AFP hôm 11.5 dẫn thông báo từ văn phòng thủ tướng Pháp cho biết một công dân Pháp trên chuyến bay sơ tán đã bắt đầu xuất hiện các triệu chứng nghi nhiễm virus hanta sau khi rời du thuyền MV Hondius ở cảng Tenerife thuộc quần đảo Canary (Tây Ban Nha).
Giới chức trước đó cho hay không có thêm trường hợp nào có triệu chứng trên tàu ngoại trừ những bệnh nhân đã xét nghiệm nhiễm biến thể Andes của virus hanta. Đây là biến thể hiếm có thể lây từ người sang người.
Kể từ khi tàu cập cảng, hành khách được sơ tán một cách thận trọng theo quốc tịch và được đưa lên các chuyến bay hồi hương khác nhau. Công dân Tây Ban Nha là nhóm đầu tiên rời tàu, sau đó được đưa tới Madrid và chuyển đến một bệnh viện quân đội.
Các hành khách Mỹ, Pháp và Anh cũng đã được sơ tán.
Đến chiều 10.5, Thủ tướng Pháp Sébastien Lecornu thông báo trên mạng xã hội rằng một công dân nước này đang trên chuyến bay hồi hương thì xuất hiện triệu chứng.
Ông Lecornu không đề cập liệu hành khách đó đã được xét nghiệm dương tính với virus hanta hay chưa, hoặc các triệu chứng nghi nhiễm là gì.
Theo thủ tướng, toàn bộ 5 hành khách tên tàu bay lập tức được cách ly nghiêm ngặt cho đến khi có thông báo mới, và sẽ được tiến hành xét nghiệm.
Cùng ngày, Bộ Y tế và Dịch vụ Nhân sinh Mỹ cho biết một trong 17 hành khách nước này được sơ tán khỏi tàu MV Hondius đã cho xét nghiệm dương tính nhẹ với chủng Andes, trong khi người thứ hai xuất hiện các triệu chứng nhẹ.
Mọi công dân Mỹ trên tàu đã lên máy bay về nước, riêng hai hành khách có triệu chứng đi cùng các đơn vị kiểm soát sinh học.
Tin Gốc: Thanh Niên

3 tháng sau khi Mỹ - Israel mở chiến dịch tấn công Iran, các cuộc giao tranh nóng đã dừng lại nhờ lệnh ngừng bắn, nhưng lệnh phong tỏa cảng biển của Washington và việc Tehran kiểm soát eo biển Hormuz đã tạo ra thế bế tắc toàn diện ở tuyến đường biển huyết mạch với năng lượng toàn cầu.
Đến nay, không bên nào chịu nhượng bộ để mở lại eo biển Hormuz, khiến thiệt hại với kinh tế thế giới ngày càng trầm trọng và nguy cơ xung đột bùng phát trở lại đang tăng lên từng ngày. Tổng thống Mỹ Donald Trump nhiều lần tỏ ra mất kiên nhẫn với Iran và ngày 18/5 tuyên bố ông đã phê duyệt chiến dịch không kích Iran trở lại, nhưng đồng ý hoãn theo đề nghị của các nước vùng Vịnh để tiếp tục tạo điều kiện cho đàm phán.
Câu hỏi mà các nhà hoạch định chính sách đặt ra lúc này là tình trạng bế tắc trong đàm phán có thể kéo dài bao lâu trước khi các bên cạn kiên nhẫn và đi đến quyết định nối lại chiến sự.
Những lời kêu gọi nối lại hành động quân sự đang xuất hiện ngày càng nhiều tại Mỹ và Israel, khi một số quan chức lập luận rằng gia tăng áp lực bằng bom đạn có thể làm suy yếu vị thế của Iran và buộc họ phải khuất phục trên bàn đàm phán.
"Nhưng có một vấn đề lớn đối với lập luận này. Mỹ đã thử nghiệm nó, lặp đi lặp lại mà Iran vẫn không đầu hàng", Danny Citrinowicz, chuyên gia cấp cao về Iran tại Viện Nghiên cứu An ninh Quốc gia Israel, nhận xét.
