Trong khi triglyceride tăng cao lại là dấu hiệu cảnh báo sớm các loại bệnh nguy hiểm như tim mạch, viêm tụy cấp, gan nhiễm mỡ, đái tháo đường, đột quỵ.
Tình trạng bệnh nhân nguy kịch do triglyceride gia tăng có ở nhiều bệnh viện.
Bệnh nhân Đ.C.T. (44 tuổi) nhập viện cấp cứu trong tình trạng đau tức vùng thượng vị, đau âm ỉ vùng mạn sườn trái và tăng dần theo thời gian. Bệnh nhân uống thuốc giảm đau nhưng không đỡ và xuất hiện cảm giác tức ngực, khó thở…
Kết quả xét nghiệm máu cho thấy chỉ số mỡ máu triglyceride của bệnh nhân lên tới 155,9 mmol/L – tăng gấp hơn 100 lần bình thường; mẫu huyết tương của bệnh nhân đục trắng như sữa – dấu hiệu điển hình của tình trạng tăng mỡ máu rất nặng.
“Triglyceride tăng gấp 100 lần bình thường là tình trạng cực kỳ hiếm và nguy hiểm, có thể dẫn đến hoại tử tụy, gây suy đa tạng, đe dọa tính mạng. May mắn, nhờ lọc máu liên tục 3 giờ, chỉ số mỡ máu của bệnh nhân đã giảm nhanh từ mức 155,9 xuống còn 5,3 mmol/L, và bệnh nhân đã được cứu sống”, bác sĩ Lê Việt Long – khoa hồi sức tích cực (ICU) Bệnh viện Đa khoa Hồng Ngọc – cho biết.
Gần đây tình trạng các bệnh nhân nguy kịch do triglyceride diễn ra ở khắp các bệnh viện. Đáng chú ý nhiều người nguy kịch do tăng triglyceride không phải do uống rượu mà do mỡ máu âm thầm phát triển trong cơ thể.
Tương tự, chỉ trong thời gian ngắn khoa cấp cứu – hồi sức tích cực và chống độc Trung tâm Y tế khu vực Yên Lập (Phú Thọ) đã tiếp nhận và điều trị thành công liên tiếp 5 trường hợp viêm tụy cấp do tăng triglyceride máu – một thể bệnh nguy hiểm, dễ diễn biến nặng.
Khi nhập viện, người bệnh đều có biểu hiện: đau bụng dữ dội vùng thượng vị, nôn nhiều, Amylase/Lipase tăng gấp 3 – 10 lần bình thường, triglyceride tăng cao 11 – 35 mmol/L (bình thường < 1,7 mmol/L). Trong đó có nhiều bệnh nhân là do tiền sử rối loạn mỡ máu.Bác sĩ Lê Việt Long ở trung tâm này cho biết viêm tụy cấp do tăng triglyceride xảy ra khi nồng độ triglyceride trong máu tăng quá cao, gây tổn thương và kích hoạt phản ứng viêm tại tuyến tụy. Nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời, tình trạng này có thể dẫn đến nhiều biến chứng nguy hiểm như sốc viêm, suy đa cơ quan, thậm chí đe dọa tính mạng.Bác sĩ Đinh Minh Trí (Hội Tim mạch Việt Nam) thông tin rất nhiều người khi đi xét nghiệm máu hay khi nói đến bệnh tim mạch và đột quỵ thường quan tâm nhiều đến các chỉ số LDL, HDL và mức cholesterol toàn phần trong các xét nghiệm mỡ máu mà bỏ qua chỉ số triglyceride.Tuy nhiên nhiều nghiên cứu cho biết chỉ số triglyceride trong kết quả xét nghiệm lipid cũng rất cần chú ý, vì chúng cũng là thủ phạm gây xơ vữa động mạch và là yếu tố nguy cơ quan trọng đối với bệnh tim mạch chuyển hóa và đột quỵ.Trong khi thực tế triglyceride tăng cao lại là dấu hiệu cảnh báo sớm của rối loạn chuyển hóa, có liên quan trực tiếp đến bệnh tim mạch, viêm tụy cấp nguy hiểm, gan nhiễm mỡ, kháng insulin và đái tháo đường. Điều đáng nói là triglyceride cao thường không có triệu chứng rõ ràng, nên nhiều người chủ quan cho đến khi bệnh tiến triển nặng.
