Chính phủ vừa ban hành Nghị định 164 quy định chi tiết việc kê khai tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức đơn vị.
Nghị định này gồm 9 chương, 42 điều và sẽ có hiệu lực thi hành từ 1/7.
Theo quy định của Chính phủ, người có nghĩa vụ kê khai hằng năm gồm người giữ chức vụ từ trưởng phòng và tương đương có phụ cấp chức vụ từ 0,25 trở lên công tác tại các cơ quan Nhà nước; trưởng phòng và tương đương trở lên công tác tại doanh nghiệp Nhà nước ở các vị trí việc làm phụ trách trực tiếp công tác: tổ chức cán bộ, quản lý tài chính công, tài sản công, đầu tư công hoặc trực tiếp tiếp xúc và giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân.
Người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp, cũng thuộc đối tượng phải kê khai hằng năm.
Về tài sản, thu nhập phải kê khai, Nghị định 164 nêu rõ “Tài sản, thu nhập phải kê khai là tài sản của người có nghĩa vụ kê khai, vợ (chồng) và con chưa thành niên của người có nghĩa vụ kê khai”.
Những tài sản này bao gồm:
– Quyền sử dụng đất
– Nhà ở, công trình xây dựng
– Tài sản khác gắn liền với đất
– Vàng, kim cương, bạch kim và các kim khí quý, đá quý khác mà mỗi loại có tổng giá trị từ 150 triệu đồng trở lên
– Tiền (tiền Việt Nam, ngoại tệ) gồm tiền mặt, tiền cho vay, tiền trả trước, tiền gửi cá nhân, tổ chức trong nước, tổ chức nước ngoài tại Việt Nam mà tổng giá trị quy đổi từ 150 triệu đồng trở lên
– Cổ phiếu, trái phiếu, vốn góp, các loại giấy tờ có giá khác mà tổng giá trị từ 150 triệu đồng trở lên
– Tài sản số, tài sản khác mà mỗi loại tài sản có giá trị từ 150 triệu đồng trở lên
– Các khoản nợ có giá trị từ 150 triệu đồng trở lên
– Tài sản ở nước ngoài
– Tài khoản ở nước ngoài
– Tổng thu nhập giữa hai lần kê khai
Ngoài ra, Nghị định của Chính phủ cũng quy định việc công khai bản kê khai đối với những người thuộc phạm vi kiểm soát của cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập.
Theo đó, bản kê khai của người giữ chức vụ phó tổng cục trưởng và tương đương trở lên công tác tại các cơ quan Trung ương được niêm yết tại trụ sở bộ, cơ quan ngang bộ hoặc công khai tại cuộc họp bao gồm lãnh đạo từ cấp cục, vụ và tương đương trở lên.
Bản kê khai của người giữ chức vụ từ vụ trưởng và tương đương trở xuống được niêm yết tại đơn vị hoặc công khai tại cuộc họp bao gồm lãnh đạo cấp phòng trở lên trong đơn vị, nơi không tổ chức đơn vị cấp phòng thì tại cuộc họp toàn thể đơn vị.
Bản kê khai của những người khác được niêm yết tại phòng, ban, đơn vị hoặc công khai tại cuộc họp bao gồm toàn thể công chức, viên chức thuộc phòng, ban, đơn vị; nếu biên chế của phòng, ban, đơn vị có từ 50 người trở lên và có tổ, đội, nhóm thì công khai trước toàn thể công chức, viên chức thuộc tổ, đội, nhóm.
Bản kê khai của chủ tịch, phó chủ tịch HĐND và UBND cấp tỉnh được niêm yết tại trụ sở HĐND, UBND hoặc công bố tại cuộc họp bao gồm toàn thể cán bộ, công chức, viên chức thuộc Văn phòng HĐND, UBND.
Bản kê khai của người có nghĩa vụ kê khai thuộc sở, ngành cấp tỉnh, được niêm yết tại trụ sở cơ quan hoặc công khai tại cuộc họp bao gồm toàn thể cán bộ, công chức, viên chức thuộc sở ngành.
