Bốn năm trước bé phẫu thuật u vùng đầu (u sọ hầu) sau đó xạ trị phần u còn sót để ngăn tái phát. Khoảng một năm nay, bé thường đau đầu, chóng mặt, đôi lúc tê yếu tay chân thoáng qua. Gần đây, tình trạng nặng lên, bé co giật, yếu nửa người trái và liệt kéo dài không cử động được.
Ngày 3/4, ThS.BS Nguyễn Ngọc Pi Doanh, Khoa Ngoại Thần kinh, Bệnh viện Nhi đồng 2, cho biết ảnh chụp MRI cho thấy bé bị nhồi máu não, hẹp tắc hai động mạch cảnh trong. Ảnh chụp DSA xác định bé mắc Moyamoya ở cả hai bán cầu, bác sĩ quyết định phẫu thuật để ngăn đột quỵ tái phát.
Moyamoya là bệnh lý mạch máu não gây hẹp tắc dần động mạch cảnh trong và hình thành mạch máu bất thường, dẫn đến thiếu máu não. Triệu chứng thường gặp gồm đau đầu, chóng mặt, co giật, cơn thiếu máu não thoáng qua và nặng nhất là đột quỵ hoặc xuất huyết não.
Nguyên nhân gây bệnh hiện chưa rõ, có thể liên quan bất thường gene (khoảng 10% di truyền) hoặc sau xạ trị, viêm nhiễm như viêm màng não, Covid-19, viêm mạch máu. Đặc điểm đáng lo ngại nhất của căn bệnh này là tình trạng đột quỵ lặp đi lặp lại nhiều lần nếu không được điều trị kịp thời. Qua mỗi lần đột quỵ, não bộ lại chịu thêm tổn thương và ngày càng suy yếu.
Để cứu hệ thần kinh của trẻ, phẫu thuật được xem là phương pháp điều trị tối ưu nhất. Mục tiêu của ca mổ là “bắc cầu” mạch máu, hiểu đơn giản là mượn một mạch máu khỏe mạnh khác nối vào, tạo ra đường đi mới để đưa máu lên nuôi não, bù đắp cho đoạn đường cũ đã bị tắc. Ở trẻ em, kỹ thuật nối gián tiếp thường được ưu tiên do phù hợp với mạch máu nhỏ và cho hiệu quả lâu dài.
Theo bác sĩ, thời điểm phẫu thuật quyết định khả năng hồi phục. Can thiệp sớm khi não chưa tổn thương nhiều giúp tiên lượng tốt hơn; ngược lại, tổn thương nặng sẽ khó phục hồi.
Đến nay, Bệnh viện Nhi đồng 2 đã điều trị hơn 120 trẻ mắc bệnh này với hơn 200 ca phẫu thuật. Phần lớn bệnh nhi hồi phục tốt, một số ít còn di chứng nhẹ do nhập viện muộn.
Bác sĩ Pi Doanh khuyến cáo phụ huynh ngay khi thấy trẻ có các dấu hiệu bất thường như đau đầu kéo dài, chóng mặt, hoặc đột nhiên yếu liệt tay chân thoáng qua, cần đưa trẻ đi khám chuyên khoa thần kinh sớm để không bỏ lỡ “thời gian vàng” điều trị.
Bệnh nhân được đưa đến Bệnh viện Đa khoa U Minh cấp cứu trong tình trạng mệt, chóng mặt, vã mồ hôi, môi tái. Bác sĩ ghi nhận bệnh nhân tụt huyết áp còn 80/60 mmHg, hỗ trợ thở oxy, tiêm adrenalin, truyền dịch và dùng thuốc chống dị ứng. Sau khi qua cơn sốc, bệnh nhi được chuyển đến Bệnh viện Sản - Nhi Cà Mau tiếp tục điều trị.
Ngày 17/6, đại diện Bệnh viện Sản - Nhi Cà Mau cho biết khi nhập viện, bệnh nhi lừ đừ, đau nhức toàn thân, da đỏ, trên cơ thể có khoảng 55 vết ong đốt rải rác, một số vị trí có dấu hiệu hoại tử trung tâm, chẩn đoán phản vệ độ III. Kết quả xét nghiệm bệnh nhân cho thấy bạch cầu tăng cao, chỉ số lactat máu tăng và có rối loạn đông máu, ngoài ra chức năng gan, thận, điện giải và khí máu động mạch chưa ghi nhận bất thường.