Bác sĩ Trí phân tích nồng độ triglyceride bình thường thấp hơn 150mg/dL, 150 - 199mg/dL là cao nhẹ, 200 - 499mg/dL được gọi là cao, và ở mức cao hơn 500mg/dL được gọi là rất cao. Tăng triglyceride máu và các rối loạn do tăng triglyceride máu gây ra thực sự khá nguy hiểm. Tăng triglyceride máu làm tăngnguy cơ mắc bệnh động mạch vành, dẫn đến góp phần vào việc tắc nghẽn các động mạch khác của cơ thể và cuối cùng sẽ dẫn đến một cơn đau tim hoặc cơn đột quỵ.Người bị bệnh đái tháo đường, bệnh thận hoặc suy giáp có nguy cơ cao khi kèm tăng triglyceride máu. Nồng độ triglyceride máu vượt quá 500mg/dL có thể dẫn đến bệnh viêm tụy cấp, đe dọa tính mạng.Tin Gốc: Tuổi Trẻ
Bệnh nhân nhập viện sáng 20/5 trong tình trạng chấn thương ngực và bụng kín, vỡ gan độ 3, chấn thương thận độ 5 - mức độ nặng nhất. Bác sĩ ghi nhận thận phải bệnh nhân bị tổn thương phức tạp tại rốn thận, đứt rời mạch máu kèm huyết khối tĩnh mạch, khiến chức năng thận mất đột ngột và bệnh nhân có nguy cơ sốc mất máu đe dọa tính mạng.
TS.BS Nguyễn Đình Liên, Trưởng khoa Phẫu thuật thận tiết niệu và nam học, cho biết những trường hợp chấn thương thận độ 5, phương án thường được lựa chọn là cắt bỏ thận để bảo toàn tính mạng người bệnh. Song, cắt bỏ một thận đồng nghĩa người bệnh mất 50% chức năng lọc máu suốt đời. Vì vậy, êkíp quyết định thực hiện kỹ thuật ghép thận tự thân nhằm giữ lại cơ quan này cho bệnh nhân.
Khác với ca ghép thận tự thân thông thường là chuyển thận xuống hố chậu, người bệnh phải chịu hai vết mổ và kỹ thuật cắm lại niệu quản phức tạp, bệnh nhân này được bác sĩ ghép lại quả thận ngay tại hố thận ban đầu. Kỹ thuật mổ này khiến phẫu trường (khu vực mổ) ở vùng hố thận rất hẹp và sâu gây khó khăn lớn cho việc khâu nối mạch máu, nhưng đổi lại êkíp rút ngắn thời gian mổ và giảm thiểu tổn thương cho người bệnh.
Quá trình phẫu thuật, khi dòng máu được tái lưu thông qua các mạch máu vừa nối, quả thận từ trạng thái thiếu máu chuyển dần sang hồng hào và bắt đầu bài tiết nước tiểu ngay trên bàn mổ, dấu hiệu cho thấy cơ quan này đã hồi sinh thành công.
Hơn 10 ngày sau phẫu thuật, hiện bệnh nhân hồi phục tốt, đi lại bình thường. Các xét nghiệm và chẩn đoán hình ảnh cho thấy chức năng thận trở về bình thường, hệ thống mạch máu tái tạo lưu thông ổn định và thận được tưới máu tốt.
"Thành công của ca ghép thận tự thân ngay trong hố thận là dấu mốc chuyên môn quan trọng, mở ra cơ hội bảo tồn tạng cho bệnh nhân chấn thương thận đặc biệt nặng thay vì phải cắt bỏ thận", TS Liên nói.
Các nhà khoa học tại Đại học College London và Đại học Glasgow (Anh) công bố kết quả mang tính bước ngoặt này tại Hội nghị thường niên của Hiệp hội Thống kê Lâm sàng Mỹ (ASCO) ở Chicago ngày 30/5.