Bản kê khai của những người làm việc trong doanh nghiệp Nhà nước được niêm yết tại trụ sở doanh nghiệp Nhà nước hoặc nơi người có nghĩa vụ kê khai thường xuyên công tác hoặc công khai tại cuộc họp gồm ủy viên Hội đồng thành viên, ủy viên Hội đồng quản trị, tổng giám đốc, phó tổng giám đốc, trưởng ban kiểm soát, kiểm soát viên, kế toán trưởng, trưởng các đơn vị trực thuộc tập đoàn, tổng công ty, chủ tịch HĐTV, chủ tịch HĐQT, tổng giám đốc, giám đốc các tổng công ty, công ty trực thuộc tập đoàn, tổng công ty, trưởng các đoàn thể trong tập đoàn, tổng công ty Nhà nước…
Chính phủ quy định bản kê khai được công khai chậm nhất là 5 ngày làm việc kể từ ngày cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý, sử dụng người có nghĩa vụ kê khai bàn giao bản kê khai cho cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập. Thời gian niêm yết bản kê khai là 15 ngày.
Nghị quyết 09 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển TP.HCM trong kỷ nguyên mới vừa được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm ký ban hành đặt ra yêu cầu rất lớn cho TP.HCM sau sáp nhập tiếp tục giữ vai trò đầu tàu kinh tế, tiên phong về mô hình phát triển, thể chế và quản trị đô thị.
Nhưng theo TS Phạm Thái Sơn - giảng viên Trường đại học Việt Đức - thì để hiện thực hóa mục tiêu ấy, điều người dân cảm nhận rõ nhất phải là chất lượng sống.
* Ông nhìn nhận như thế nào về tinh thần cốt lõi mà Nghị quyết 09 đặt ra cho TP.HCM?
- Nghị quyết 09 không chỉ nói về tăng trưởng kinh tế hay vai trò đầu tàu của TP.HCM, mà sâu xa hơn là định hướng xây dựng một đô thị có năng lực cạnh tranh khu vực và sức hút toàn cầu.
Nghị quyết nhấn mạnh TP.HCM phải tiên phong về mô hình phát triển, thể chế và quản trị hiện đại. Nhưng khi đi vào thực tiễn, người dân sẽ không cảm nhận điều đó bằng các khái niệm lớn, mà bằng những trải nghiệm rất cụ thể như đi làm mất bao lâu, có mua nổi nhà không, có không gian công cộng để sử dụng không, môi trường sống có ô nhiễm không.
Đó mới là những chỉ dấu thật sự của một thành phố sống tốt. Nếu TP.HCM muốn giữ được vai trò đầu tàu, muốn cạnh tranh với các đô thị lớn trong khu vực, thì không thể chỉ nói đến đầu tư hay tăng trưởng, mà phải tạo ra chất lượng sống đủ tốt để thu hút và giữ chân người tài, đặc biệt là tầng lớp sáng tạo.
* Vì sao ông đặc biệt nhấn mạnh vai trò của "tầng lớp sáng tạo"?
- Vì đây là lực lượng tạo ra giá trị gia tăng chính cho kinh tế đô thị hiện đại. Trên thế giới, các thành phố cạnh tranh nhau không chỉ bằng ưu đãi đầu tư mà còn bằng môi trường sống, văn hóa, khả năng sáng tạo và mức độ cởi mở. Người có trình độ cao thuộc tầng lớp sáng tạo ngày càng có nhiều lựa chọn nơi sinh sống và làm việc.
Họ sẽ chọn nơi có giao thông thuận tiện, khu ở chất lượng cao, không gian công cộng hấp dẫn, môi trường làm việc cởi mở, cơ hội phát triển nghề nghiệp, hệ sinh thái đổi mới sáng tạo đủ mạnh, đa dạng về văn hóa, di sản và trải nghiệm.
Do đó, nhiệm vụ cụ thể hóa Nghị quyết 09 không thể chỉ dừng ở cải thiện thể chế hay đẩy mạnh đầu tư hạ tầng, mà phải là xây dựng được một hệ sinh thái đô thị sống tốt.
* Theo ông, TP.HCM cần thay đổi gì trong quy hoạch đô thị để hiện thực hóa mục tiêu đó?
- Điều đầu tiên là phải hoàn thiện với chất lượng cao quy hoạch tổng thể thành phố. Quy hoạch cần đóng vai trò nền tảng cho liên kết vùng, phát triển TOD (Transit-Oriented- Development - mô hình phát triển đô thị lấy giao thông công cộng làm trung tâm), tăng trưởng xanh, thích ứng biến đổi khí hậu và phát triển bao trùm về xã hội.
