Theo chia sẻ của bệnh nhân, cơn đau khởi phát từ 21h tối hôm trước với triệu chứng đau âm ỉ vùng thượng vị, sau đó cơn đau tăng dần và lan ra sau lưng.
Do lầm tưởng là đau dạ dày thông thường, bệnh nhân tự theo dõi tại nhà. Đến 6h sáng hôm sau, khi cơn đau trở nên liên tục và không thể chịu đựng thêm, bệnh nhân mới đến Bệnh viện Đa khoa Phương Đông (hà Nội) thăm khám.
Trước các dấu hiệu lâm sàng như đau bụng dữ dội, mệt mỏi kéo dài kèm theo các cơn đau lan ra sau lưng, bệnh nhân nhanh chóng được bác sĩ chỉ định siêu âm và chụp cắt lớp vi tính (CT) ổ bụng để tìm nguyên nhân. Đáng nói, mặc dù siêu âm phát hiện túi mật có rất nhiều sỏi nhưng trên phim chụp CT lại không nhìn thấy sỏi.
Theo bác sĩ Hà Văn Hồng – khoa ngoại bệnh viện, kết quả này rất dễ bị nhầm với bệnh đau dạ dày nếu không thăm khám kỹ, không phải loại sỏi nào cũng hiện lên trên phim CT.
Sau đó các bác sĩ xác định bệnh nhân bị viêm túi mật hoại tử do sỏi kẹt ở cổ túi mật, chỉ định mổ nội soi cắt túi mật.
Các bác sĩ đánh giá đây là ca phẫu thuật khó vì túi mật của bệnh nhân đã bị hoại tử, viêm dính nhiều và xuất huyết khiến bác sĩ rất khó bóc tách để nhìn rõ cấu trúc các cơ quan bên trong trong quá trình nội soi. Nếu không nhìn rõ, nguy cơ làm tổn thương đường mật cao hơn, gây biến chứng rất nguy hiểm.
Sau khoảng 2 giờ, các bác sĩ đã hoàn thành ca mổ chỉ với 3 vết mổ khoảng 5mm. Sau phẫu thuật, bệnh nhân được chăm sóc tích cực, có thể xuất viện sau 5-7 ngày.
Theo các bác sĩ, túi mật là cơ quan nhỏ thuộc hệ tiêu hóa, có hình dạng giống như một quả lê, có chức năng dự trữ, cô đặc và bài xuất dịch mật – hỗ trợ quá trình tiêu hóa.
Thông thường, mọi người nghĩ viêm túi mật sẽ đau bên phải bụng, nhưng thực tế nhiều trường hợp lại đau bụng vùng trên rốn, rất giống đau dạ dày.
“Đó là lý do nhiều người nhầm lẫn 2 căn bệnh này, dẫn đến nguy cơ bỏ qua việc điều trị kịp thời, gây nguy hiểm cho sức khỏe, thậm chí đe dọa tính mạng”, bác sĩ Hồng khuyến cáo.
Theo bác sĩ Hồng, dấu hiệu chỉ dẫn quan trọng ở ca bệnh này là cơn đau lan xuyên ra sau lưng, triệu chứng đặc trưng của viêm tắc đường mật.
Các bác sĩ cũng khuyến cáo người dân không nên tự ý chẩn đoán và điều trị tại nhà khi có các dấu hiệu bất thường vùng bụng. Việc thăm khám sớm tại các cơ sở y tế uy tín không chỉ giúp xác định chính xác bệnh lý mà còn giúp ngăn biến chứng đe dọa trực tiếp đến tính mạng.
Trong khi đó, cũng có người cố gắng đi bộ nhiều hơn với suy nghĩ càng vận động thì khớp càng khỏe. Trên thực tế, 2 cách này đều có thể không phù hợp, theo chuyên trang sức khỏe Medical News Today (Anh).
Khớp gối cần vận động ở mức hợp lý để duy trì sự linh hoạt. Khi đi bộ nhẹ nhàng, dịch khớp được lưu thông tốt hơn, giúp bôi trơn bề mặt sụn và giảm cảm giác cứng khớp, đặc biệt sau khi ngồi lâu hoặc mới ngủ dậy.
Đi bộ còn giúp tăng cường sức mạnh của các nhóm cơ xung quanh đầu gối như cơ đùi trước, cơ đùi sau và cơ hông. Những nhóm cơ này giúp nâng đỡ khớp, giảm áp lực trực tiếp lên đầu gối khi đứng, leo cầu thang.
Hiện chưa có bằng chứng cho thấy tất cả người bị đau khớp gối đều bắt buộc phải đi bộ mỗi ngày. Điều quan trọng hơn là duy trì vận động đều đặn ở mức phù hợp với thể trạng.
