Tôi đọc được một bài viết trên mạng xã hội, một người chia sẻ cho người khác mượn 4 chỉ vàng ở thời điểm giá 16,5 triệu đồng một chỉ. Người mượn hứa khi giá lên sẽ trả vàng, giá xuống sẽ trả tiền.
Oái ăm là sau vài tháng, giá vàng tuột xuống còn 15,1 triệu đồng một chỉ, “họ đem đến 4 chỉ để trả thì nên nói gì cho hợp lý”.
Tôi thấy rất nhiều người bàn tán và cho rằng: “Có trả là may”. Với kinh nghiệm đau thương của một người từng mượn tiền, nhận tiền mặt nhưng phải trả vàng tương đương vì người cho mượn nói: “Thay vì ra tiệm vàng bán lấy tiền đưa cho, có tiền sẵn đây nên đưa luôn”, tôi có vài ý kiến như sau:
Thứ nhất, thông thường vay thì có lãi, còn mượn thì không. Cho mượn thường là người thân quen giúp đỡ nhau. Nếu số tiền lớn và trong thời gian dài từ một năm trở nên, để bảo toàn tài sản, người cho mượn thường sẽ đưa vàng hoặc quy ra vàng.
Thứ hai, phải tôn trọng thỏa thuận. Nếu lúc mượn đã hứa “giá lên trả vàng, giá xuống trả tiền” thì phải thực hiện. Tôi nghĩ lúc gặp khó khăn, phải đi vay mượn, hỏi 10 người thì chừng hai người sẵn lòng giúp đỡ. Vì thế, đây có thể xem như là một cái ơn nghĩa nên đừng thắc mắc và bội tín, dù giá có lên cỡ nào cũng phải mua để trả lại.
Tin Gốc: Vnexpress

Tôi là thành viên của một nhóm học thuật trên mạng xã hội từ lâu. Thành viên của nhóm là người Việt Nam trên toàn thế giới đã, đang và sẽ có ý định đi theo con đường học thuật.
Đến nay, số thành viên đã hơn trăm nghìn và tôi tin trong đó rất nhiều đã tốt nghiệp tiến sĩ. Đây là tín hiệu tích cực. Phần nhiều trong số đó đang định cư tại nước ngoài và có ý định trở về Việt Nam sinh sống, làm việc.
Cũng nhiều trong số đó đã lập gia đình, có con cái. Trong khuôn khổ bài viết này, tôi đưa ra quan sát cá nhân về nhưng bài viết và bình luận trên nhóm kết hợp với những trường hợp mình quan sát ngoài đời thực.
Việc ở lại làm đúng chuyên ngành, có vị trí ổn định nói chung, đặc biệt trong môi trường học thuật là điều khó vô cùng. Khi một vị trí đưa ra là có tới hàng trăm, hàng nghìn hồ sơ xuất sắc trên thế giới ứng nộp chưa kể xác suất cao là hội đồng đã có ứng viên sáng giá được đề cử trước dựa trên năng lực và mạng lưới quen biết.
Tôi sống ở Đức và làm việc trong ngành Y sinh. Tôi biết không ít người làm xong tiến sĩ nhưng rồi để đi tới đích là một vị trí vĩnh viễn trong ngành học thuật chỉ đếm đầu ngón tay.
Có nhiều người cố gắng làm sau tiến sĩ (Postdoc) đến khi nào hết quy định thì thôi (thường là 12 năm làm nghiên cứu và không tìm được vị trí vĩnh viễn). Lúc này bài toán đặt ra và vô cũng nan giải. Làm gì tiếp theo khi mà con cái đã lớn đều đã hòa nhập tốt vào môi trường bên này? Ở lại thì không có việc phù hợp.
Nhiều người đi làm việc bình thường trong siêu thị, bệnh viện, nhà máy với mức thu nhập tối thiểu theo quy định như những người không được đào tạo. Nếu ai hài lòng thì tốt, cả gia đình tổng hòa sẽ vui vẻ.
Nhưng nếu không chấp nhận, cơn bão ngầm bắt đầu nổi lên khi họ muốn về nước để tìm được công việc phù hợp, được tôn trọng và còn một lý do khác nữa là gần cha mẹ già.
