Đề án “Vùng phát thải thấp trong Vành đai 1, TP.Hà Nội” không được thông qua với lý do dự thảo tờ trình, nghị quyết chưa đảm bảo điều kiện, thông tin, hồ sơ trình để HĐND thành phố xem xét thông qua.
Theo dự thảo ban đầu, từ 1.7, thành phố không áp dụng biện pháp dừng lưu thông toàn thời gian 24/7 đối với toàn bộ xe mô tô, xe gắn máy sử dụng nhiên liệu hóa thạch, mà thực hiện theo lộ trình, theo nhóm đối tượng, phạm vi khu vực và khung thời gian.
Lý giải rõ hơn về lộ trình hạn chế xe xăng tại thủ đô, đại diện Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội cho biết: Tại vùng lõi phường Hoàn Kiếm (khoảng 0,5 km2 với 11 tuyến phố như Tràng Tiền, Hàng Khay, Lê Thái Tổ, Hàng Đào…) sẽ cấm hoàn toàn xe ôm công nghệ chạy xăng; xe máy xăng cá nhân bị hạn chế theo giờ (dự kiến từ 18 – 24 giờ thứ Sáu và cả ngày thứ bảy, chủ nhật).
Thực tế, khu vực này trước nay vốn đã được tổ chức thành phố đi bộ vào cuối tuần nên việc áp dụng thí điểm hạn chế xe xăng sẽ không ảnh hưởng việc đi lại, sinh hoạt và làm việc thường nhật của người dân vào các ngày trong tuần.
Theo kế hoạch, giai đoạn 2 (năm 2027), thành phố sẽ mở rộng phạm vi hạn chế xe sử dụng động cơ đốt trong sang 14 tuyến phố khác thuộc phường Hoàn Kiếm và phường Cửa Nam. Giai đoạn 3 (2028 – 2029) sẽ áp dụng cho toàn bộ khu vực trong Vành đai 1 (bao gồm 9 phường), ảnh hưởng đến khoảng 625.000 dân. Đây mới là lúc Hà Nội chính thức hoàn thiện mô hình LEZ.
Để chuẩn bị sẵn sàng cho lộ trình quan trọng này, UBND TP.Hà Nội đang hoàn thiện khung pháp lý để hỗ trợ trực tiếp cho người dân cư trú tại vùng LEZ khi chuyển từ xe máy xăng sang xe điện. Trong đó, TP dự kiến hỗ trợ bằng tiền mặt khoảng 3 – 5 triệu đồng/xe (tùy đối tượng hộ nghèo, cận nghèo hoặc cá nhân thông thường). Một số đề xuất mới thậm chí đưa mức hỗ trợ lên tới 20% giá trị xe (tối đa 5 triệu đồng) hoặc cao hơn cho hộ nghèo (lên đến 20 triệu đồng).
Song song, xe điện tiếp tục được hưởng miễn 100% lệ phí trước bạ và lệ phí đăng ký biển số đến hết năm 2030. Người dân cũng có thể được hỗ trợ vay vốn với lãi suất ưu đãi (3 – 5%/năm) để đổi mới phương tiện.
Cùng với khuyến khích người dân chuyển đổi phương tiện cá nhân, chính quyền thủ đô xác định phải tập trung phát triển hạ tầng giao thông công cộng để thay thế phương tiện cá nhân. Trong đó, dồn lực tăng cường mật độ xe buýt điện và xe buýt sử dụng năng lượng sạch kết nối vào lõi Vành đai 1; phủ mạng lưới hàng nghìn tủ đổi pin và trạm sạc tại các điểm công cộng, bãi đỗ xe… phục vụ nhu cầu tăng cao của người dân.
ế hoạch thí điểm tại phường Hoàn Kiếm từ ngày 1.7 vốn được xem là “phát súng” đầu tiên đầy quyết liệt trong cuộc bứt phá cải thiện môi trường sống cho người dân thủ đô.