Cụ thể, thông qua thử nghiệm lâm sàng quốc tế mang tên Optima, nhóm nghiên cứu theo dõi hơn 4.000 bệnh nhân ung thư vú mới chẩn đoán tại Anh, Na Uy, Thụy Điển, Australia, New Zealand và Thái Lan.
Nghiên cứu sử dụng xét nghiệm hệ gene Prosigna - hoạt động bằng cách phân tích mức độ hoạt động của 50 gene bên trong mẫu mô khối u (tức bản đồ ADN của tế bào ung thư), qua đó chấm điểm mức độ hung hãn và dự báo rủi ro ung thư quay lại trong 10 năm tới.
Các chuyên gia tiến hành thử nghiệm trên 4.429 bệnh nhân từ 40 tuổi trở lên mắc ung thư vú phụ thuộc nội tiết. Đây là dạng bệnh dùng chính hormone của cơ thể người bệnh làm nguồn nuôi dưỡng khối u, chiếm 80% tổng số ca mắc toàn cầu.
Nhóm nghiên cứu chia bệnh nhân thành hai nhánh. Ở nhánh tiêu chuẩn, bác sĩ cho bệnh nhân truyền hóa chất, sau đó dùng liệu pháp nội tiết (uống thuốc ức chế hormone). Ở nhánh ứng dụng xét nghiệm gene, bác sĩ chỉ định phác đồ dựa trên điểm số rủi ro. Những người điểm cao mới phải truyền hóa chất kết hợp thuốc nội tiết. Những người điểm thấp hoàn toàn bỏ qua hóa chất, chỉ uống thuốc nội tiết.
Sau 5 năm, dữ liệu cho thấy tỷ lệ điều trị thành công giữa hai nhóm gần như tương đương. Cụ thể, nhóm truyền hóa chất ghi nhận 95% bệnh nhân sống sót và không tái phát, trong khi nhóm bỏ qua hóa chất cũng đạt tỷ lệ 94%. Số liệu này khẳng định hóa trị không mang lại thêm lợi ích lâm sàng nào cho nhóm bệnh nhân có điểm nguy cơ thấp, mở đường cho việc loại bỏ hoàn toàn phác đồ độc tính cao này.
Bà Karen Bonham, 64 tuổi, sống tại Cardiff (Anh), phát hiện khối u vú kích thước 5 cm đã di căn hai hạch nách vào tháng 6/2017. Bác sĩ lúc đó lên lịch truyền hóa chất tiêu chuẩn, bà thậm chí đã cắt tóc ngắn để chuẩn bị cho quá trình rụng tóc.
Tuy nhiên, sau khi tham gia thử nghiệm Optima và nhận kết quả xét nghiệm gene nguy cơ thấp, bác sĩ hủy lịch hóa trị, chuyển sang áp dụng tia xạ và thuốc nội tiết. Gần 9 năm trôi qua, bà Bonham tận hưởng cuộc sống khỏe mạnh bình thường mà không phải chịu bất kỳ di chứng nào từ hóa chất.
Giáo sư Rob Stein chuyên ngành Ung thư vú tại UCL, trưởng nhóm thử nghiệm, khẳng định phát hiện mới giúp giới y khoa giải quyết bài toán khó lâu nay là nhận diện chính xác ai thực sự cần hóa trị và ai không. Giáo sư Iain MacPherson tại Đại học Glasgow đánh giá nghiên cứu cung cấp bằng chứng mạnh mẽ để thay đổi cách bác sĩ định hình phác đồ. Nhờ đó, người bệnh tránh cảnh nôn mửa, kiệt sức, vô sinh, trong khi các cơ sở y tế tiết kiệm nguồn lực điều trị.
Ngày 15.5, tại Bệnh viện đa khoa Vinmec Đà Nẵng, Bộ Y tế tổ chức hội thảo xin ý kiến Đề án phát triển hệ thống cấp cứu ngoại viện giai đoạn 2026 - 2030.
