Tổng thống Nga Vladimir Putin ngày 19/5 tới Bắc Kinh, bắt đầu chuyến thăm hai ngày đến Trung Quốc với tiêu điểm là cuộc hội đàm với Chủ tịch Tập Cận Bình. Đây là lần thứ hai ông Putin gặp ông Tập trong vòng một năm, sau chuyến công du 4 ngày của lãnh đạo Nga cuối tháng 8/2025.
Cuộc gặp diễn ra khi chiến sự Nga – Ukraine vẫn chưa có dấu hiệu kết thúc và xung đột Iran đã làm rung chuyển thị trường năng lượng toàn cầu. Các vấn đề này được cho là đang thúc đẩy Nga và Trung Quốc xích lại gần nhau hơn để tìm kiếm lợi ích chung.
“Quan hệ giữa Trung Quốc và Nga phản ánh lựa chọn của hai quốc gia độc lập trong việc thúc đẩy phát triển, bảo đảm an ninh và mở rộng hợp tác cùng có lợi, dựa trên lợi ích của mỗi nước cũng như mục tiêu duy trì ổn định khu vực và toàn cầu”, tờ China Daily của Trung Quốc viết trong bài xã luận đăng ngày 19/5.
Chuyến thăm lần này của Tổng thống Putin trùng dịp kỷ niệm 30 năm Nga – Trung thiết lập quan hệ đối tác hợp tác chiến lược và 25 năm Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác Nga – Trung, văn kiện đặt nền móng cho quan hệ song phương sau nhiều thập kỷ nghi kỵ.
Sau nhiều năm chịu sức ép từ phương Tây, Moskva ngày càng thúc đẩy quan hệ với Bắc Kinh về thương mại, công nghệ và năng lượng. Trong khi đó, Trung Quốc coi Nga là đối tác chiến lược quan trọng nhằm bảo đảm an ninh năng lượng và gia tăng ảnh hưởng trên trường quốc tế.
Nhu cầu về công nghệ và ‘lối thoát kinh tế’ của Nga
Trong video đăng trước thềm chuyến thăm, Tổng thống Putin cho biết quan hệ Nga – Trung đã đạt “mức độ chưa từng thấy về hiểu biết và tin cậy lẫn nhau”.
Sau khi chiến sự Ukraine bùng phát cuối tháng 2/2022, Mỹ và nhiều nước châu Âu đã áp hàng loạt lệnh trừng phạt Nga để trả đũa. Khi hầu hết doanh nghiệp phương Tây rời đi, nhiều tuyến thương mại bị gián đoạn, Trung Quốc đã trở thành “phao cứu sinh” giúp Nga duy trì hoạt động kinh tế và thích nghi với môi trường bị cô lập hơn trước. Kim ngạch thương mại hai chiều Nga – Trung đạt 237 tỷ USD vào năm 2024, gấp đôi so với năm 2020.
“Với Nga, chuyến thăm của ông Putin rất quan trọng”, Sergei Guriev, hiệu trưởng Trường Kinh doanh London, Anh, nói với CNBC. “Nga còn phụ thuộc vào Trung Quốc về công nghệ, hàng tiêu dùng và hàng hóa sản xuất”.
Một báo cáo gần đây của Bloomberg cho thấy Nga nhập từ Trung Quốc hơn 90% mặt hàng công nghệ bị phương Tây siết kiểm soát, trong đó có nhiều linh kiện quan trọng phục vụ sản xuất máy bay không người lái (UAV) và công nghiệp quốc phòng.
Trung Quốc là một trong những khách hàng lớn nhập khẩu dầu thô, khí đốt và nhiều nguyên liệu khác từ Nga, thay thế phần nào vai trò của thị trường châu Âu trước đây. Nhiều công ty Trung Quốc đã nhanh chóng lấp khoảng trống do doanh nghiệp phương Tây để lại trong các lĩnh vực công nghệ, điện tử và viễn thông ở Nga.
Tuy nhiên, cán cân thương mại có điểm bất đối xứng. Trong khi Trung Quốc là đối tác lớn nhất của Nga, Moskva lại chỉ chiếm khoảng 4% tổng kim ngạch thương mại của Bắc Kinh.
Trung Quốc cần an ninh năng lượng và vai trò địa chính trị
Ở chiều ngược lại, quan hệ với Nga cũng mang lại nhiều lợi ích chiến lược cho Trung Quốc, đặc biệt trong lĩnh vực năng lượng và địa chính trị.