Trước đó, Ban Đô thị HĐND TP.Hà Nội cũng đánh giá: Hiện nay, dù xe máy xăng vẫn chiếm tỷ lệ áp đảo (94 – 97%), nhưng xu hướng xanh hóa đã bắt đầu rõ nét tại các quận vùng lõi. Số lượng xe điện tại Hoàn Kiếm, Hai Bà Trưng, Tây Hồ bắt đầu tăng trưởng ổn định nhờ sự phát triển của thị trường và nhận thức về chi phí vận hành – xe điện tiết kiệm hơn xe xăng trong bối cảnh giá nhiên liệu biến động.
Ban Đô thị cho rằng, nguyên nhân khiến xe máy xăng chiếm áp đảo là do thiếu chính sách tài chính đủ mạnh, hạ tầng trạm sạc chưa đồng bộ, giá điện và khung giá sạc chưa có cơ chế ưu đãi riêng cho giao thông xanh. Tỷ lệ người dân dùng vận tải công cộng hiện mới đạt 19,5%, thói quen đi xe cá nhân chạy xăng phổ biến do tính linh hoạt, tiện lợi.
Từ đó, Ban Đô thị kiến nghị UBND TP sớm ban hành các chính sách hỗ trợ tài chính, ưu đãi thuế phí đăng ký, cấp biển số đối với phương tiện xanh; đồng thời đẩy nhanh hoàn thiện đề án vùng phát thải thấp, xây dựng lộ trình chuyển đổi phương tiện rõ ràng, minh bạch để tạo sự đồng thuận của người dân và doanh nghiệp.
Trên thế giới, mô hình LEZ đã xuất hiện từ những năm 1990 và vẫn đang tiếp tục được nhân rộng trên toàn lãnh thổ châu Âu, lan tới châu Á và một số vùng của Bắc Mỹ.
Việc mở rộng LEZ đã giúp nhiều thành phố lớn trên thế giới cải thiện được đáng kể chất lượng không khí vốn đã tồi tệ trong quá trình phát triển đô thị hóa, từ đó giảm nguy cơ mắc các bệnh về hô hấp, tim mạch của người dân trong vùng.
Một nghiên cứu từ Khoa Kinh tế tại Đại học Bath (Anh) chỉ ra rằng, việc áp dụng LEZ đã giúp giảm 13% lượng bụi mịn (PM10) ở London trong giai đoạn 2008 – 2013, so với mức trước khi áp dụng LEZ (2003 – 2007). Không khí trong lành hơn trong thành phố do LEZ mang lại đã góp phần làm giảm 4,5% các vấn đề sức khỏe lâu dài và giảm 8% các vấn đề về hô hấp như hen suyễn và viêm phế quản. Hơn nữa, báo cáo kết luận rằng LEZ và ULEZ đã giúp tạo ra khoản tiết kiệm chi phí hơn 963 triệu bảng Anh ở Greater London.
Các chuyên gia cho rằng mô hình vùng phát thải thấp sẽ là lựa chọn tối ưu để Việt Nam tạo bước đột phá trong hành trình chuyển đổi giao thông xanh. Tuy nhiên, theo bà Zifei Yang, Giám đốc các thị trường mới nổi của Hội đồng Quốc tế về giao thông sạch (ICCT), việc LEZ tại Việt Nam mà cụ thể là Hà Nội chưa nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ của cộng đồng, một phần do các thông tin chưa được minh bạch.
Cụ thể, các thành phố như London và Brussels đã xây dựng được sự ủng hộ mạnh mẽ của người dân bằng cách định vị LEZ như một giải pháp bảo vệ sức khỏe cộng đồng, đồng thời công bố dữ liệu chất lượng không khí một cách dễ hiểu để minh chứng lợi ích.