Một nghiên cứu đăng trên chuyên san Journal of Orthopaedic Surgery and Research cho thấy các hình thức tập luyện aerobic, chẳng hạn đi bộ, bơi lội hay đạp xe, có thể giúp cải thiện cơn đau và chức năng vận động ở người bị thoái hóa khớp gối. Điều này cho thấy lợi ích đến từ việc vận động hợp lý và đều đặn, chứ không phải cố gắng đi thật nhiều mỗi ngày.
Nếu cơn đau ở mức nhẹ, đầu gối không bị sưng và người mắc vẫn đi lại bình thường thì có thể duy trì thói quen đi bộ mỗi ngày. Những người bị cứng khớp sau khi ngồi lâu hoặc thoái hóa khớp gối giai đoạn sớm thường có thể đi bộ khoảng 20 - 30 phút/ngày với tốc độ vừa phải. Khi mới bắt đầu tập, hãy chia nhỏ thành nhiều lần trong ngày để giảm áp lực lên khớp.
Để xác định mức đi bộ phù hợp, mọi người hãy chú ý đến cảm giác sau khi đi. Mức đi phù hợp là cảm giác đau ở đầu gối không tăng lên, cảm giác khó chịu biến mất nhanh chóng sau khi nghỉ ngơi.
Trong một số trường hợp, người bị đau đầu gối không nên cố đi bộ mỗi ngày. Cụ thể, nếu đầu gối bị sưng nhiều, đau dữ dội khi chịu lực hoặc có cảm giác lỏng khớp, người bệnh không nên cố gắng tiếp tục đi bộ.
Ngoài ra, nếu đầu gối bị cứng khớp, khó co duỗi, đau sau chấn thương hoặc xuất hiện tình trạng đỏ nóng quanh khớp thì nên đi khám sớm. Đây có thể là dấu hiệu của rách sụn chêm, tổn thương dây chằng, viêm khớp hoặc những vấn đề cần được bác sĩ đánh giá. Trong những trường hợp này, việc cố gắng đi bộ mỗi ngày có thể khiến tình trạng nghiêm trọng hơn, theo Medical News Today.
Sự việc xảy ra tại xã Phiêng Pằn, tỉnh Sơn La. Trong 6 người ăn món canh nấm rừng do gia đình tự hái, một người (sinh năm 2010) tử vong tại nhà. 5 người còn lại có biểu hiện ngộ độc đã được đưa đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện Bạch Mai.
Tại Trung tâm Chống độc Bệnh viện Bạch Mai, các chuyên gia sinh học xác định nguyên nhân khiến 5 BN ngộ độc do nấm thuộc nhóm Amanita, là nấm độc nguy hiểm hàng đầu có chứa độc tố amatoxin.
Các bệnh nhân đã được khẩn trương điều trị giải độc, lọc máu tăng thải độc. Tuy nhiên, diễn biến bệnh cực kỳ phức tạp. Trong đó, bệnh nhân 62 tuổi bị suy gan tối cấp, hôn mê gan, men gan tăng trên 7.000 U/L, cao gấp hàng trăm lần bình thường, kèm suy thận vô niệu, tụt huyết áp và suy hô hấp. Gia đình đã xin đưa bệnh nhân về nhà tối 6.5, do tình trạng quá nặng.
Một bệnh nhân khác (25 tuổi) bị suy gan tối cấp, hôn mê gan với men gan trên 5.000 U/L. Các trường hợp còn lại đều có tổn thương gan ở nhiều mức độ, trong đó có bé gái 5 tuổi bị viêm gan nhiễm độc.
TS-BS Nguyễn Trung Nguyên, Giám đốc Trung tâm Chống độc, cho biết có 2 nhóm nấm độc: nhóm gây ngộ độc sớm và nhóm gây ngộ độc muộn. Nguy hiểm nhất là nhóm gây ngộ độc muộn, cũng chính là nhóm mà các bệnh nhân ở Sơn La đã ăn phải.
Đây là những loại nấm màu trắng, nhìn sạch sẽ, hấp dẫn, trông giống nấm ăn bình thường. Nhưng khi vào cơ thể, độc tố amatoxin trong nấm tấn công gan, thận cực kỳ dữ dội.
Theo Cục An toàn thực phẩm, Bộ Y tế, mùa xuân, thời tiết ấm, ẩm rất thuận lợi cho các loài nấm phát triển và đây cũng là thời điểm thường xảy ra các vụ ngộ độc nấm.
So với các loại ngộ độc khác thì ngộ độc nấm xảy ra ít hơn về số ca, nhưng tỷ lệ tử vong lại rất cao. Phòng ngừa ngộ độc nấm rất quan trọng, vì nhiều loại nấm hoang dại có thể gây ngộ độc nặng, thậm chí tử vong.
Cơ quan này lưu ý, không nên tin hoàn toàn kinh nghiệm truyền miệng "nấm có côn trùng ăn là nấm lành", vì có nấm côn trùng ăn được nhưng người thì bị ngộ độc. Nhiều loại nấm độc không có vị đắng hoặc mùi đặc biệt, khi ăn vẫn ngọt, ngon.