Trong bối cảnh bất ổn tại Trung Đông và nguy cơ gián đoạn vận tải qua eo biển Hormuz, Bắc Kinh ngày càng chú trọng đến các nguồn cung năng lượng ổn định qua đường bộ. Nga, với trữ lượng dầu khí khổng lồ và đường biên giới dài hơn 4.300 km với Trung Quốc, trở thành đối tác phù hợp.
Yury Ushakov, trợ lý chính sách đối ngoại của Tổng thống Putin, cho biết xuất khẩu dầu thô từ Nga sang Trung Quốc tăng 35% trong quý I. “Trong cuộc khủng hoảng Trung Đông, Nga vẫn là một nhà cung ứng năng lượng đáng tin cậy và Trung Quốc là bên tiêu thụ có trách nhiệm”, ông Ushakov nói.
Một trong những dự án được chú ý là đường ống khí đốt “Power of Siberia 2”, dự kiến vận chuyển khoảng 50 tỷ m3 khí đốt Nga sang Trung Quốc mỗi năm. Dự án đã được thảo luận nhiều năm nhưng đang nhận được sự quan tâm lớn hơn trong bối cảnh thị trường năng lượng toàn cầu biến động.
Quan hệ với Nga còn mang ý nghĩa chiến lược với Trung Quốc, bởi Moskva là thành viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, sở hữu kho vũ khí hạt nhân lớn và có vai trò quan trọng trong nhiều vấn đề quốc tế. Hai nước thường phối hợp lập trường trong các vấn đề đối ngoại và cùng phản đối điều họ gọi là trật tự quốc tế do Mỹ dẫn dắt.
Theo giới quan sát, chiến sự Ukraine cũng giúp Trung Quốc có thêm cơ hội đánh giá thực tế chiến tranh hiện đại, từ hiệu quả của UAV cho tới khả năng chống chịu trước các lệnh trừng phạt quy mô lớn.
Nhà phân tích Bobo Lo, cựu phó đại sứ Australia tại Moskva, nhận định Nga – Trung “không phải đồng minh, mà là quan hệ đối tác chiến lược linh hoạt”.
Theo ông, chính sự linh hoạt này giúp quan hệ giữa hai nước bền vững hơn so với mô hình liên minh quân sự truyền thống, bởi cả Moskva và Bắc Kinh đều không bị ràng buộc phải bảo vệ bên kia trong mọi tình huống.
Giới hạn của mối quan hệ
Trên thực tế, quan hệ Nga – Trung vẫn tồn tại khác biệt đáng kể. Nền kinh tế Trung Quốc có quy mô lớn hơn, được đánh giá là có lợi thế hơn trong đàm phán song phương. Bắc Kinh cũng tránh gây áp lực quá mức với Moskva, nhằm không tạo cảm giác Nga bị lép vế hoàn toàn.
Các nhà phân tích cho rằng Nga nhận thức rõ rủi ro của sự phụ thuộc ngày càng lớn vào Trung Quốc. Trong một bài bình luận gần đây, Dmitry Trenin, Chủ tịch Hội đồng Các vấn đề Quốc tế Nga, nhấn mạnh Moskva không muốn trở thành “đối tác cấp dưới” của Bắc Kinh.
“Điều quan trọng là duy trì vị thế bình đẳng trong quan hệ với Trung Quốc và ghi nhớ rằng Nga là một cường quốc”, ông Trenin viết.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy Moskva và Bắc Kinh đều có ít lựa chọn khác đủ để thay thế vai trò của nhau. Nga cần thị trường, công nghệ và đối tác chiến lược để giảm tác động từ sức ép phương Tây. Trung Quốc cần nguồn năng lượng ổn định và một đối tác có khả năng hỗ trợ quá trình cạnh tranh ảnh hưởng với Mỹ.
“Quan hệ đối tác Trung – Nga vẫn bền vững. Cả hai đều hiểu rằng mối quan hệ này quan trọng đến mức không thể làm tổn hại”, Bobo Lo nhận định với BBC.
Theo Hãng tin Reuters, phát biểu tại Phòng Bầu dục ngày 30-4 giờ địa phương, ông Trump cho biết việc cắt giảm lực lượng tại hai quốc gia Nam Âu này là điều "có thể xảy ra", đồng thời đặt câu hỏi ngược lại rằng tại sao Mỹ không nên làm vậy.
"Ý tôi là họ không thực sự ủng hộ chúng tôi. Có thể tôi sẽ làm vậy. Tại sao lại không? Ý chẳng giúp ích gì, còn Tây Ban Nha thì rất tệ, cực kỳ tệ", ông Trump giải thích.