Nhưng vấn đề lớn hiện nay là chúng ta thường tập trung lập quy hoạch mà chưa chú trọng đầy đủ đến quá trình triển khai cũng như cơ chế giám sát và đánh giá triển khai quy hoạch.
TP.HCM nên đi đầu xây dựng một khung giám sát và đánh giá quy hoạch với các chỉ số định lượng và mục tiêu định tính rõ ràng. Đây là thứ hiện nay hệ thống quy hoạch Việt Nam còn thiếu.
Nếu không có công cụ giám sát hiệu quả, quy hoạch rất dễ trở thành câu chuyện trên giấy và tác động của quy hoạch không thể được đánh giá cụ thể, thực chứng, từ đó không thể ra được định hướng điều chỉnh phù hợp khi cần.
Ngoài ra, sau sáp nhập, thành phố cũng cần cơ chế quy hoạch liên phường, liên xã để giải quyết các vấn đề hạ tầng và phát triển liên vùng cấp cơ sở. Đây là điểm rất quan trọng nhưng hiện còn thiếu nền tảng pháp lý rõ ràng.
* Ông cũng đề cập khá mạnh đến vai trò cộng đồng trong quy hoạch đô thị?
- Đúng vậy. Tôi cho rằng TP.HCM cần tạo cơ chế để người dân và cộng đồng tham gia thực chất vào quá trình quy hoạch và phát triển đô thị.
Người dân không thể chỉ là đối tượng bị tác động, mà phải trở thành một bên tham gia xuyên suốt trong các dự án phát triển đô thị, cùng đóng góp, chia sẻ trách nhiệm và lợi ích với Nhà nước và doanh nghiệp, nhất là với các dự án cần huy động nguồn lực đất đai mà họ đang có quyền sử dụng hợp pháp. Điều này giúp tăng tính khả thi khi triển khai quy hoạch.
Bên cạnh đó, TP.HCM cũng nên mạnh dạn thí điểm thuê tư vấn chuyên môn độc lập đánh giá chất lượng hồ sơ quy hoạch, thiết kế không gian và thiết kế công trình, nhất là ở cấp cơ sở. Chính quyền giữ vai trò phê duyệt dựa trên đánh giá chuyên môn, thay vì ôm toàn bộ quy trình như hiện nay.
Bộ Tư pháp đang thẩm định hồ sơ dự thảo Nghị định điều chỉnh lương cơ sở và chế độ tiền thưởng với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang do Bộ Nội vụ xây dựng. Cơ quan soạn thảo đề xuất mức tăng lương cơ sở từ 2,34 lên 2,53 triệu đồng từ ngày 1/7. Lý do mức hiện hành chỉ bằng 56% lương tối thiểu vùng bình quân khu vực doanh nghiệp, hệ thống bảng lương cũng thấp khiến đời sống công chức, viên chức và lực lượng vũ trang còn nhiều khó khăn.
Các nhóm thụ hưởng gồm cán bộ, công chức từ Trung ương đến cấp xã; viên chức đơn vị sự nghiệp công lập; lao động hợp đồng trong cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp công lập; người làm việc trong các hội được ngân sách hỗ trợ; lực lượng vũ trang và người làm việc trong tổ chức cơ yếu; cùng người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố.
Góp ý cho dự thảo, hàng loạt địa phương như Lai Châu, Thanh Hóa, Hà Tĩnh, Quảng Ngãi, Đăk Lăk, Tây Ninh, Vĩnh Long, Cần Thơ, Cà Mau đề xuất cơ quan soạn thảo trình Chính phủ tăng cao hơn mức 2,53 triệu đồng nhằm đảm bảo đời sống công chức, bù đắp trượt giá, giữ chân người tài, đồng thời tiếp tục nghiên cứu cải cách chính sách tiền lương phù hợp vị trí việc làm.