Hãng thông tấn Reuters dẫn lời các quan chức Iran khẳng định việc nhượng bộ về chương trình tên lửa, năng lực hạt nhân hay quyền kiểm soát eo biển Hormuz không phải thỏa hiệp mà là đầu hàng, bởi chúng đóng vai trò như trụ cột tư tưởng quyết định sống còn của Cộng hòa Hồi giáo.
Citrinowicz cho rằng điều này cho thấy vì sao ngay cả cuộc đối đầu quân sự kéo dài cũng không thể khiến Tehran từ bỏ những lằn ranh đỏ của mình và lý do việc Mỹ đẩy căng thẳng leo thang hơn nữa cũng khó có thể thành công.
Đòn bẩy thời gian
Mỹ muốn Iran ngừng làm giàu uranium trong 20 năm và chuyển toàn bộ vật liệu hạt nhân sang nước này.
Trong khi đó, Iran muốn Mỹ - Israel chấm dứt các cuộc tấn công, được bảo đảm an ninh, bồi thường chiến tranh và được công nhận chủ quyền đối với eo biển Hormuz, những điều khoản mà Washington đến nay vẫn bác bỏ.
Tổng thống Trump cuối tuần trước cảnh báo Iran rằng "thời gian không còn nhiều", đồng thời tuyên bố họ "tốt nhất nên hành động nhanh lên, nếu không sẽ chẳng còn lại gì". Ông đe dọa nếu Tehran không đạt được thỏa thuận với Washington, họ sẽ phải đối mặt với "một khoảng thời gian vô cùng tồi tệ".
Theo Ali Vaez từ Tổ chức Khủng hoảng Quốc tế, không bên nào chịu nhượng bộ để đạt được thỏa thuận bởi "cả hai đều tin thời gian ủng hộ mình và bản thân đang chiếm ưu thế". "Chính suy nghĩ đó đang khiến thỏa thuận trở nên bất khả thi", ông nói.
Hệ quả là một cuộc chiến sức bền đang tập trung vào eo biển Hormuz. Trước xung đột, eo biển này vận chuyển khoảng 25% lượng dầu thô và 20% lượng khí hóa lỏng toàn cầu. Hiện tại, Hormuz gần như bị đóng cửa, gây gián đoạn nguồn cung năng lượng, khiến thiệt hại kinh tế với Mỹ nói riêng và thế giới nói chung ngày càng tăng. Giá xăng tại Mỹ đã liên tiếp tăng trong những tuần qua, trong khi chính quyền Trump không còn nhiều công cụ hữu hiệu để hạ giá năng lượng.
Cựu quan chức phụ trách vấn đề Iran thuộc Bộ Ngoại giao Mỹ Alan Eyre, người từng tham gia các cuộc đàm phán trước đây giữa Washington và Tehran, nhận định mục tiêu đạt được thỏa thuận giữa các bên đang nằm ngoài tầm với.
"Hai bên sẽ không bao giờ đạt được đồng thuận. Tổng thống Trump không chỉ muốn thắng, ông ấy muốn được nhìn nhận là đã nghiền nát Iran", Eyre cho hay.
Iran lại coi kho dự trữ uranium làm giàu cũng như quyền kiểm soát eo biển Hormuz là những tài sản chiến lược cốt lõi quyết định sự tồn vong của quốc gia. "Vì vậy, Iran quyết tâm sử dụng những tài sản này để bảo đảm lợi ích", một quan chức cấp cao nước này tuyên bố, đồng thời khẳng định đầu hàng "không phải một lựa chọn".
"Chúng tôi chiến đấu, chúng tôi ngã xuống, nhưng chúng tôi không chấp nhận bị hạ nhục. Đầu hàng là điều hoàn toàn không có trong bản sắc của Iran", ông nói.
