Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam (HoSE: VIB) vừa công bố kết quả giao dịch cổ phiếu của người có liên quan đến người nội bộ.
Theo đó, bà Đặng Thị Thu Hà là vợ ông Đặng Văn Sơn – Phó Chủ tịch HĐQT VIB đã đăng ký mua 6 triệu cổ phiếu VIB, tương đương khoảng 0,176% vốn điều lệ, thông qua phương thức thỏa thuận và khớp lệnh trên sàn. Trước giao dịch, bà Hà sở hữu hơn 106,84 triệu cổ phiếu, tương ứng 3,139% vốn của VIB.
Tuy nhiên, trong thời gian từ ngày 14/4 đến 8/5/2026, bà Hà chỉ mua được 3 triệu cổ phiếu (tương ứng mức chi 30 tỷ đồng) do điều kiện thị trường không thuận lợi.
Sau giao dịch, bà Hà nâng lượng nắm giữ lên gần 110 triệu cổ phiếu, tương ứng tỉ lệ sở hữu 3,227% vốn điều lệ VIB.
Trong khi đó, ông Đặng Văn Sơn hiện sở hữu hơn 12,7 triệu cổ phiếu VIB, tương ứng khoảng 0,373% vốn ngân hàng.
Ở diễn biến khác, VIB đã tổ chức Đại hội đồng cổ đông thường niên 2026 vào ngày 8/4. Đại hội thông qua kế hoạch kinh doanh năm nay với mục tiêu tổng tài sản đạt khoảng 637.826 tỷ đồng, tăng 15% so với năm 2025. Dư nợ tín dụng dự kiến đạt 439.273 tỷ đồng, trong khi huy động vốn được đặt mục tiêu 415.968 tỷ đồng, tăng 26%.
Ngân hàng cũng đặt mục tiêu vốn chủ sở hữu đạt 55.369 tỷ đồng, tăng 18% so với năm trước. Trên cơ sở đó, VIB kỳ vọng lợi nhuận trước thuế năm 2026 đạt 11.550 tỷ đồng, tăng 27% so với thực hiện năm 2025.
Đồng thời, ngân hàng đặt mục tiêu kiểm soát tỉ lệ nợ xấu dưới 3%, cao hơn mức 2,2% của năm trước nhưng vẫn nằm trong ngưỡng an toàn của ngành ngân hàng.
Đại hội cũng thông qua kế hoạch chia cổ tức bằng tiền mặt với tỉ lệ tối đa 9% mệnh giá, tương ứng số tiền dự kiến chi trả khoảng 3.063 tỷ đồng.
Tin Gốc: Người Đưa Tin
Kinh Tế
Cục Thuế phản hồi về đề xuất nợ thuế 1 triệu đồng bị tạm hoãn xuất cảnh

Gần đây, một số ý kiến băn khoăn về đề xuất nợ thuế từ 1 triệu đồng trở lên sẽ bị tạm hoãn xuất cảnh với cá nhân, chủ hộ kinh doanh, người đại diện theo pháp luật, chủ sở hữu doanh nghiệp không còn hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký trong dự thảo Nghị định hướng dẫn Luật Quản lý thuế số 108/2025, Cục Thuế (Bộ Tài chính) đã thông tin để làm rõ nội dung này.
Theo đó, cơ quan thuế nhấn mạnh đây là quy định thu hẹp phạm vi áp dụng so với hiện hành, không phải siết chặt hơn.
Theo Nghị định 49/2025 đang có hiệu lực, với trường hợp người nộp thuế không còn hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký, pháp luật không quy định ngưỡng nợ tối thiểu để áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh.
Do đó, chỉ cần phát sinh khoản nợ thuế quá hạn, dù rất nhỏ, người nộp thuế vẫn có thể thuộc diện xem xét áp dụng biện pháp này nếu đã được cơ quan thuế thông báo và quá 30 ngày chưa khắc phục.
Dự thảo Nghị định mới lần này đã bổ sung ngưỡng nợ từ 1 triệu đồng trở lên, tức là loại trừ khỏi diện áp dụng một số lượng rất lớn người nộp thuế có số nợ nhỏ, mang tính kỹ thuật hoặc phát sinh do sai sót hành chính chưa kịp xử lý.
"Như vậy, xét về bản chất pháp lý, đây là bước nới lỏng điều kiện áp dụng, thể hiện sự tiếp thu ý kiến xã hội và tinh thần bảo vệ tốt hơn quyền đi lại hợp pháp của công dân", Cục Thuế khẳng định.