Hội thảo do Giáo sư - tiến sĩ Trần Văn Thuấn (Thứ trưởng Bộ Y tế) cùng tiến sĩ Hà Anh Đức (Cục trưởng Cục Quản lý khám chữa bệnh, Bộ Y tế) đồng chủ trì, với sự tham gia của các chuyên gia, nhà khoa học, đại diện các bệnh viện, trung tâm cấp cứu 115 và nhiều địa phương.
Phát biểu tại hội thảo, Giáo sư - tiến sĩ Trần Văn Thuấn cho rằng cấp cứu ngoại viện không đơn thuần là hoạt động đưa xe cứu thương đến hiện trường, mà là "cánh tay nối dài của bệnh viện", là nơi ngành y tế tiếp cận người bệnh trong những phút đầu tiên mang tính quyết định sinh mạng.
Theo Thứ trưởng Bộ Y tế, thời gian qua hệ thống cấp cứu 115 và các lực lượng cấp cứu tại địa phương đã có nhiều nỗ lực trong xử lý tai nạn giao thông, đột quỵ, nhồi máu cơ tim, ngừng tuần hoàn, thảm họa và dịch bệnh. Một số địa phương bước đầu ứng dụng công nghệ thông tin, hình thành mô hình điều phối và kết nối bệnh viện.
Tuy nhiên, Giáo sư - tiến sĩ Trần Văn Thuấn cũng nhìn nhận hệ thống hiện nay còn nhiều bất cập như: phân tán, thiếu liên thông, nhân lực chưa được chuẩn hóa, phương tiện và thiết bị còn thiếu, cơ chế tài chính chưa bền vững... Sự phối hợp giữa y tế, công an, phòng cháy chữa cháy, quân đội, giao thông và chính quyền địa phương trong nhiều tình huống khẩn cấp vẫn chưa thật sự nhịp nhàng.
"Người dân cần một hệ thống cấp cứu phản ứng nhanh nhưng hệ thống của chúng ta ở nhiều nơi vẫn còn phản ứng theo từng điểm rời rạc. Người bệnh cần được điều phối thông minh ngay từ cuộc gọi đầu tiên nhưng dữ liệu, tổng đài, phương tiện, bệnh viện tiếp nhận và lực lượng hiện trường chưa phải lúc nào cũng nằm trên cùng một mặt phẳng vận hành", Giáo sư - tiến sĩ Trần Văn Thuấn nói.
Theo ông Thuấn, đây là lý do Bộ Y tế xây dựng Đề án phát triển hệ thống cấp cứu ngoại viện giai đoạn 2026 - 2030 nhằm thiết lập một cấu phần quan trọng của hệ thống y tế hiện đại, bảo đảm cấp cứu đến với người dân "nhanh hơn, đúng hơn, an toàn hơn và có tổ chức hơn".
Tại hội thảo, Giáo sư - tiến sĩ Trần Văn Thuấn cho rằng Đà Nẵng là địa phương phù hợp để tổ chức hội thảo chuyên sâu bởi đây là đô thị phát triển nhanh, tập trung đông dân cư, du khách và nhiều sự kiện lớn; đồng thời có những nguy cơ đặc thù về tai nạn, thiên tai, đuối nước và các tình huống khẩn cấp.
Ông Thuấn đề nghị hội thảo tập trung thảo luận 3 vấn đề lớn, gồm: mô hình tổ chức phù hợp với điều kiện Việt Nam; cơ chế phối hợp liên ngành để toàn bộ quy trình cấp cứu vận hành như một hệ thống thống nhất; nguồn lực để hệ thống hoạt động bền vững với nhân lực, phương tiện, nền tảng số và cơ chế tài chính đồng bộ.
"Một đề án tốt không chỉ hay trên giấy, mà phải vận hành được trong đêm mưa, trong giờ cao điểm, trên đường cao tốc, trong ngõ nhỏ, ngoài bãi biển, trên tàu thuyền, ở vùng núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo. Cấp cứu ngoại viện chỉ có ý nghĩa khi đến được nơi người dân cần, vào đúng lúc người dân cần", Thứ trưởng Bộ Y tế nhấn mạnh.