Tuyên bố trên được đưa ra chỉ một ngày sau khi ông Trump xác nhận chính quyền đang "nghiên cứu và xem xét" khả năng giảm quân số tại Đức - nơi hiện có hơn 36.000 binh sĩ Mỹ đồn trú, chiếm hơn một nửa lực lượng Mỹ tại châu Âu.
Theo số liệu tính đến cuối năm 2025, Mỹ có khoảng 12.662 binh sĩ tại Ý và 3.814 binh sĩ tại Tây Ban Nha.
Động thái trên phản ánh sự bất mãn ngày càng tăng của Washington đối với các đồng minh thuộc Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO), khi nhiều nước không tham gia hoặc không ủng hộ chiến dịch quân sự của Mỹ - Israel nhằm vào Iran, cũng như không hỗ trợ bảo vệ hoạt động vận tải dầu qua eo biển Hormuz.
Không chỉ dừng lại ở lời chỉ trích, chính quyền ông Trump còn được cho là đang cân nhắc các biện pháp cứng rắn hơn.
Một email nội bộ của Lầu Năm Góc do Hãng tin Reuters tiết lộ cho biết Mỹ đã xây dựng các phương án "trừng phạt" những đồng minh bị cho là không hỗ trợ chiến dịch, trong đó có khả năng đình chỉ tư cách thành viên NATO của Tây Ban Nha.
Trước đó, ông Trump cũng từng đe dọa áp đặt lệnh cấm vận thương mại toàn diện đối với Madrid, sau khi nước này từ chối cho phép quân đội Mỹ sử dụng các căn cứ để phục vụ các đợt không kích Iran. Ngoài ra ông còn nhiều lần chỉ trích Tây Ban Nha vì không tăng chi tiêu quốc phòng theo kỳ vọng của Washington.
Quan hệ với Ý cũng xuất hiện rạn nứt. Trong cuộc phỏng vấn đầu tháng 4 với báo Corriere della Sera, ông Trump bất ngờ công kích Thủ tướng Giorgia Meloni, cho rằng bà "thiếu dũng khí" trong vấn đề Iran, dù trước đó hai bên được xem là có quan hệ gần gũi.
Các nước châu Âu nhìn chung đều từ chối tham gia trực tiếp vào xung đột giữa Mỹ với Iran, thay vào đó kêu gọi giải pháp ngoại giao - điều khiến ông Trump thể hiện rõ thái độ không hài lòng.
Tổng thống Trump từng cân nhắc lại vai trò của Mỹ trong NATO, gọi liên minh này là "con hổ giấy".
Trong khi đó, Ý cũng phản ứng trước các chỉ trích từ Washington. Bộ trưởng Quốc phòng Guido Crosetto cho biết Rome "không hiểu lý do" cho các phát biểu của ông Trump, nhấn mạnh dù Ý không sử dụng eo biển Hormuz nhưng vẫn đề xuất tham gia nhiệm vụ bảo vệ vận tải biển - điều mà quân đội Mỹ từng đánh giá cao.
Kể từ khi xung đột Mỹ - Iran bùng phát cuối tháng 2, các công ty vận tải biển đã liên tục kêu gọi tăng cường bảo vệ các tàu thuyền qua eo biển Hormuz, huyết mạch hàng hải vận chuyển khoảng 20% nguồn cung dầu khí toàn cầu.
Tổng thống Mỹ Donald Trump ngày 13/7 tuyên bố Mỹ sẽ cung cấp sự bảo vệ đó, nhưng đổi lại các bên sẽ phải trả cho Washington khoản "phí bồi hoàn" bằng 20% giá trị hàng hóa trên mỗi tàu.
"Từ thời điểm này trở đi, Mỹ sẽ trở thành người bảo vệ eo biển Hormuz", ông nói.
Tuy nhiên, một ngày sau, ông Trump thông báo từ bỏ ý tưởng này. "Dựa trên các cuộc đối thoại rất hiệu quả với giới lãnh đạo Trung Đông, tôi đã quyết định thay thế khoản phí bồi hoàn 20% bằng các thỏa thuận thương mại và đầu tư mà nhiều quốc gia vùng Vịnh sẽ thực hiện với Mỹ", ông cho hay.
Theo giới chuyên gia, đây là điều đã được dự đoán từ trước, bởi ý tưởng thu phí của ông gây nhiều hoài nghi cả về tính hợp pháp lẫn khả năng thực thi. John McCown, nhà nghiên cứu cấp cao tại Trung tâm Chiến lược Hàng hải, cho biết mức phí 20% cao đến mức khó có bên nào sẵn sàng chi trả.