Ngoài ra, theo cơ quan thuế, số liệu cho thấy việc đặt ngưỡng là cần thiết để tránh tác động bất cân xứng vì có hơn 50% người nộp thuế ở trạng thái không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký có số tiền thuế nợ dưới 1 triệu đồng, số tiền thuế nợ chiếm khoảng 0,2% tổng số nợ thuế.
Theo Cục Thuế, con số này phản ánh rất rõ một thực tế: Hơn một nửa số đối tượng thuộc diện quản lý đặc biệt chỉ chiếm tỉ trọng nợ thuế rất nhỏ.
Vì vậy, nếu tiếp tục áp dụng cơ chế không có ngưỡng như hiện hành, biện pháp tạm hoãn xuất cảnh có thể tác động đến số lượng lớn người nộp thuế vì các khoản nợ rất nhỏ, trong khi hiệu quả thu hồi ngân sách không tương xứng.
Việc bổ sung ngưỡng 1 triệu đồng là giải pháp nhằm bảo đảm nguyên tắc tương xứng giữa tính chất vi phạm và biện pháp quản lý nhà nước áp dụng.
Cục Thuế cũng lưu ý cần hiểu đúng bản chất của trạng thái "không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký". Một số ý kiến chỉ nhìn vào con số 1 triệu đồng để đánh giá mức ngưỡng thấp hay cao.
Thực tế, Cục Thuế cho rằng trường hợp này không đơn thuần là nợ thuế. Người nộp thuế thuộc trạng thái "không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký" là trường hợp đã vi phạm nghĩa vụ duy trì thông tin đăng ký thuế chính xác, gây khó khăn cho công tác quản lý, kiểm tra và thu hồi nợ thuế.
"Đây là hành vi làm gián đoạn kết nối quản lý giữa cơ quan nhà nước với người nộp thuế. Do đó, việc áp dụng biện pháp quản lý đối với nhóm đối tượng này không chỉ dựa trên số tiền nợ, mà còn xuất phát từ yêu cầu bảo đảm tính tuân thủ pháp luật, ngăn ngừa tình trạng bỏ địa chỉ kinh doanh để né tránh nghĩa vụ tài chính với Nhà nước", Cục Thuế nêu.
Nói cách khác, theo cơ quan thuế, ngưỡng 1 triệu đồng không phải là thước đo duy nhất, mà là điều kiện bổ sung trong tổng thể các dấu hiệu vi phạm đã được xác định.
Bên cạnh đó, Cục Thuế cũng khẳng định quy trình áp dụng vẫn bảo đảm đầy đủ cơ hội khắc phục cho người nộp thuế bởi tạm hoãn xuất cảnh không áp dụng ngay khi phát sinh nợ thuế.
Dẫn chứng dự thảo, Cục Thuế cho rằng chỉ sau khi người nộp thuế đã được xác định thuộc trạng thái không hoạt động tại địa chỉ đăng ký; cơ quan thuế đã gửi thông báo về việc sẽ áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh và quá 30 ngày kể từ ngày thông báo, người nộp thuế vẫn chưa hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế thì biện pháp này mới được xem xét áp dụng.
"Khoảng thời gian 30 ngày là khoảng đệm hợp lý để người nộp thuế kiểm tra, đối chiếu thông tin, thực hiện nộp tiền hoặc liên hệ cơ quan thuế xử lý vướng mắc", Cục Thuế nhấn mạnh và cho biết đã có khoảng 7.100 người nộp thuế chủ động liên hệ cơ quan thuế để hoàn thành nghĩa vụ và được hủy bỏ tạm hoãn xuất cảnh.
Cục Thuế cũng khẳng định: Điều đó cho thấy cơ chế này vận hành theo hướng cảnh báo, tạo cơ hội khắc phục, sau đó mới áp dụng biện pháp hạn chế, chứ không phải chế tài áp đặt tức thời.
Cục Thuế cũng nhấn mạnh quy định là sự cân bằng giữa kỷ cương quản lý và bảo vệ quyền lợi người dân.
Quản lý thuế hiện đại đòi hỏi vừa nghiêm minh với hành vi không tuân thủ, vừa tránh gây hệ quả bất lợi không cần thiết cho người nộp thuế. Nếu giữ nguyên cơ chế không ngưỡng như Nghị định 49/2025, có thể phát sinh những trường hợp khoản nợ rất nhỏ vẫn dẫn đến áp dụng biện pháp mạnh.
Tuy nhiên, nếu đặt ngưỡng quá cao, nguy cơ phát sinh tâm lý chây ì, lợi dụng kẽ hở để kéo dài tình trạng bỏ địa chỉ kinh doanh.