Áp lực ngày càng tăng với Iran
Một quan chức Iran khác lập luận rằng Tehran thực chất đã thắng, không phải bằng cách đánh bại Washington về mặt quân sự, mà bằng việc không chịu khuất phục. Việc chiến dịch không kích do Mỹ - Israel thực hiện suốt nhiều tuần không thể khiến Iran lùi bước càng củng cố quan điểm ở nước này lâu nay rằng sở hữu uranium và kiểm soát eo biển Hormuz là yếu tố cốt lõi trong năng lực răn đe của họ.
"Tổng thống Trump muốn tuyên bố chiến thắng, nhưng Iran sẽ không giúp ông ấy làm được điều đó. Liệu nền kinh tế thế giới có chịu đựng nổi áp lực này không? Đây là câu hỏi mà ông Trump đang nợ thế giới câu trả lời", quan chức Iran nói thêm.
Theo ông, thêm nhiều cuộc không kích hơn nữa cũng không thay đổi được tính toán của Iran mà chỉ đẩy nhanh tiến trình leo thang căng thẳng. Tehran sẽ không bao giờ từ bỏ làm giàu uranium hay cúi đầu trước tối hậu thư nếu không nhận được tín hiệu thỏa hiệp từ Washington.
Tuy nhiên, đằng sau lập trường cứng rắn, các nguồn tin Iran thân cận với chính quyền mô tả một thực tế nhiều mâu thuẫn hơn. Tehran không muốn kéo dài tình trạng "lửng lơ", nhất là khi lạm phát leo thang, thất nghiệp trầm trọng và các đợt không kích vào những ngành công nghiệp then chốt đang khiến nền kinh tế vốn đã kiệt quệ ngày càng lao đao.
Thay vào đó, các nguồn tin cho biết Iran đang tìm kiếm một thỏa thuận sơ bộ nhằm chấm dứt xung đột, mở cửa lại eo biển Hormuz để đổi lấy việc Mỹ dỡ bỏ lệnh phong tỏa, trước khi giải quyết những vấn đề nan giải hơn như gỡ bỏ trừng phạt hay hạn chế chương trình hạt nhân.
Về vấn đề hạt nhân, các nguồn tin Iran cho hay Tehran có thể pha loãng 440 kg uranium làm giàu ở cấp độ cao hoặc chuyển một phần ra nước ngoài, lý tưởng nhất là sang Nga, với lập luận rằng họ có thể lấy lại nếu Mỹ vi phạm thỏa thuận. Tuy nhiên, phía Mỹ từ chối đề xuất này.
Iran cũng đang thúc đẩy rút ngắn thời gian tạm dừng làm giàu uranium so với mức 20 năm mà Mỹ yêu cầu, đồng thời đòi được lấy lại toàn bộ 30 tỷ USD tài sản bị đóng băng ở nước ngoài. Tuy nhiên, Mỹ chỉ đồng ý giải phóng 1/4 số tài sản trên theo lộ trình.
Không có chỗ cho giải pháp quân sự
Iran đang tìm kiếm một cơ chế quản trị mới đối với Hormuz và từ chối quay lại trạng thái như trước xung đột, trong khi Mỹ kiên quyết yêu cầu mở cửa eo biển trở lại vô điều kiện. Đây được cho là bất đồng còn khó khỏa lấp hơn cả vấn đề hạt nhân.
Aaron David Miller, cựu quan chức kiêm nhà đàm phán Trung Đông của Mỹ, nhận định việc kiểm soát eo biển Hormuz sẽ là thước đo thành bại chính đối với Washington.
"Kết cục của vấn đề này có thể định hình chính sách đối ngoại của ông Trump", Miller nói, thêm rằng Tổng thống Mỹ "đặc biệt nhạy cảm trước nguy cơ bị coi là bên thất bại".
Nếu muốn mở lại Hormuz mà không đạt được thỏa thuận chính trị, Mỹ sẽ phải triển khai bộ binh để "kiểm soát lâu dài lãnh thổ Iran", điều có thể gây ra rủi ro rất lớn với binh sĩ Mỹ, Miller cho hay.