Việc giám sát và công bố công khai các tác động của LEZ đã đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng niềm tin. London thường xuyên công bố các báo cáo đánh giá tác động của ULEZ, cho thấy mức giảm NO₂ và số lượng phương tiện gây ô nhiễm cao, trong khi Seoul cung cấp thông tin chất lượng không khí theo thời gian thực và các đánh giá định kỳ về Khu Giao thông Xanh.
“Việc minh bạch hóa thông tin đã giúp người dân nhận thấy rõ các cải thiện cụ thể và hiểu được sự cần thiết của LEZ. Hà Nội cũng có thể áp dụng các bài học này thông qua việc tham vấn sớm với cộng đồng và doanh nghiệp, cung cấp thông tin rõ ràng về lợi ích của LEZ trong việc giảm ô nhiễm không khí, cải thiện sức khỏe cộng đồng, cũng như công bố định kỳ dữ liệu chất lượng không khí trước và sau khi triển khai. Việc giải thích một cách đơn giản, dễ hiểu các lợi ích dự kiến – như giảm nồng độ PM2.5, cải thiện kết quả sức khỏe, giảm số ca nhập viện và lợi ích kinh tế dài hạn – sẽ góp phần hạn chế thông tin sai lệch và củng cố niềm tin của xã hội” – bà Zifei Yang nêu ý kiến.
Đại diện đến từ ICCT cũng khẳng định: Công cuộc chuyển đổi giao thông xanh tại các đô thị lớn ở Việt Nam cần những bước đi quyết liệt, mạnh mẽ, không thể mãi trì hoãn.
Hiện nay, thủ đô Hà Nội đã có bước đi quan trọng ban đầu khi xác định khung thời gian và phạm vi áp dụng LEZ dựa theo Chỉ thị 20 do Chính phủ ban hành từ tháng 7.2025. Một lộ trình minh bạch, triển khai theo từng giai đoạn tạo điều kiện cho người dân và doanh nghiệp có đủ thời gian nắm bắt các quy định sắp tới, chủ động xây dựng kế hoạch thay thế phương tiện và từng bước chuyển đổi sang các phương thức di chuyển sạch hơn.
Cùng với đó, các biện pháp tài chính như trợ cấp mua xe điện, chương trình thu hồi và loại bỏ phương tiện cũ góp phần làm giảm chi phí tiếp cận phương tiện sạch, giúp đẩy nhanh quá trình chuyển đổi khỏi các phương tiện sử dụng động cơ đốt trong…
Điều quan trọng nhất chính quyền TP.Hà Nội cần làm là hoàn thiện chính sách hỗ trợ người dân trong quá trình chuyển đổi phương tiện, phân loại cụ thể từng đối tượng để xây dựng chính sách hợp lý; đồng thời quyết liệt phát triển giao thông công cộng và giao thông phi cơ giới. Đây là yếu tố then chốt để bảo đảm sự chấp nhận và hiệu quả của LEZ.
Thời điểm đó, người dân các bản ở Sơn La quen xen canh cà phê với những cây truyền thống như sắn, ngô, lúa. Đến vụ thu hoạch, quả cà phê được thu hoạch xanh chín lẫn lộn, chất lượng quả chưa được quan tâm, giá cả thì phụ thuộc vào thương lái. Thu nhập bấp bênh từ loại cây này khiến nhiều hộ dân quyết định chặt bỏ để trồng thay thế bằng cây cam, bưởi, mận, xoài, nhãn.
Giữa bối cảnh đó, chị Cầm Thị Mòn (bản Mảy, xã Chiềng Chung cũ) cũng không khỏi đắn đo. Thế rồi, sau một chuyến tham quan Đắk Lắk, thấy người dân nơi đây có thu nhập cao từ việc trồng, chăm sóc cây cà phê, nhiều hộ đã thoát nghèo và làm giàu, chị Mòn quyết định giữ lại nương cà phê của gia đình. Chị bắt tay vào cải tạo đất, cắt tỉa, chăm bón phân theo đúng thời điểm sinh trưởng phát triển của cây.