Cách an toàn nhất là chỉ ăn nấm trồng có nguồn gốc rõ ràng hoặc nấm đã rất quen thuộc ở địa phương.
Không hái, không ăn nấm hoang dã khi không biết rõ; không mua nấm trôi nổi, không rõ nguồn gốc; không tin vào mẹo dân gian, kinh nghiệm "truyền miệng" như thử bằng bạc, tỏi, gạo… để nhận biết nấm độc.
Khi có dấu hiệu ngộ độc nấm cần đưa ngay đến cơ sở y tế gần nhất; bảo quản mẫu nấm (nếu có) để hỗ trợ chẩn đoán và có phác đồ điều trị chính xác.
Nhiều người bị tăng huyết áp thường cố gắng ăn nhạt hơn bằng cách bớt cho muối vào món ăn. Tuy nhiên theo các chuyên gia tim mạch, đây chưa phải yếu tố quan trọng nhất. Phần lớn lượng natri mà cơ thể hấp thụ mỗi ngày thực tế lại đến từ thực phẩm chế biến sẵn và đồ ăn ngoài hàng.
Theo bác sĩ tim mạch Sonal Chandra (Bệnh viện Đại học Chicago, Mỹ), việc chỉ tập trung vào lọ muối trên bàn ăn có thể tạo ra "cảm giác an toàn giả". Nhiều người nghĩ mình đang ăn nhạt nhưng vẫn vô tình nạp quá nhiều natri từ xúc xích, thịt nguội, mì ăn liền, đồ hộp, nước xốt, bánh mì hay các món ăn nhà hàng.
Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ cho biết hơn 70% lượng natri trong khẩu phần ăn hiện đại đến từ thực phẩm chế biến sẵn chứ không phải lượng muối nêm trực tiếp khi nấu ăn.
Điều đáng nói là nhiều món ăn không hề có vị quá mặn nhưng vẫn chứa lượng natri rất cao. Chỉ một phần thức ăn nhanh hoặc một món đóng gói sẵn cũng có thể chứa hơn 1.000mg natri, tương đương phần lớn mức khuyến nghị mỗi ngày đối với người bị tăng huyết áp.
Theo chuyên gia dinh dưỡng Anna Kallianteri (Hiệp hội Dinh dưỡng Anh), nếu thói quen ăn uống không thay đổi, thuốc điều trị huyết áp khó có thể giải quyết triệt để vấn đề. "Thuốc có thể hỗ trợ, nhưng không loại bỏ được nguyên nhân gốc rễ nếu chế độ ăn vẫn quá nhiều natri", bà cho biết.
Các bác sĩ cảnh báo lượng natri cao khiến cơ thể giữ nước nhiều hơn, làm tăng thể tích máu và tạo thêm áp lực lên thành mạch máu. Điều này khiến huyết áp khó giảm dù người bệnh vẫn uống thuốc đều đặn.
Bác sĩ Sonal Chandra cho biết chế độ ăn nhiều natri còn có thể làm giảm hiệu quả của một số nhóm thuốc điều trị huyết áp phổ biến như thuốc ức chế men chuyển ACE, thuốc chẹn thụ thể ARB hay thuốc lợi tiểu.
Trong khi đó, bác sĩ tim mạch Padma Shenoy giải thích rằng natri dư thừa sẽ kích thích cơ thể giải phóng các hormone làm tăng huyết áp và tăng lượng dịch trong mạch máu. Về lâu dài, tình trạng này khiến thành mạch kém đàn hồi hơn và làm tăng nguy cơ đột quỵ, bệnh tim và tổn thương thận.
Các chuyên gia cho rằng không cần loại bỏ hoàn toàn muối, nhưng nên kiểm soát tổng lượng natri hấp thụ mỗi ngày.
Một số thay đổi đơn giản có thể giúp ích gồm:
- Hạn chế thực phẩm chế biến sẵn như đồ hộp, thịt nguội, snack, thức ăn nhanh và bữa ăn đông lạnh.
- Ưu tiên nấu ăn tại nhà để kiểm soát gia vị.
- Đọc kỹ nhãn dinh dưỡng, chọn sản phẩm có hàm lượng natri thấp.
- Rửa rau củ hoặc đậu đóng hộp trước khi sử dụng để giảm bớt natri dư thừa.
- Dùng tỏi, tiêu, chanh, giấm hoặc rau thơm để tăng hương vị thay cho muối.
- Ăn nhiều thực phẩm giàu kali như chuối, cam, rau xanh và các loại đậu vì kali có thể hỗ trợ cân bằng tác động của natri đối với huyết áp.
Các chuyên gia nhấn mạnh rằng kiểm soát huyết áp hiệu quả không chỉ nằm ở việc "ăn bớt muối", mà quan trọng hơn là thay đổi toàn bộ thói quen ăn uống theo hướng ít chế biến, cân bằng và lành mạnh hơn.