Do đó, mức 1 triệu đồng là giải pháp dung hòa, vừa loại bỏ được phần lớn các khoản nợ rất nhỏ mang tính kỹ thuật, vừa duy trì hiệu lực răn đe cần thiết với hành vi không tuân thủ.
Tin Gốc: Người Đưa Tin
Kinh Tế
Đề xuất ngưỡng miễn thuế hộ kinh doanh là 1 tỉ, doanh nghiệp nhỏ là 3 tỉ

Tại dự án luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của luật Thuế thu nhập cá nhân, luật Thuế thu nhập doanh nghiệp và luật Thuế giá trị gia tăng, Bộ Tài chính đề xuất nhiều nội dung đáng chú ý về ngưỡng doanh thu miễn thuế với hộ kinh doanh và doanh nghiệp nhỏ.
Theo đó, sửa đổi quy định về mức doanh thu không phải nộp thuế thu nhập cá nhân và mức doanh thu không chịu thuế giá trị gia tăng của hộ kinh doanh theo hướng không quy định cụ thể là 500 triệu đồng/năm tại luật mà giao Chính phủ quy định. Tinh thần theo hướng nâng ngưỡng này lên để tiếp tục hỗ trợ hộ kinh doanh quy mô nhỏ và trung bình thấp.
Ngoài ra, cần bổ sung quy định miễn thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp có quy mô nhỏ. Chính phủ sẽ quy định chi tiết việc xác định doanh thu làm căn cứ miễn thuế.
Những đề xuất trên nhận được sự đồng tình của nhiều chuyên gia. Nhìn từ góc độ so sánh tổng thể với một số quốc gia bên cạnh Việt Nam, có GDP bình quân đầu người và mức doanh thu miễn thuế tương ứng, theo ông Lê Văn Tuấn, Giám đốc Công ty TNHH Kế toán thuế Keytas, doanh thu miễn thuế với hộ kinh doanh nên điều chỉnh lên tối thiểu 1 tỉ đồng/năm.
"So với Trung Quốc, ngưỡng doanh thu miễn thuế nên cân nhắc là 1,5 tỉ đồng/năm; so với Malaysia và Thái Lan, các ngưỡng nên cân nhắc lần lượt là 1 tỉ đồng/năm và 750 triệu đồng/năm", ông Tuấn nói.
Về ngưỡng miễn thuế cho doanh nghiệp nhỏ, ông Tuấn cho rằng, nên bằng với ngưỡng của hộ kinh doanh.
Luật sư Nguyễn Văn Được, Tổng giám đốc Công ty TNHH Kế toán và tư vấn thuế Trọng Tín, Ủy viên thường trực Hội Tư vấn thuế Việt Nam, cũng đề xuất nâng ngưỡng doanh thu miễn thuế với hộ kinh doanh lên 1 tỉ đồng/năm và xây dựng ngưỡng miễn thuế với doanh nghiệp nhỏ tương tự.
Tuy nhiên, mấu chốt là sau khi nâng ngưỡng, cần áp dụng việc trừ ngưỡng này khi tính thuế thu nhập cá nhân với cả nhóm hộ kinh doanh có doanh thu năm từ trên 1 tỉ đồng đến 3 tỉ đồng tính thuế theo (doanh thu - chi phí) x thuế suất, thay vì chỉ áp dụng với nhóm hộ kinh doanh quy mô này nhưng tính thuế theo doanh thu (x) thuế suất.
Ông Tô Hoài Nam, Phó chủ tịch thường trực kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam, lại đề xuất xác định ngưỡng miễn thuế đối với doanh nghiệp nhỏ trong khoảng 3 - 5 tỉ đồng doanh thu/năm.
Theo ông, vấn đề cốt lõi hiện nay không nằm ở việc doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ hay các doanh nghiệp chuyển đổi từ hộ kinh doanh có muốn thực hiện nghĩa vụ thuế hay không, mà là khả năng tuân thủ trong điều kiện năng lực quản trị còn hạn chế.
Đối với nhóm doanh nghiệp này, các chi phí liên quan đến kế toán, kê khai, hóa đơn… trong nhiều trường hợp đang trở thành gánh nặng đáng kể. Nếu ngưỡng miễn thuế được xác định ở mức quá thấp, chính sách sẽ khó đạt mục tiêu hỗ trợ thực chất.
Ở góc độ tiếp cận chính sách, ông Nam cho rằng, không nên nhìn thuế theo hướng "thu ngay từ đầu". Cách tiếp cận này có thể tạo ra một phần nguồn thu trước mắt, nhưng lại làm suy giảm khả năng hình thành nguồn thu bền vững trong tương lai.