Mọi thứ sẽ thực sự không dễ thở với những ai có gia đình, con cái. Ở bên này, anh em có dịp nói chuyện với nhau đều thống nhất rằng nếu hai vợ chồng đi làm mức lương tối thiểu thì cơ bản sẽ đủ tiêu và dư chút. Hàng năm vẫn đi chơi thoải mái và vài năm về nước một lần.
Ba vấn đề tôi mạn phép chia sẻ ở đây là nhà ở, y tế và môi trường nghiên cứu.
Đầu tiên là nhà ở, nước Đức có tỷ lệ sở hữu nhà riêng là khoảng 50%. Tức là 50% số người như tôi vẫn đang đi thuê mà rất yên tâm. Luật của Đức bảo vệ quyền lợi người thuê bằng quy định.
Chủ cho thuê không đuổi vô tội vạ trừ khi người thuê làm hỏng nhà đến mức tệ hoặc chủ muốn lấy lại nhà để ở hoặc cho con. Giá cho thuê chỉ được tăng vài phần trăm sau vài năm.
Tuy có một số mặt trái nhưng đa phần người thuê sẽ yên tâm khi ở nhà thuê trong khoảng thời gian dài. Nếu mua nhà sở hữu thì sẽ phải tuân thủ quy định về thời gian sau ở bao lâu mới được bán cũng như đóng thuế phần chênh lệch.
Có lẽ đó là hai yếu tố chính khiến thị trường mua và thuê ở đây có sự ổn định, không tăng giảm quá sốc.
Tôi nghĩ nếu cơ quan chức năng vào cuộc và đưa các quy định rõ ràng hơn và ràng buộc pháp lý khi thuê nhà cũng như mua nhà thì đại đa số người dân trong đó có những người muốn trở về sẽ không phải quá trăn trở về chỗ ở, một khoản chi tiêu lớn hàng tháng cho hộ gia đình.
Về y tế, Đức thực hiện chính sách y tế toàn dân. Tức là ai cũng có bảo hiểm và được chữa trị giá hợp lí, không phát sinh nhiều chi phí y tế ngoài bảo hiểm. Đặc biệt Đức chịu chi rất nhiều cho khám sàng lọc ở mọi lứa tuổi.
Họ biết rằng nếu chi cho sàng lọc tốt thì chữa sẽ giảm chi phí nhiều. Bên cạnh việc chi thường xuyên cho nhiều xét nghiệm sàng lọc thường niên, một sáng kiến rất hay đưa ra là một năm một người sẽ được bảo hiểm công chi tới 500 Euro cho sàng lọc phụ thêm như sàng lọc ung thư da, làm sạch răng, tiêm phòng ra nước ngoài...
Chúng ta có thể bắt đầu bằng những gói phụ sàng lọc hỗ trợ từ năm trăm nghìn đến vài triệu đồng một năm tùy đối tượng. Làm được tốt từ khâu khám sàng lọc thì khâu chữa chúng ta sẽ tiết kiệm được chi phí y tế rất nhiều, một cấu thành lớn trong chi tiêu mà những người đang ở bên nước phát triển có nền y tế toàn dân rất quan tâm khi trở về.
Việc xin dự án nghiên cứu ở Đức là tương đối cạnh tranh và minh bạch. Nhà khoa học được dành nhiều thời gian cho nghiên cứu và có thời gian không quá nhiều cho giảng dạy.
Việt Nam vẫn nên duy trì các quỹ nghiên cứu, đó là mạch máu nuôi dưỡng sức sống của người làm khoa học.
Về phía mỗi cá nhân, khi trở về đều nên hiểu và chuẩn bị cho một kịch bản sống mang nhiều khác biệt. Lấy việc ở gần cha mẹ, họ hàng, được nói ngôn ngữ của mình là điểm cộng để tự động viên bản thân cho hành trình trở về.
Ngay cả tại Trung Quốc, một nước đi trước chúng ta nhiều năm, quá trình đi và trở về cũng đang diễn ra và như những đồng nghiệp, hàng xóm tôi biết người Trung Quốc ở bên Đức, việc đi hay ở cũng không thuận lợi với bất kỳ ai.
Quyết định cuối cùng là của mỗi cá nhân và xin chúc mọi người đều vui vẻ với quyết định của mình.