Các chủ hàng thường trả cho hãng vận tải khoảng 2-3% giá trị hàng hóa của họ. Do đó, mức phí cao gấp khoảng 10 lần con số đó có lẽ sẽ vượt quá khả năng chi trả của các chủ hàng, theo McCown, cựu CEO của công ty logistics vận tải biển Trailer Bridge.
Peter Eavis, nhà bình luận của NY Times, cho hay với khoản phí 20% tính trên giá trị hàng hóa, chi phí vận chuyển dầu mỏ qua eo biển Hormuz có thể tăng lên hơn gấp đôi.
Rico Luman, chuyên gia kinh tế cấp cao phụ trách lĩnh vực logistics tại ING Research, cho biết các hãng tàu hiện thu khoảng 10 USD để vận chuyển mỗi thùng dầu từ vịnh Ba Tư sang châu Âu.
Với giá dầu khoảng 80 USD mỗi thùng, nếu áp dụng mức phí 20% như đề xuất của ông Trump, chi phí sẽ tăng thêm khoảng 16 USD để đi qua eo biển Hormuz. Như vậy, tổng chi phí vận chuyển sẽ lên tới khoảng 26 USD mỗi thùng, theo tính toán của ông Luman.
Đối với một tàu chở dầu lớn mang theo 2 triệu thùng dầu, mức phí này có thể làm tăng thêm hơn 30 triệu USD chi phí. Các nhà nhập khẩu dầu nhiều khả năng sẽ chuyển một phần chi phí này sang cho người tiêu dùng gánh chịu, theo Eavis.
Tuy nhiên, các công ty bảo hiểm mới là bên có tiếng nói quyết định cuối cùng, theo Elisabeth Buchwald, nhà bình luận của CNN.
"Họ có thể từ chối bảo hiểm cho các con tàu đi qua eo biển Hormuz nếu nhận thấy rủi ro an ninh quá cao, bất kể chủ tàu có sẵn sàng trả tiền để được Mỹ bảo vệ hay không", Buchwald cho hay.
Eo biển Hormuz là tuyến đường thủy mà tàu thuyền có quyền tự do đi lại theo luật pháp quốc tế. Iran trước đây từng áp dụng các khoản "phí dịch vụ" đối với các tàu thuyền qua eo biển, nhưng các khoản phí đó hiện không còn hiệu lực.
James Kraska, giáo sư luật hàng hải quốc tế tại Đại học Chiến tranh Hải quân Mỹ, cho rằng các khoản phí đó về bản chất là "phí qua đường". Ông cho rằng nếu thực hiện biện pháp thu phí, Tổng thống Trump sẽ phát đi thông điệp rằng "Mỹ sẽ tổ chức các đoàn tàu hộ tống đi qua eo biển. Nếu muốn tham gia, các hãng vận tải sẽ phải trả một khoản phí".
Theo ông Kraska, cách làm này không vi phạm luật pháp quốc tế vì hoàn toàn dựa trên sự tự nguyện. Các hãng vận tải có quyền lựa chọn có trả tiền để được bảo vệ hay không, thay vì buộc phải nộp phí mới được phép đi qua eo biển.
Tuy nhiên, ông cũng lưu ý rằng một biện pháp hợp lệ không có nghĩa là nên áp dụng trên thực tế.
"Lần gần nhất thế giới chứng kiến tình huống tương tự là khi Đan Mạch thu phí tàu nước ngoài đi qua eo biển Oresund từ đầu thế kỷ 15 đến giữa thế kỷ 19. Mức phí khi đó cũng được tính dựa trên giá trị hàng hóa mà tàu khai báo", Bjorn Vang Jensen, cố vấn cấp cao của nền tảng phân tích vận tải biển Xeneta, cho biết.
Song Jensen cho hay điều trớ trêu là "chính Mỹ đã can thiệp để chấm dứt việc thu phí này".
Alexander Ward, nhà bình luận của WSJ, dẫn lời giới phê bình cho hay ý tưởng thu phí 20% của ông Trump nếu được áp dụng sẽ vi phạm chuẩn mực kéo dài hàng thập kỷ qua của Mỹ trong việc ủng hộ thương mại tự do và không bị gián đoạn trên các vùng biển quốc tế.
Nó cũng đi ngược lại các phát biểu của các quan chức cấp cao trong chính quyền Trump, bao gồm Ngoại trưởng Marco Rubio và Đại sứ Mỹ tại Liên Hợp Quốc Mike Waltz, rằng việc thu phí trên các vùng biển chung là vi phạm luật pháp quốc tế.