Hành trình "thoát nghèo" của chị Mòn không đơn độc. Năm 2020, chị vận động 14 thành viên khác trong xã, lập nên Hợp tác xã (HTX) Ara-Tay Coffee, là tên ghép của giống cà phê Arabica nổi tiếng thơm ngon vùng Tây Bắc và "Tay" - tức là "người Thái".
Nhờ sự hỗ trợ của cấp ủy, chính quyền địa phương, sự đồng hành của Sở Nông nghiệp - Môi trường tỉnh Sơn La và tổ chức CARE, các thành viên HTX được tập huấn kiến thức từ trồng, chăm sóc, thu hái, bảo quản đến rửa, phơi, rang xay và đóng gói cà phê. Say mê học hỏi, các thành viên của HTX hiểu rằng đây là cơ hội đổi đời của họ.
Nâng niu từng quả cà phê thơm ngọt phơi dưới cái nắng vàng như mật ong, chị Cầm Thị Mòn tâm sự: "Chúng tôi không chỉ trồng cà phê, chúng tôi dành cho quả cà phê trên nương nhà mình cả trái tim và tâm huyết của những người làm vườn. Chúng tôi muốn kể câu chuyện để mọi người thưởng thức cà phê không chỉ biết đến đây là một loại thức uống, mà còn là câu chuyện của tình yêu và sự chăm sóc tận tình".
Với tâm huyết dành cho cây cà phê, chị Cầm Thị Mòn khẳng định, Ara-Tay Coffee cam kết mang lại những gói cà phê "tử tế đến từng hạt".
Để đảm bảo thực hiện lời hứa này, các thành viên HTX quyết tâm từ bỏ thói quen canh tác cũ, có hại cho đất và chất lượng quả cà phê.
Họ thay đổi thói quen "hái xô" quả xanh lẫn quả chín sang "hái chọn", tức là chỉ hái quả chín. Mỗi hạt cà phê được chọn lọc kỹ càng, từ những quả chín đỏ nhất, đạt độ đường, để đảm bảo rằng mỗi ly cà phê đều chứa đựng hương vị ngọt ngào, đậm đà và tinh tế. Cùng việc áp dụng những kinh nghiệm quý học hỏi được, họ tin rằng đã đến lúc người Sơn La mang những "hạt cà phê tử tế" đến với người tiêu dùng.
Chị Lò Thị Thủy, thành viên trẻ của Ara-Tay Coffee, cho hay, bằng việc canh tác thân thiện với môi trường, không dùng hóa chất độc hại, bà con nhận thấy họ đang bảo vệ sức khỏe của chính người trồng cà phê và giữ gìn thiên nhiên tươi đẹp nơi đây.
Mường Chanh là vùng đất được thiên nhiên ưu đãi với khí hậu mát mẻ quanh năm, những nương đồi nằm ở độ cao trên 1.000 m so với mực nước biển, nhiệt độ chênh lệch trung bình trong ngày lên tới hơn 10 độ C. Đây là những điều kiện lý tưởng để hương vị và độ ngon của quả cà phê nơi đây đặc biệt hơn hẳn những nơi khác.
Từ chỗ diện tích ban đầu của 14 thành viên có khoảng 14 ha, đến nay, tổng diện tích vùng nguyên liệu của HTX Ara-Tay Coffee đã lên tới trên 70 ha. Hiện sản phẩm của HTX được bao tiêu ổn định theo đơn đặt hàng của các khách hàng trong nước và bước đầu tiến ra thị trường Hàn Quốc và Nhật Bản. Vụ sản xuất năm 2025, HTX đạt khoảng 90 tấn cà phê quả tươi, cho khoảng 7 tấn cà phê nhân xanh và sản phẩm khác.
Thương hiệu cà phê bột Honey và Natural, trà cascara từ vỏ quả cà phê đã và đang được người tiêu dùng đón nhận và đánh giá cao, nhiều năm liền được công nhận sản phẩm nông nghiệp tiêu biểu của tỉnh Sơn La.