Đại diện Lai Châu cho biết lương cơ sở dự kiến 2,53 triệu đồng mỗi tháng "chỉ bằng khoảng 56,6% mức lương tối thiểu vùng trong khu vực doanh nghiệp năm 2026", chưa đảm bảo đời sống của cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang. Sau sắp xếp bộ máy, khối lượng công việc tại cấp xã phường tăng, yêu cầu nhiệm vụ ngày càng cao. Trong khi thu nhập của cán bộ công chức viên chức còn thấp, giá cả hàng hóa tăng cao, tiền lương chưa đáp ứng nhu cầu chi tiêu thiết yếu của gia đình họ dẫn đến lực lượng này chưa yên tâm công tác, đồng thời không thu hút được người có năng lực, trình độ cao vào khu vực công.
Đại diện Đăk Lăk cũng nhận định mức tăng 8% chưa thực sự tương xứng với tốc độ trượt giá và biến động thị trường, khó đảm bảo mức sống cơ bản cho cán bộ, công chức trong điều kiện chi phí sinh hoạt không ngừng "leo thang". "Đề nghị Bộ Nội vụ xem xét trình Chính phủ điều chỉnh lương cơ sở cao hơn mức 8% hoặc có lộ trình tăng lương phù hợp nhằm tạo động lực và giúp đội ngũ yên tâm công tác", tỉnh này kiến nghị.
Ngoài đề xuất tăng cao hơn mức trên, TP Cần Thơ đề nghị cơ quan soạn thảo khi điều chỉnh mức lương cơ sở cần bám sát tinh thần cải cách tiền lương nhằm từng bước nâng cao đời sống đội ngũ cán bộ công chức; thu hút và giữ chân nhân lực chất lượng cao trong khu vực công bởi còn khoảng cách đáng kể so với ngoài nhà nước.
Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng cho rằng mức điều chỉnh như trên thì tiền lương thấp nhất của cán bộ công chức, viên chức vẫn thấp hơn mức lương tối thiểu vùng bình quân khu vực doanh nghiệp nên chưa đảm bảo tương quan với thị trường lao động. Cơ quan này đề nghị Bộ Nội vụ làm rõ khoảng cách tiền lương giữa khu vực công và khối doanh nghiệp, mức độ đáp ứng nhu cầu sống tối thiểu của cán bộ, công chức, viên chức sau điều chỉnh để có mức tăng phù hợp hơn. Tăng lương cơ sở là cần thiết và phù hợp song cần bổ sung quy định mang tính chuyển tiếp gắn với lộ trình cải cách tiền lương trả theo vị trí việc làm.
Trong khu vực công, lương cơ sở là căn cứ tính lương trong bảng lương, phụ cấp và các chế độ khác theo công thức lương = lương cơ sở x hệ số lương. Đây cũng là cơ sở để tính hoạt động phí, sinh hoạt phí và các khoản trích theo quy định.
Ví dụ, một công chức A3 nhóm 2 bậc 1, hưởng hệ số lương 5,75 thì tiền lương của người này trước khi điều chỉnh của người này là 13,455 triệu đồng; sau điều chỉnh sẽ tăng lên 14,547 triệu đồng. Tiền lương trên chưa bao gồm phụ cấp.
Tại khu vực doanh nghiệp, lương tối thiểu vùng hiện hành vùng 1 là 5,31 triệu đồng với vùng I; 4,73 triệu đồng vùng II; 4,14 triệu đồng vùng III và 3,7 triệu đồng vùng IV. Đây là mức sàn để doanh nghiệp và người lao động thỏa thuận trả lương trong điều kiện làm việc tối thiểu.
Dù cao hơn lương cơ sở khu vực công, song đây là mức thấp nhất để người lao động và chủ sử dụng lao động thỏa thuận, đảm bảo không được trả thấp hơn mức trên. Thu nhập của lao động khu vực này gồm tiền lương tháng, phụ cấp và một số khoản bổ sung theo hiệu suất công việc. Cục Thống kê công bố thu nhập bình quân của lao động làm công hưởng lương trong quý I/2026 là 10 triệu đồng.
Tổ chức Lao động quốc tế ILO tại Việt Nam phân tích giai đoạn 2015-2022, lương tối thiểu danh nghĩa của lao động khu vực doanh nghiệp tăng từ 119 USD lên 168 USD mỗi tháng nhưng giá trị thực tăng chậm do lạm phát. Giai đoạn 2015-2019, lương danh nghĩa tăng 42,7% nhưng thực tế chỉ tăng 20,1%; từ 2020-2022, lương danh nghĩa tăng hơn 6%, song thực tế chỉ tăng 0,7%.