Một doanh nghiệp không vượt qua được giai đoạn đầu sẽ khó có cơ hội trở thành đối tượng nộp thuế ổn định. Do đó, việc xác định ngưỡng miễn thuế trong khoảng 3 - 5 tỉ đồng/năm không đơn thuần là ưu đãi, mà là lựa chọn chính sách mang tính nuôi dưỡng và đầu tư cho phát triển.
Về tương quan chính sách giữa hộ kinh doanh và doanh nghiệp nhỏ, ông Nam nhấn mạnh, cần tránh tư duy cào bằng, mà phải thiết kế khoảng chênh lệch hợp lý để tạo động lực chuyển đổi.
Cụ thể, nếu ngưỡng miễn thuế của hộ kinh doanh ở mức 3 tỉ đồng/năm thì ngưỡng đối với doanh nghiệp nhỏ cần tối thiểu khoảng 5 tỉ đồng/năm. Tương tự, nếu hộ kinh doanh ở mức 5 tỉ đồng/năm thì doanh nghiệp nhỏ cần ở mức khoảng 7 - 8 tỉ đồng/năm.
Nếu không tạo ra sự khác biệt đủ lớn về nghĩa vụ thuế và chi phí tuân thủ, hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh sẽ không có động lực chuyển đổi lên mô hình doanh nghiệp. Khi đó, mục tiêu đưa khu vực kinh doanh phi chính thức vào khu vực chính thức sẽ khó đạt được trong thực tiễn.
Về khía cạnh để ngưỡng miễn thuế của hộ kinh doanh và doanh nghiệp nhỏ bằng nhau, ông Được bày tỏ, không lo hộ kinh doanh ngại "lớn".
Vị này đề xuất, bên cạnh chính sách miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong 3 năm cho doanh nghiệp nhỏ và vừa đăng ký kinh doanh lần đầu như hiện hành, để tạo động lực cho hộ kinh doanh tự nguyện chuyển đổi, cần có thêm chính sách nhóm doanh nghiệp có doanh thu từ 3 tỉ đồng/năm trở xuống đang tính thuế theo (doanh thu - chi phí) x thuế suất cũng được áp dụng trừ đi ngưỡng doanh thu miễn thuế trước khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp.
Tin Gốc: Thanh Niên

Ngày 11.5, tin từ UBND tỉnh Đồng Tháp cho biết, đã có công văn gửi Bộ Xây dựng, Ban Quản lý dự án Mỹ Thuận đề xuất bố trí vốn thực hiện Dự án Khu tái định cư Dự án đầu tư xây dựng công trình cầu Rạch Miễu 2.
Dự án Khu tái định cư cầu Rạch Miễu 2 được khởi công từ ngày 29.5.2025, dự kiến hoàn thành vào ngày 30.6.2026, tổng mức đầu tư hơn 377 tỉ đồng.
Nguồn vốn dự án được Bộ Giao thông Vận tải (nay là Bộ Xây dựng) phân bổ đến nay là 314,455 tỉ đồng, đã giải ngân cho các gói thầu đạt 100%. Qua rà soát khối lượng thực hiện và dự toán được phê duyệt, nhu cầu vốn còn thiếu để hoàn thành dự án khoảng 50,625 tỉ đồng.
Trước khó khăn trên, UBND tỉnh Đồng Tháp đề nghị Bộ Xây dựng và Ban quản lý dự án Mỹ Thuận xem xét bố trí nguồn vốn còn lại của dự án cầu Rạch Miễu 2 để thực hiện hoàn thành hạng mục hạ tầng khu tái định cư trên địa bàn tỉnh (khoảng 50,625 tỉ đồng) để làm cơ sở thanh toán khối lượng đã thực hiện và hoàn thành dự án theo tiến độ.
Theo báo cáo của đơn vị tư vấn giám sát, Dự án Khu tái định cư cầu Rạch Miễu 2 có địa điểm xây dựng tại ấp Giáp Nước, phường Trung An, tỉnh Đồng Tháp. Dự án gồm các hạng mục như san nền, hệ thống giao thông nội bộ, phần cầu, cây xanh, cấp điện, chiếu sáng, cấp nước, thoát nước mưa, thoát nước thải, thông tin, viễn thông.
Tính đến đầu tháng 5.2026, giá trị gói thầu xây lắp thực hiện đạt khoảng 72,5%. Trước yêu cầu tiến độ hiện nay, việc kịp thời bố trí nguồn vốn để địa phương và các đơn vị liên quan triển khai thực hiện đang là yêu cầu cấp thiết hiện nay để đảm bảo tiến độ chung công trình.
Tin Gốc: Thanh Niên