Đồng tình với quan điểm trên, Ali Vaez lập luận rằng không có giải pháp quân sự nào cho vấn đề eo biển Hormuz ngoài một lựa chọn vô cùng tốn kém mà Tổng thống Trump có thể không sẵn lòng thực hiện như Miller nêu ra. Vì vậy, đàm phán vẫn là con đường khả thi duy nhất.
Dù chiến dịch không kích của Mỹ và Israel đã đạt được những kết quả nhất định về mặt chiến thuật, chiến đấu cơ Mỹ vẫn không thể tung ra đòn dứt điểm mang tính chiến lược, Citrinowicz nhận xét.
"Mỹ không thể khiến chính quyền Iran sụp đổ mà chỉ khiến họ trở nên cứng rắn hơn. Quân đội Mỹ chưa xóa sổ được năng lực tên lửa của Iran, trong khi Tehran vẫn nắm trong tay uranium làm giàu cao", ông nói.
Citrinowicz tin rằng việc đánh giá quá cao áp lực quân sự và coi thường khả năng chống chịu của Tehran tiềm ẩn những nguy cơ riêng đối với Mỹ.
"Điều này làm tăng nguy cơ Washington một lần nữa bước vào cuộc đối đầu với kỳ vọng rằng cứ tăng sức ép, đối phương sẽ phải đầu hàng, để rồi nhận ra rằng chính quyền Iran sẵn sàng chịu đựng nhiều tổn hại hơn dự tính", ông nói.
Điều đó đẩy Tổng thống Trump vào thế bí, trên bàn cờ chiến lược nơi ông không thể đảo ngược hay kiểm soát những hệ lụy từ cuộc chiến với Iran, Robert Kagan, chuyên viên nghiên cứu cao cấp tại Viện Brookings, nhận định.
Tin Gốc: Vnexpress

Bộ tư lệnh Trung tâm (CENTCOM), cơ quan đặc trách hoạt động của quân đội Mỹ tại Trung Đông, hôm 11/4 thông báo đã bắt đầu quá trình "tạo điều kiện để rà phá thủy lôi ở eo biển Hormuz", sau khi hai tàu khu trục di chuyển qua khu vực này.
"Chiến hạm USS Frank E. Peterson và USS Michael Murphy đi qua eo biển Hormuz, hoạt động ở vịnh Arab là một phần trong nhiệm vụ nhằm đảm bảo tuyến hàng hải này không còn thủy lôi", CENTCOM cho hay, thêm rằng các lực lượng bổ sung, trong đó có cả tàu lặn không người lái, có thể tham gia hoạt động trong những ngày tới.
Đô đốc Brad Cooper, chỉ huy CENTCOM, cùng ngày tuyên bố quân đội Mỹ đã bắt đầu quá trình thiết lập tuyến đường thủy mới. "Chúng tôi sẽ sớm chia sẻ tuyến đường an toàn này với ngành hàng hải để khuyến khích lưu thông thương mại tự do", ông nói.
Thông tin được công bố sau khi Tổng thống Donald Trump cho hay hải quân Mỹ "đang dọn dẹp" ở eo biển Hormuz, đồng thời tuyên bố toàn bộ tàu rải thủy lôi của Iran đã bị đánh chìm.
Trung tá Ebrahim Zolfaghari, phát ngôn viên quân đội Iran, sau đó cho biết Tehran "kiên quyết bác bỏ" thông tin tàu chiến Mỹ đi qua eo biển Hormuz. "Lực lượng vũ trang Iran vẫn nắm quyền quyết định tàu nào được di chuyển qua khu vực", ông Zolfaghari nói.
Hải quân Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran sau đó cũng tuyên bố bất kỳ tàu quân sự nào cố đi qua eo biển Hormuz "sẽ bị xử lý nghiêm khắc", cho rằng hoạt động đi qua eo biển chỉ được "cấp phép đối với tàu dân sự trong những điều kiện cụ thể".