"Không quốc gia nào được phép thu phí hoặc lệ phí trên một tuyến đường thủy quốc tế. Đó là luật quốc tế hiện hành và cũng là quy định chung tại các tuyến đường thủy quốc tế trên toàn thế giới", ông Rubio từng nói hồi tháng 6.
Ý tưởng này cũng góp phần củng cố lập luận của Iran rằng họ có quyền thu "phí dịch vụ" đối với tàu thuyền đi qua Hormuz, qua đó củng cố quyền kiểm soát của Tehran với eo biển. Đây là điều mà chính ông Trump nhiều lần kịch liệt phản đối.
Sau tuyên bố của ông Trump, Ngoại trưởng Iran Abbas Araghchi đăng bài trên X, cho rằng Tổng thống Mỹ "hoàn toàn đúng" khi nói bất cứ ai đảm bảo an toàn cho tàu thuyền đi qua eo biển "đều nên được bồi hoàn cho dịch vụ này". Ông thêm rằng chính Iran mới là bên sẽ tiếp tục làm người bảo hộ eo biển Hormuz "mãi mãi".
"20% tất nhiên là quá nhiều. Chúng tôi sẽ công bằng", ông nói.
Trong khi đó, ông Trump khẳng định eo biển Hormuz mở cửa với mọi tàu thuyền, ngoại trừ Iran.
"Chúng tôi sẽ áp đặt phong tỏa toàn diện, nhưng chỉ đối với tàu ra vào các cảng ở Iran hoặc chở theo bất kỳ thứ gì liên quan đến hàng hóa Iran", ông cho hay, đồng thời chỉ trích giới lãnh đạo Iran đang dẫn nước này "đến con đường hủy diệt hoàn toàn".
"Chúng tôi kiên quyết theo đuổi công lý hình sự quốc tế và cuộc chiến chống lại sự bất khả trừng phạt. Các cuộc tấn công hoặc đe dọa chống lại các quan chức được tòa án bầu chọn, nhân viên hoặc những người hợp tác với tòa án, là không thể chấp nhận được", phát ngôn viên EU Anouar El Anouni nhấn mạnh.
Ông Anouni đưa ra tuyên bố trên một ngày sau khi Washington đe dọa ICC bằng các biện pháp trừng phạt và những biện pháp khác, cáo buộc tòa án này gây ra "mối đe dọa không thể chấp nhận được đối với chủ quyền của Mỹ".
Chính quyền Tổng thống Mỹ Donald Trump cho hay họ sẽ gây áp lực lên các quốc gia khác để rút khỏi ICC, đánh dấu một sự leo thang mạnh mẽ trong nỗ lực của Mỹ nhằm cô lập ICC và làm suy yếu sự hỗ trợ chính trị và tài chính dành cho tòa án này, theo AFP.
Bộ Ngoại giao Mỹ nhấn mạnh trong một tuyên bố rằng chiến dịch mới sẽ "vô hiệu hóa một cách có hệ thống khả năng hoạt động của ICC trong việc: vận hành, nhắm mục tiêu vào các quân nhân hoặc quan chức Mỹ, hoặc đe dọa chủ quyền của Mỹ bằng bất kỳ cách nào khác".
Trước đây, chính quyền Tổng thống Trump đã nhắm mục tiêu vào những thẩm phán ICC mà họ cho là mối đe dọa đối với lợi ích của Mỹ.
Vào tháng 2.2025, ngay sau khi ông Trump trở lại làm chủ Nhà Trắng, Washington đã áp đặt lệnh đóng băng tài sản và cấm đi lại đối với một số quan chức ICC liên quan đến lệnh bắt giữ Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu về cuộc xung đột ở Dải Gaza.
Mỹ, giống như Israel, chưa phê chuẩn hiệp ước quốc tế thành lập ICC và đã bác bỏ thẩm quyền của tòa án trong các vụ án liên quan đến Mỹ hoặc Israel.
Trong tháng trước, 3 thẩm phán ICC bị chính quyền Tổng thống Trump trừng phạt đã đệ đơn kiện nhà lãnh đạo này và các quan chức cấp cao khác của Mỹ, lập luận những biện pháp áp đặt lên họ là bất hợp pháp, theo AFP.
Được thành lập vào năm 2002, ICC truy tố các cá nhân bị cáo buộc phạm những tội ác nghiêm trọng nhất, trong đó có tội ác chiến tranh, tội ác chống nhân loại và tội diệt chủng.