Dương Vũ Huy Hoàng
Nguồn: https://vnexpress.net/con-bao-ngam-cua-nhieu-nguoi-viet-dang-song-o-duc-5059819.html

Ở đó, vỉa hè không chỉ là phần đất thừa bên cạnh con đường. Người đi bộ được che nắng bởi mái hiên liên tục. Các cửa hàng tầng trệt mở ra ngay sát tuyến phố.
Khách bộ hành có thể dừng lại xem sách, uống cà phê hay trú mưa mà không phải bước xuống lòng đường. Điều đáng nói là nhiều mái hiên ấy không hề lấn ra đất công một cách tự phát. Chúng nằm trong chính thiết kế của công trình, tạo nên một dạng vỉa hè tự thân không gian thuộc về căn nhà nhưng phục vụ cả cộng đồng.
Trong khi đó, rất nhiều khu đô thị mới hiện nay lại đang đi theo hướng ngược lại. Nhà dân cố tận dụng từng mét vuông xây sát mép đất, sau đó tiếp tục dựng mái che, biển hiệu, chậu cây, bậc tam cấp để chiếm thêm vỉa hè. Người đi bộ cuối cùng chỉ còn một lối nhỏ len lỏi hoặc phải xuống lòng đường.
Khu dân cư nơi tôi sống từng có vỉa hè rộng tới 4 mét, cứ khoảng 10 mét lại có một cây xanh. Nhiều hộ dân còn chủ động xây lùi vào thêm 2 mét để tạo khoảng đệm phía trước nhà. Có thời điểm, cả tuyến phố sở hữu vỉa hè rộng tới 6 mét một điều rất hiếm ở đô thị Việt Nam.
Nhưng rồi phần "chuẩn" vỉa hè bị giảm còn 2 mét. Một vài căn đầu tiên bắt đầu xây lấn ra. Sau đó cả dãy phố cùng làm theo vì ai cũng sợ mình bị thiệt. Chỉ sau vài năm, vỉa hè rộng rãi biến thành lối đi chật hẹp bị chiếm dụng bởi bảng hiệu, xe máy và vật dụng cá nhân.
Đây là lý do tôi cho rằng Việt Nam nên xây dựng một bộ tiêu chuẩn mới cho nhà phố mặt tiền, đặc biệt ở các tuyến thương mại. Theo đó, các căn nhà có thể được xây tối đa diện tích ở các tầng trên, nhưng tầng trệt bắt buộc phải lùi vào khoảng 4 mét để tạo vỉa hè tự thân cho chính căn nhà đó.
Khoảng không này có thể dùng làm hành lang đi bộ có mái che, nơi để xe cho khách, không gian cây xanh, chỗ nghỉ chân, hoặc khu kinh doanh mở. Đổi lại, chủ nhà được hưởng lợi trực tiếp vì mặt bằng kinh doanh đẹp hơn, khách tiếp cận thuận tiện hơn và giá trị thương mại của căn nhà tăng lên.
Thực tế, các cửa hàng tiện lợi hay siêu thị điện máy đã tự làm điều này từ lâu. Họ hiểu rằng khoảng trống trước cửa hàng không phải "đất bỏ phí", mà là thứ tạo nên doanh thu. Một cửa hàng có chỗ dừng xe, có khoảng lùi thông thoáng luôn hấp dẫn khách hơn một mặt tiền bị bít kín.
Nếu áp dụng đồng bộ, các tuyến phố Việt Nam hoàn toàn có thể phát triển theo mô hình "phố Tràng Tiền hiện đại": tầng trệt lùi vào, mái hiên liên tục, cây xanh đồng bộ, người đi bộ được che nắng mưa, hoạt động kinh doanh diễn ra tự nhiên mà không cần lấn chiếm. Thậm chí, cơ quan chức năng có thể tiến thêm một bước bằng cách chuẩn hóa mái hiên năng lượng mặt trời cho toàn tuyến phố.
Thay vì để mỗi nhà tự dựng mái tôn nhấp nhô, thành phố có thể thiết kế hệ mái đồng bộ vừa che nắng cho người đi bộ vừa phát điện lên lưới. Khi đó, vỉa hè không còn là nơi thường xuyên diễn ra cuộc giằng co giữa người dân và lực lượng trật tự đô thị. Nó trở thành một phần giá trị của chính căn nhà và của cả thành phố.