Eo biển Hormuz là tuyến vận chuyển dầu mỏ quan trọng, chiếm khoảng 20% nguồn cung dầu toàn cầu. Ngay sau khi Mỹ - Israel phát động chiến dịch tấn công Iran ngày 28/2, Tehran đã triển khai nhiều xuồng cao tốc để rải thủy lôi tại eo biển Hormuz.
Các thủy lôi, cùng mối đe dọa từ máy bay không người lái (UAV) và tên lửa, khiến số lượng tàu hàng đi qua tuyến hàng hải này giảm xuống mức rất thấp, đẩy giá năng lượng tăng cao và mang lại cho Iran đòn bẩy lớn nhất trong xung đột.
Mở lại tuyến đường này là một trong những chủ đề quan trọng trong thỏa thuận ngừng bắn gần đây giữa các bên, dù số tàu thuyền qua lại vẫn còn hạn chế.
Sau khi các bên đạt được lệnh ngừng bắn, Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran (IRGC) ngày 9/4 công bố lộ trình thay thế cho tàu thuyền để tránh nguy cơ trúng thủy lôi tại eo biển Hormuz. Tuy nhiên, quan chức Mỹ cho rằng tuyến di chuyển này bị hạn chế đáng kể, chủ yếu do Iran rải thủy lôi một cách thiếu hệ thống.
Tin Gốc: Vnexpress

Hôm qua (21.4), Reuters đưa tin Nhật Bản cùng ngày công bố cuộc đại tu lớn nhất về các quy định xuất khẩu quốc phòng trong nhiều thập niên, loại bỏ các hạn chế đối với việc bán vũ khí ở nước ngoài và mở đường cho xuất khẩu tàu chiến, tên lửa và các vũ khí khác.
Động thái trên củng cố cơ sở bứt phá của công nghiệp quốc phòng Nhật Bản khi đánh dấu bước chuyển mới khỏi những hạn chế từng nằm trong chính sách an ninh của Tokyo sau Thế chiến 2. Bước chuyển này được tiến hành song song việc Nhật Bản đang tăng cường hợp tác quốc phòng với các bên ở châu Á giữa bối cảnh trỗi dậy của Trung Quốc.
Trả lời Thanh Niên hôm qua, GS Stephen Robert Nagy (Đại học Cơ Đốc giáo quốc tế - Nhật Bản, học giả tại Viện Nghiên cứu các vấn đề quốc tế của Nhật) phân tích: "Mặc dù các quy định đã được nới lỏng một cách đáng kể, Nhật Bản vẫn duy trì một số rào cản kiểm soát nhất định. Chẳng hạn, việc xuất khẩu loại máy bay tiêm kích thế hệ mới hiện chỉ giới hạn ở những quốc gia đã ký kết hiệp ước quốc phòng với Nhật Bản và không đang trực tiếp tham gia vào các cuộc xung đột. Tuy nhiên, cuộc cải tổ này đánh dấu sự kết thúc dứt khoát của Tokyo đối với kỷ nguyên chủ nghĩa biệt lập quốc phòng nghiêm ngặt".
Tương tự, cũng trả lời Thanh Niên, TS Satoru Nagao (Viện Nghiên cứu Hudson, Mỹ) đánh giá: "Nhật Bản nới lỏng quy định xuất khẩu vũ khí vì các quy định vốn dĩ không thực tế. Điển hình trong thỏa thuận mới đây Nhật Bản xuất khẩu tàu chiến lớp Mogami cho Úc, vì quy định mà hai bên phải áp dụng hình thức "phát triển chung" thay vì xuất khẩu vũ khí. Nhưng về bản chất thì vẫn là xuất khẩu vũ khí".