Đáng chú ý, bên cạnh ấn tượng mà cà phê Arabica Sơn La tạo ra được trên thị trường trong nước và quốc tế, cùng ưu tiên thúc đẩy canh tác bền vững, Ara-Tay Coffe tuy là "tân binh" song đã dần khẳng định được tên tuổi và vị trí, được biết đến như một điểm sáng chuyên sản xuất cà phê Arabica chất lượng cao do người Thái trồng tại tỉnh Sơn La.
Và họ, những "người kể câu chuyện về cà phê Sơn La", vẫn đang ngày ngày cần mẫn đưa cà phê Ara-Tay đến người tiêu dùng bằng cả tấm lòng. Không chỉ sản xuất cà phê, họ còn vun đắp niềm tự hào của người Thái Sơn La, hướng tới xây dựng một thương hiệu, một tương lai bền vững cho thế hệ mai sau.
Trong hành trình 21 năm hình thành và phát triển, Tổng công ty Cấp nước Sài Gòn - TNHH MTV (SAWACO) không chỉ gắn với nhiệm vụ bảo đảm dòng nước sạch, an toàn, liên tục cho thành phố, mà còn từng bước chuyển mình theo yêu cầu mới của một đô thị hiện đại.
Theo kế hoạch triển khai lộ trình chuyển đổi 100% dịch vụ cấp nước sang hình thức trực tuyến, SAWACO đặt mục tiêu đưa toàn bộ các khâu đủ điều kiện lên môi trường số: từ đăng ký dịch vụ, nộp hồ sơ, ký xác nhận, theo dõi tiến độ đến nhận kết quả từ xa. Đây được xem là bước chuyển quan trọng trong cải cách dịch vụ khách hàng, giúp người dân và doanh nghiệp giảm thời gian đi lại, hạn chế tiếp xúc trực tiếp, đồng thời theo dõi trạng thái xử lý hồ sơ một cách rõ ràng hơn.
Trọng tâm của kế hoạch không chỉ là "đưa thủ tục lên mạng" mà còn chuẩn hóa lại toàn bộ quy trình phục vụ. SAWACO sẽ rà soát các thủ tục dịch vụ cấp nước hiện hành, đơn giản hóa thành phần hồ sơ, quy định thời gian xử lý chuẩn cho từng loại dịch vụ và công khai quy trình, trạng thái xử lý trên các kênh dịch vụ số. Cùng với đó là việc chuyển dần hồ sơ giấy sang hồ sơ điện tử, áp dụng biểu mẫu điện tử, chữ ký số, ký điện tử và xác thực điện tử đối với khách hàng theo quy định.
Kế hoạch chuyển đổi số của SAWACO được triển khai theo lộ trình nhiều giai đoạn. Trong năm 2026, Tổng công ty tập trung rà soát, chuẩn hóa, kết nối nền tảng và thực hiện tiếp nhận, xử lý trực tuyến toàn trình đối với các dịch vụ đủ điều kiện. Giai đoạn 2027 - 2028 sẽ mở rộng các dịch vụ còn lại, từng bước triển khai mô hình CRM tập trung, thống nhất đầu số chăm sóc khách hàng 1900 999 997 trên toàn hệ thống. Đến giai đoạn 2028 - 2030, SAWACO hướng đến hoàn thiện hệ sinh thái dịch vụ khách hàng số, vận hành trên nền tảng tập trung, đồng bộ dữ liệu và ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong tiếp nhận, phân loại, hỗ trợ xử lý yêu cầu khách hàng.
Quá trình này gắn với định hướng xây dựng "đô thị cấp nước thông minh", trong đó dữ liệu khách hàng, dữ liệu vận hành, tổng đài, CRM và các phần mềm nghiệp vụ được kết nối để xử lý hồ sơ xuyên suốt trên môi trường số. Khi hệ thống vận hành đồng bộ, khách hàng được tiếp cận dịch vụ dễ dàng hơn, còn doanh nghiệp có thêm công cụ giám sát chất lượng phục vụ, đo lường thời gian xử lý và mức độ hài lòng của người dân.