Nhiều năm làm lao động bốc xếp tại cảng cá Trần Đề (xã Trần Đề, thành phố Cần Thơ), anh Thạch Vinh (34 tuổi, ngụ xã Trần Đề) cho biết những chuyến biển trúng đậm là lúc anh em làm không kịp nghỉ tay. Công việc phụ thuộc hoàn toàn vào lịch tàu cập cảng và sản lượng khai thác. Có ngày làm từ sáng sớm đến chiều muộn, nhưng có khi chỉ vài giờ.
Tiền công bốc xếp tính theo sản lượng, bình quân 150.000 đồng/tấn cá. Nhờ đó, anh Vinh có thu nhập khoảng 8 triệu đồng/tháng, riêng mùa cao điểm thì cao hơn. "Cá tôm nhiều thì thu nhập tăng nên anh em làm bốc xếp đều mong mỗi tàu về đầy ắp cá", anh Vinh nói.
Theo Ban Quản lý cảng cá Trần Đề, lực lượng bốc xếp đã được tổ chức thành nghiệp đoàn với hơn 120 người, chia thành 5 tổ hoạt động bài bản. Trước mỗi chuyến tàu cập bến, chủ tàu liên hệ tổ trưởng để điều phối nhân lực, đảm bảo giải phóng hàng nhanh chóng. Vào chính vụ kéo dài khoảng 3 tháng giữa năm, thu nhập của lao động có thể đạt 14 - 15 triệu đồng/tháng.
Không chỉ không khí làm việc ở khu bốc xếp luôn sôi động mà khu vực sửa chữa ngư cụ cũng tấp nập không kém. Hơn nửa đời gắn bó với nghề, ông Bùi Văn Hớn (gần 60 tuổi) cho biết công việc vá lưới, làm cào là nguồn sống chính của nhiều hộ dân địa phương.
"Tiền công làm cào mỗi ngày khoảng 250.000 đồng và được lo cơm trưa. Nhờ có việc đều đều nên gia đình tôi đủ trang trải chi phí và lo cho con cái học hành đến nơi đến chốn", ông Hớn chia sẻ.
Công việc làm cào được phân chia theo từng công đoạn: xỏ khoen, kẹp chì, làm rường phao, đan dây… Theo anh Dương Văn Nghĩa, một thợ lành nghề, để hoàn thiện một tấm lưới cào dài hơn 200 m mất khoảng 10 ngày công, nếu làm mới hoàn toàn thì kéo dài nửa tháng.
Những công đoạn làm cào đòi hỏi kỹ thuật cao. Chẳng hạn, đan dây thừng do thợ giỏi đảm nhận, tiền công khoảng 400.000 đồng/ngày. "Nghề không khó, nhưng phải chịu khó học, làm lâu ngày mới thành thạo", anh Nghĩa nói.
Trong khi đàn ông đảm nhận các công việc nặng thì phần lớn phụ nữ gắn bó với nghề vá lưới. Công việc này đòi hỏi sự tỉ mỉ và kiên nhẫn. Chị Thanh Tuyền (38 tuổi, ngụ xã Trần Đề) cho biết, vá lưới dễ học nhưng muốn vá cho đẹp thì phải tinh mắt, từng mũi khâu phải đều và chặt; phải tìm đúng chỗ rách, xử lý kỹ lưỡng để khi cá dính vào không bị bung lưới.
Không còn là công việc nhỏ lẻ, nghề vá lưới được tổ chức thành các nhóm chuyên nghiệp. Mỗi nhóm hàng chục người, sẵn sàng nhận sửa chữa khi chủ tàu cá có nhu cầu. Thu nhập dao động từ 200.000 đến 450.000 đồng/người/ngày.
Từ bốc xếp, vận chuyển đến sửa chữa ngư cụ… chuỗi dịch vụ hậu cần nghề cá tại cảng cá Trần Đề đang tạo sinh kế bền vững cho hàng ngàn lao động địa phương. Không chỉ góp phần nâng cao thu nhập, ổn định đời sống, những mắt xích thầm lặng này còn giữ vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế biển, giúp ngư dân yên tâm vươn khơi bám biển.