"Trong khi đó, Nhật Bản cần xuất khẩu vũ khí để hỗ trợ việc tăng cường năng lực quân sự cho các đồng minh và đối tác trước các thách thức mới ở khu vực. Xuất khẩu vũ khí đòi hỏi quá trình đào tạo, bảo trì sửa chữa, cung cấp đạn dược để vận hành nên cần loại bỏ nhiều hạn chế để thực hiện. Ngoài ra, ngành công nghiệp quốc phòng toàn cầu đang tăng trưởng mạnh mẽ. Thị trường nước ngoài có thể đem đến nhiều cơ hội và duy trì dây chuyền sản xuất vũ khí của Tokyo. Thời gian qua, Mỹ thúc đẩy Nhật Bản chia sẻ gánh nặng an ninh trong khu vực này, nên nhu cầu nới lỏng quy định để xuất khẩu vũ khí càng lớn hơn với Tokyo", TS Nagao phân tích thêm.
Những năm qua, Tokyo không ngừng tăng cường xuất khẩu vũ khí song song việc dần loại bỏ các hạn chế trong quy định pháp luật về vấn đề này. Năm 2023, Nhật Bản thông qua kế hoạch cho phép xuất khẩu chiến đấu cơ, tên lửa và một số loại vũ khí sát thương cho 12 quốc gia bao gồm: Úc, Ấn Độ, Mỹ, Anh, Đức, Pháp, Ý và 5 quốc gia Đông Nam Á. Đến tháng 3.2024, Nhật Bản nới lỏng các quy định nghiêm ngặt về chuyển giao thiết bị quân sự để cho phép xuất khẩu chiến đấu cơ thế hệ tiếp theo đang được nước này phát triển với Anh và Ý. Cùng năm 2024, Nhật Bản thông báo sẽ bán tên lửa Patriot cho Mỹ để Lầu Năm Góc bù vào kho vũ khí đang thiếu hụt vì tài trợ cho Ukraine.
Mới đây, hợp đồng Nhật Bản cung cấp tàu hộ tống lớp Mogami cho Úc được 2 bên ký kết vào ngày 18.4. Theo đó, Nhật cung cấp 11 chiến hạm loại này cho Úc với tổng giá trị đơn hàng lên đến 6,8 tỉ USD. Có độ choán nước toàn tải hơn 5.000 tấn, tàu hộ tống lớp Mogami có khả năng tàng hình, tích hợp nhiều công nghệ hiện đại và vũ khí mạnh mẽ.
Thực tế, Nhật Bản nhiều năm qua phát triển nền công nghiệp quốc phòng hàng đầu thế giới, sản xuất nhiều loại vũ khí hiện đại. Đến nay, Nhật Bản đã tự lắp ráp chiến đấu cơ F-35, đồng thời đang tự phát triển chiến đấu cơ thế hệ 6. Trước đó, nước này tự sản xuất chiến đấu cơ Mitsubishi F-2 từ dòng F-16 của Mỹ, đồng thời phát triển máy bay săn ngầm Mitsubishi P-1 để thay thế P-3 Orion do Mỹ cung cấp.
Tokyo cũng nâng cấp các tàu khu trục chở máy bay trực thăng lớp Izumo để trở thành các tàu sân bay có thể mang theo chiến đấu cơ thế hệ 5 tàng hình F-35. Dòng tàu ngầm chạy bằng dầu diesel và điện của nước này cũng được đánh giá tối tân và năng lực tác chiến mạnh mẽ. Tương tự, các lớp tàu khu trục của Nhật Bản cũng sở hữu các hệ thống vũ khí hiện đại, uy lực. Hay xe tăng chiến đấu chủ lực T-10 của nước này luôn đứng cao trong các bảng xếp hạng toàn cầu.
Với nền tảng như thế, khi đẩy mạnh xuất khẩu vũ khí có thể giúp Nhật Bản tăng cường hiệu quả các hoạt động ngoại giao khi nước này không ngừng thúc đẩy hợp tác quân sự với nhiều bên trong khu vực. Qua đó, Tokyo có thể càng khẳng định vai trò quan trọng về an ninh quân sự ở châu Á - Thái Bình Dương.
Tin Gốc: Thanh Niên