Nền tảng để SAWACO đẩy mạnh chuyển đổi số là hệ thống cấp nước đã được duy trì ổn định trong nhiều năm. Quý 1/2026, tổng sản lượng nước sản xuất đạt hơn 172 triệu m³; công suất phát nước bình quân đạt hơn 1,91 triệu m³/ngày. Tổng công ty tiếp tục duy trì tỷ lệ 100% hộ dân thành phố thuộc phạm vi quản lý được sử dụng nước sạch, bảo đảm cấp nước liên tục, an toàn.
Nhìn lại chặng đường từ năm 2005 đến nay, SAWACO ghi nhận nhiều thay đổi lớn: công suất phát nước bình quân tăng từ 1,105 triệu m³/ngày lên khoảng 2,4 triệu m³/ngày; mạng lưới đường ống mở rộng từ 2.811 km lên gần 11.000 km; số đồng hồ nước tăng từ hơn 563.000 lên hơn 1,6 triệu cái; tỷ lệ thất thoát nước giảm từ 40,51% xuống còn 12,51%.
Từ "dòng chảy" vật lý dưới lòng đất đến "dòng chảy" dữ liệu trên môi trường số, SAWACO đang bước vào giai đoạn phát triển mới. 21 năm không chỉ là dấu mốc nhìn lại một hành trình bền bỉ, mà còn là điểm khởi đầu cho một cách phục vụ hiện đại hơn: để nước sạch đến từng nhà ổn định hơn, và dịch vụ cấp nước tiếp cận người dân thuận tiện hơn.
Trong báo cáo vừa gửi Chính phủ, Bộ Xây dựng cho biết: Cả nước đang có khoảng 2.801 km đường cao tốc đã và đang được phân kỳ đầu tư. Trong đó, khoảng 2.107 km (548 km đường 2 làn xe; 1.559 km đường 4 làn xe hạn chế) đã đưa vào khai thác và thông xe kỹ thuật; 694 km (105 km đường 2 làn xe; 589 km đường 4 làn xe hạn chế) đang thi công xây dựng.
Đối với 653 km các đoạn tuyến cao tốc 2 làn xe đã và đang được nghiên cứu đầu tư, nhu cầu vốn để mở rộng khoảng 80.007 tỉ đồng, trong đó nguồn vốn (ngân sách Nhà nước, nhà đầu tư) đã xác định khoảng 49.534 tỉ đồng; nhu cầu vốn ngân sách Trung ương cần bổ sung trong giai đoạn 2026 - 2030 khoảng 30.473 tỉ đồng.
Qua kết quả nghiên cứu của các địa phương, chủ đầu tư, nhu cầu vốn để mở rộng các tuyến cao tốc 4 làn xe hạn chế theo quy mô quy hoạch (4 - 8 làn xe) khoảng 414.580 tỉ đồng.
Khẳng định việc đầu tư hoàn thiện các tuyến cao tốc phân kỳ là cần thiết, song, Bộ Xây dựng cho rằng sẽ khó khăn khi triển khai mở rộng ngay, đồng loạt các tuyến cao tốc đã được phân kỳ 4 làn xe hạn chế như: phải thi công lại một số hạng mục mới hoàn thành (thảm lại mặt đường; dịch chuyển dải phân cách giữa, lưới chống chói; lắp đặt lại tôn lượn sóng, cọc tiêu, biển báo, đào mái taluy…
Mặt khác, các tuyến cao tốc đầu tư công sẽ thu phí hoàn vốn nếu việc điều tiết giao thông hợp lý thì việc tính toán thời điểm mở rộng các cao tốc phân kỳ có thể xem xét vào thời điểm thích hợp.
