu tư tiếp tục thực hiện nghiêm chỉ đạo của Chính phủ và của tỉnh về thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công. Người đứng đầu các cơ quan, đơn vị phải xác định đây là nhiệm vụ chính trị trọng tâm, ưu tiên hàng đầu trong năm 2026, tập trung chỉ đạo quyết liệt để tạo chuyển biến rõ nét, góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng 2 con số.
UBND tỉnh Lâm Đồng nhấn mạnh, trường hợp không hoàn thành nhiệm vụ giải ngân sẽ bị xử lý theo quy định pháp luật.
Bên cạnh đó, Chủ tịch UBND tỉnh giao Sở Tài chính theo dõi sát tình hình, tham mưu các giải pháp điều hành linh hoạt, đột phá nhằm bảo đảm mục tiêu giải ngân vốn đầu tư công năm 2026 đạt 100%.
Ngày 19/4, Bắc Ninh tổ chức đối thoại giữa lãnh đạo tỉnh, các sở ngành với gần 400 cán bộ công đoàn cơ sở và công nhân trong doanh nghiệp. Nội dung tập trung vào tiền lương, phúc lợi, bảo hiểm xã hội, hưu trí và nhà ở xã hội.
Toàn tỉnh có hơn 26.000 doanh nghiệp với khoảng 820.000 lao động, trong đó 568.000 người làm việc tại các khu công nghiệp. Nhiều ý kiến tại hội nghị phản ánh khoảng cách giữa chính sách và thực tế việc làm, thu nhập của người lao động.
Ông Phạm Văn Trung, Chủ tịch Công đoàn Công ty Goertek Vina - doanh nghiệp điện tử có gần trăm nghìn lao động làm việc tại KCN Quế Võ, đề nghị nghiên cứu giảm tuổi nghỉ hưu với lao động sản xuất. Theo ông, dù tuổi hưu đang tăng theo lộ trình lên 62 với nam vào năm 2028 và 60 với nữ vào năm 2035, doanh nghiệp tư nhân hầu như không bố trí việc làm cho lao động ở độ tuổi này, nhất là vị trí trực tiếp sản xuất do yêu cầu về sức khỏe và năng suất.
"Nhiều lao động buộc phải nghỉ việc sớm, dẫn đến thiệt thòi về thu nhập và quyền lợi bảo hiểm xã hội khi chưa đủ điều kiện hưởng lương hưu", ông nói.
Bộ luật Lao động quy định tuổi nghỉ hưu tăng dần theo lộ trình, đồng thời cho phép nghỉ sớm tối đa 5 năm với người suy giảm khả năng lao động hoặc làm nghề nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm. Tuy nhiên, nếu nghỉ trước tuổi, người lao động bị giảm 2% tỷ lệ hưởng lương hưu mỗi năm.
Đây không phải lần đầu xuất hiện đề xuất phân loại nhóm lao động để nghỉ hưu sớm. Trước đó, khi góp ý dự thảo Luật Bảo hiểm xã hội sửa đổi năm 2024, Liên đoàn Lao động TP Hà Nội cũng kiến nghị áp dụng cơ chế này với công nhân trực tiếp sản xuất.
Về tiền lương tối thiểu vùng, bà Vũ Thị Ninh, Chủ tịch Công đoàn Công ty Cổ phần công nghệ cao môi trường Bình Nguyên, cho biết mức lương tối thiểu vùng II hiện là 4,73 triệu đồng mỗi tháng. Mức này chưa theo kịp đà tăng của điện, nước, xăng dầu và nhu yếu phẩm.
"Đề xuất lãnh đạo tỉnh sớm kiến nghị với Chính phủ điều chỉnh mức lương tối thiểu vùng để đảm bảo thu nhập và giá trị tích lũy của lao động", bà nói.
Phản hồi các kiến nghị, Phó giám đốc Sở Nội vụ Trần Văn Hà cho biết pháp luật hiện hành đã có các quy định linh hoạt cho phép nghỉ hưu sớm trong một số trường hợp, như làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm. Với đề xuất giảm tuổi hưu, Sở sẽ tổng hợp, báo cáo cấp có thẩm quyền để xem xét trong quá trình hoàn thiện chính sách. Đồng thời, tỉnh sẽ nghiên cứu giải pháp sử dụng lao động cao tuổi phù hợp hơn trong doanh nghiệp.
Về lương tối thiểu, Sở Nội vụ Bắc Ninh cho biết đã báo cáo Bộ Nội vụ trong tháng 4, đề nghị sớm điều chỉnh mức lương tối thiểu vùng phù hợp với chi phí sinh hoạt hiện nay và sẽ tiếp tục theo dõi để kiến nghị bổ sung.
Hiện mức lương tối thiểu áp dụng từ ngày 1/1/2026 là 5,31 triệu đồng với vùng I; 4,73 triệu đồng vùng II; 4,14 triệu đồng vùng III và 3,7 triệu đồng vùng IV. Đây là mức sàn để doanh nghiệp và người lao động thỏa thuận trả lương.
Khảo sát của Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam với 3.000 lao động tại 10 tỉnh, thành cho thấy 55% có thu nhập chỉ đủ chi tiêu cơ bản, 26% phải tằn tiện và 8% không đủ sống, phải làm thêm. Gần 73% lao động độc thân cho biết thu nhập là rào cản chính khiến họ chưa lập gia đình.
Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) tại Việt Nam cho biết giai đoạn 2015-2022, lương tối thiểu danh nghĩa tăng từ 119 USD lên 168 USD/tháng nhưng giá trị thực tăng chậm do lạm phát. Giai đoạn 2015-2019, lương danh nghĩa tăng 42,7% nhưng thực tế chỉ tăng 20,1%; từ 2020-2022, lương danh nghĩa tăng hơn 6%, song thực tế chỉ tăng 0,7%.
Cơ quan này khuyến nghị việc điều chỉnh lương tối thiểu vùng cần dựa trên dữ liệu về lạm phát, tăng trưởng, năng suất lao động và khả năng chi trả của doanh nghiệp, đồng thời bảo đảm theo kịp chi phí sinh hoạt.
Ngày 12.5, dưới sự bảo trợ của Bộ Công an, Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Liên minh Niềm tin số phối hợp các đơn vị liên quan tổ chức diễn đàn "Digital Trust in Finance 2026" với chủ đề "Xây dựng niềm tin số tài chính trong kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo (AI)".
Phát biểu khai mạc diễn đàn, thượng tướng Phạm Thế Tùng, Thứ trưởng Bộ Công an, nhấn mạnh, trong bối cảnh AI và công nghệ số phát triển mạnh mẽ, niềm tin số đang trở thành nền tảng cốt lõi cho sự phát triển bền vững của kinh tế số và hệ thống tài chính hiện đại.
Thứ trưởng Phạm Thế Tùng cho rằng, niềm tin trong môi trường số không còn là yếu tố cảm tính mà đã trở thành điều kiện tiên quyết để các giao dịch được thực hiện và các quyết định tài chính được xác lập.
Các phương thức lừa đảo, chiếm đoạt tài sản ngày càng tinh vi, có tổ chức, đặc biệt với sự "hỗ trợ" của công nghệ AI đã tạo nên những "niềm tin giả" rất khó nhận diện. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải chuyển đổi cách tiếp cận trong bảo đảm an ninh tài chính số, từ phòng thủ thụ động sang chủ động kiến tạo niềm tin.
Theo ông Tùng, một hệ thống tài chính an toàn không chỉ là hệ thống không có rủi ro, mà là hệ thống nơi người dùng thực sự được bảo vệ, được trang bị năng lực nhận diện rõ rủi ro và được hỗ trợ kịp thời khi xảy ra các sự cố.
Thứ trưởng Phạm Thế Tùng cho rằng niềm tin số không thể được xây dựng bởi một cơ quan đơn lẻ mà đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý, tổ chức tài chính, doanh nghiệp công nghệ và toàn xã hội.
Phát biểu tại diễn đàn, Phó thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Tiến Dũng cũng cho rằng trong kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo, niềm tin phải được xem như một hạ tầng chiến lược của nền kinh tế số, được xây dựng bằng thể chế, công nghệ, quản trị rủi ro và sự phối hợp liên ngành.
Theo ông Dũng, trí tuệ nhân tạo AI mang lại nhiều cơ hội cho ngành ngân hàng như nâng cao hiệu quả vận hành, tự động hóa quy trình, cá nhân hóa dịch vụ, chấm điểm tín dụng, chăm sóc khách hàng, phát hiện giao dịch bất thường, phòng chống gian lận và rửa tiền.
Tuy nhiên, công nghệ này cũng làm phát sinh các rủi ro mới như deepfake, lừa đảo cá nhân hóa, giả mạo danh tính, thiên lệch thuật toán, mô hình "hộp đen" và nguy cơ tự động hóa các quyết định có tác động lớn tới khách hàng nếu thiếu kiểm soát phù hợp.
Trình bày tham luận với chủ đề An ninh tài chính số: Từ bảo vệ hệ thống đến bảo vệ người dùng tại diễn đàn, thượng tá Triệu Mạnh Tùng, Phó cục trưởng Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao (A05 - Bộ Công an), nhấn mạnh bảo vệ tài chính số không chỉ là bảo vệ hệ thống, mà còn là bảo vệ niềm tin của người dùng.
Để bảo vệ người dùng hiệu quả thì xác thực tài khoản là chưa đủ, thậm chí xác thực yếu tố sinh trắc học khi chuyển tiền như hiện nay cũng vẫn không đủ.
Cần chuyển dịch tư duy bảo vệ người dùng, trong đó phải có cơ chế xác thực hành vi người dùng, những vấn đề bất thường… và cần triển khai phòng ngừa chủ động, trong đó tập trung giáo dục nâng cao nhận thức và các kỹ năng tài chính số.
Trong kỷ nguyên AI, việc bảo vệ người dùng không thể chờ tới khi thiệt hại xảy ra mới xử lý mà cần có cơ chế cảnh báo rủi ro ngay trước thời điểm người dùng thực hiện giao dịch.
Muốn làm được điều này, dữ liệu về các mối nguy cơ phải đủ lớn và được cập nhật để chia sẻ. Cạnh đó, cần có sự tham gia của các tổ chức tài chính, doanh nghiệp công nghệ, các nền tảng số và cộng đồng đóng góp vào cơ sở dữ liệu chung, đồng thời sử dụng dữ liệu đó để chủ động cảnh báo cho khách hàng, người dùng của mình.
"Mong rằng trong kỷ nguyên số chúng ta sẽ bảo vệ các hệ thống tốt, đồng thời cũng bảo vệ khách hàng của mình", thượng tá Triệu Mạnh Tùng nhấn mạnh.