Tin Gốc: Vnexpress

Hôm nay tôi đọc được bài viết sẽ thí điểm chính sách về 'doanh nghiệp một người' tôi xin chia sẻ khó khăn của người chủ "doanh nghiệp một người" mà bản thân tôi đã trải qua dưới đây:
Cách đây một thời gian, tôi xin được giấy phép đăng ký kinh doanh đi khai báo với cơ quan thuế thì mẫu khai báo với thuế công ty phải có kế toán trưởng, mà tôi lập công ty chỉ có một mình (công ty một người) nên đành phải tuyển thêm một kế toán trưởng, đã có kế toán trưởng thì phải có kế toán viên nên đành phải tuyển thêm một kế toán viên vậy là công ty có ba người (cả tôi).
Vì điều kiện tài chính, hoạt động được ba tháng thì kế toán nghỉ việc và công ty chỉ còn một mình tôi (công ty một người).
Nhưng tôi không biết về kế toán, các tên gọi về chương, khoản, mã kế toán thực sự là ngoài sức của tôi để mình có thể tự kê khai thuế vì vậy "công ty một người" rơi vào bờ vực khủng hoảng không thể hoạt động bình thường.
Tôi đành gác doanh nghiệp một người lại và không quan tâm đến nó nữa. Sau đó, tôi có ý định vực dậy công ty trước kia mà tôi từng mở nhưng đi chạy vạy hỏi han nhiều đơn vị tư vấn luật và kê khai thuế họ đều khuyên nên lập doanh nghiệp mới dễ hơn.
Nếu vực dậy doanh nghiệp cũ sẽ có nguy cơ bị phạt số tiền lớn. 10 năm sau tôi tiếp tục xin giấy phép mở một công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, thời điểm này quy định thuế có mở hơn, khuyến khích doanh nghiệp thuê đơn vị khai báo thuế ngoài.
Do vậy sau khi có giấy phép kinh doanh tôi thuê dịch vụ khai báo kế toán. Do vậy công ty tôi là "doanh nghiệp một người" đúng nghĩa (chỉ có một mình tôi). Tuy nhiên vấn đề phát sinh ở chỗ đơn vị khai báo kế toán của tôi thu tiền trên phần trăm tổng giá trị của từng tờ hóa đơn giao dịch. Cụ thể thu 20% tổng giá trị trên từng tờ hóa đơn.
Cứ nghĩ đến điều này là tôi lại run bần bật, buộc tôi phải nâng giá sản phẩm của công ty nên biên độ lợi nhuận 30% trở nên công ty mới có lãi. Là giám đốc tôi tính biên độ lợi nhuận của công ty là 20% là phổ biến, thậm chí nhiều sản phẩm biên độ lợi nhuận chỉ 5% thôi. Thị trường có phải riêng một mình đâu, cạnh tranh với nhau từng phần trăm lợi nhuận.
Mặt khác mình làm được bao nhiêu thì lợi nhuận đổ vào cho đơn vị dịch vụ kế toán hết. Công ty hoạt động không hiệu quả nên đành gác "doanh nghiệp một người" lại.
Vậy là cả hai lần lập "doanh nghiệp một người" đều không thành công. Giờ tôi nghe tin thí điểm chính sách về "doanh nghiệp một người" tôi nghĩ phải có sự chung tay của cơ quan chức năng và các đơn vị công nghệ thông tin giải quyết sao được bài toán thực tế một cách kỹ lưỡng và cẩn thận nhất, làm sao "doanh nghiệp một người" cạnh tranh được với "doanh nghiệp nhiều người".
Doanh nghiệp một người không phải là không có mà thực tế có rất nhiều nhưng đa phần ngưng hoạt động hoặc chuyển khỏi địa chỉ đăng ký kinh doanh hoặc dỡ biển hiệu, ngưng hoạt động. Do vậy cần lắm có chính sách miễn phạt thuế để tạo điều kiện các doanh nghiệp này quay trở lại hoạt động. Khi đó hàng ngàn doanh nghiệp sẽ tái xuất hoạt động trở lại là tất yếu.
Tôi rất mong cơ quan chức năng và các công ty công nghệ thông tin đọc được bài viết này để tháo gỡ khó khăn cho "doanh nghiệp một người" như tôi.
PP
Nguồn: https://vnexpress.net/khai-thue-ke-toan-doanh-nghiep-mot-nguoi-5060960.html