Trường hợp đầu tư mở rộng bằng phương thức PPP, Bộ Xây dựng cho rằng nếu áp dụng thu phí đồng loạt các tuyến cao tốc có thể tác động đáng kể đến chi phí logistics của nền kinh tế nên cần có thời gian nghiên cứu, đánh giá kỹ lưỡng để cân nhắc hình thức đầu tư bảo đảm hiệu quả nhất, đặc biệt trên các tuyến quan trọng như cao tốc Bắc - Nam phía Đông.
Ngoài ra, các tuyến cao tốc phân kỳ đầu tư 4 làn xe hạn chế đã được thiết kế đáp ứng nhu cầu vận tải từ 6 - 10 năm hoặc lớn hơn. Trường hợp yêu cầu mở rộng đáp ứng quy chuẩn đường cao tốc, các tuyến có quy mô quy hoạch 6 - 8 làn xe sẽ được xem xét mở rộng ngay lên quy mô quy hoạch để tránh việc mở rộng nhiều lần (tránh việc mở rộng thêm 2 dải dừng xe khẩn cấp liên tục, thời gian sau tiếp tục mở rộng lên quy mô quy hoạch). Khi đó, việc mở rộng các tuyến cao tốc 4 làn hạn chế lên quy mô 6 - 8 làn theo quy hoạch sẽ đáp ứng nhu cầu vận tải trong dài hạn.
Từ thực tế trên, Bộ Xây dựng kiến nghị cần ưu tiên mở rộng ngay các tuyến cao tốc 2 làn xe lên quy mô cao tốc hoàn chỉnh để bảo đảm an toàn giao thông, tránh ùn tắc gây tắc nghẽn lưu thông hàng hóa, hành khách, ảnh hưởng đến phát triển kinh tế - xã hội của vùng, địa phương.
"Trong quá trình nghiên cứu đầu tư mở rộng, các địa phương cần rà soát, tính toán kỹ lưỡng phương án đầu tư mở rộng để bảo đảm hiệu quả đầu tư, tránh lãng phí," Bộ Xây dựng lưu ý.
Với các tuyến cao tốc 4 làn xe hạn chế, cần giao các cơ quan chủ quản/cơ quan có thẩm quyền tiếp tục nghiên cứu kỹ lưỡng đối với từng dự án, tính toán đầy đủ chỉ tiêu hiệu quả kinh tế - xã hội và chỉ quyết định đầu tư khi việc đầu tư mở rộng bảo đảm hạch toán hiệu quả.
Trên cơ sở đó, trước mắt, đối với đoạn tuyến cao tốc đang đầu tư PPP, Bộ Xây dựng, UBND các tỉnh/thành phố Hà Nội, Lạng Sơn, Lâm Đồng nghiên cứu chi tiết phương án đầu tư, xác định tổng mức đầu tư, phương án tài chính, cơ cấu nguồn vốn (vốn ngân sách địa phương, ngân sách Trung ương, vốn huy động của nhà đầu tư) để mở rộng các tuyến cửa khẩu Hữu Nghị - Chi Lăng, Dầu Giây - Tân Phú - Bảo Lộc - Liên Khương, Vành đai 4 Hà Nội bảo đảm hạch toán hiệu quả, báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.
Đối với các đoạn tuyến đầu tư công, mức độ ưu tiên sẽ được xác định cụ thể đối với từng dự án trên cơ sở kết quả kết quả đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội, hiệu quả tài chính, trong đó nghiên cứu toàn diện các yếu tố về: dự báo nhu cầu vận tải, hiện trạng đoạn tuyến, điều kiện thi công, khả năng huy động vốn...
Bộ Xây dựng kiến nghị cấp có thẩm quyền giao Bộ Tài chính xem xét, cân đối vốn ngân sách Trung ương đối với các dự án đầu tư mở rộng có nghiên cứu chi tiết, bảo đảm hạch toán hiệu quả làm cơ sở xem xét, quyết định đầu tư mở rộng các đoạn tuyến.