Bệnh nhân được truyền dịch kiềm hóa nước tiểu, sử dụng corticoid, kháng histamin và kháng sinh. Sau hơn một ngày điều trị, sức khỏe bệnh nhân cải thiện rõ rệt. Hiện em tỉnh táo, tự thở khí trời, huyết áp ổn định, giảm đau và không còn nôn ói, tiếp tục được theo dõi chức năng gan, thận, nước tiểu.
Ong vò vẽ là loài côn trùng có độc tính mạnh. Nọc của chúng có thể gây suy đa tạng, phản vệ nguy kịch hoặc tử vong nếu bị đốt nhiều nốt. Chúng thường làm tổ kín đáo ở các lùm cây rậm rạp.
Mẹ của hai bé là sản phụ 23 tuổi (ở Nghệ An), mang thai lần đầu sau IVF. Khi thai 25 tuần, người mẹ nhập viện trong tình trạng tụt cổ tử cung, hở chữ Y (hở eo tử cung là tình trạng cổ tử cung suy yếu, mở sớm trong thai kỳ).
Tại BV Phụ sản Hà Nội, các bác sĩ đã chăm sóc để cố gắng giữ thai thêm trong bụng mẹ. Tuy nhiên, sản phụ vẫn sinh sớm, khi thai được 27 tuần 6 ngày tuổi. Hai bé chào đời ngày 12.1.2026, được hồi sức và chuyển lên Khoa Sơ sinh. Ở tuổi thai này, phổi chưa đủ trưởng thành để tự thở. Cả hai bé đều suy hô hấp nặng do bệnh màng trong, phải bơm curosurf (kỹ thuật trong điều trị suy hô hấp ở trẻ sơ sinh, giúp bé phát triển khỏe mạnh); thở máy xâm nhập 9 ngày, sau đó tiếp tục được hỗ trợ hô hấp thêm 32 ngày.
Những ngày đầu đời, hai bé được nuôi bằng từng giọt dịch truyền tĩnh mạch, trong điều kiện y tế rất nghiêm ngặt. Khi các bé được khoảng 34 tuần tuổi, người mẹ mới lần đầu tiên được vào gặp con. Sau hơn 2 tháng điều trị, bé gái có cân nặng 1.800 gram; bé trai 1.750 gram, đủ điều kiện ra viện. Đến nay, gần 3 tháng tuổi, mỗi bé đã có cân nặng khoảng 3 kg.
Theo BV Phụ sản Hà Nội, trẻ sinh đúng tháng là chào đời trong khoảng thai kỳ 39 - 41 tuần. Trẻ sinh non tháng nhẹ cân dễ gặp phải các biến cố nguy hiểm do suy hô hấp, nhiễm trùng.
Trong các video lan truyền, sau khi rút tép tỏi ra khỏi mũi, chất nhầy dường như “tuôn ra” rất nhiều. Điều này được dùng như bằng chứng cho thấy tỏi đã “làm sạch” xoang. Thực tế, hiện tượng này không hề chứng minh hiệu quả, mà còn cho thấy người thực hiện có thể đang hiểu sai về cơ chế hoạt động của mũi, theo Healthline (Mỹ).
Theo tiến sĩ - thạc sĩ điều dưỡng Debra Sullivan, giảng viên cao cấp tại Đại học Walden (Mỹ), một số video hướng dẫn bóc vỏ tỏi, nhét mỗi bên mũi một tép và giữ trong 10 - 20 phút. Khi lấy ra, chất nhầy chảy ra nhiều, khiến người xem tin rằng tỏi đã giúp thông xoang. Nhưng sự thật không đơn giản như vậy.
Niêm mạc mũi có nhiệm vụ tiết chất nhầy để giữ lại vi khuẩn, dị nguyên và bụi bẩn. Khi bị cảm lạnh hoặc dị ứng, cơ thể tăng tiết chất nhầy để tự bảo vệ, gây cảm giác nghẹt mũi.
Khi nhét tỏi vào mũi, bạn đã vô tình chặn đường lưu thông không khí và giữ chất nhầy lại phía sau tép tỏi. Cơ thể coi đó là vật cản, vì vậy, khi rút tỏi ra, lượng chất nhầy bị “dồn ứ” sẽ chảy ra cùng lúc. Nói cách khác, chất nhầy tuôn ra là do cơ thể đang cố gắng đẩy dị vật (tép tỏi) ra ngoài.
Ngoài ra, tỏi chứa các hợp chất như allicin - tạo mùi đặc trưng và có tính kháng khuẩn - nhưng đồng thời cũng gây kích ứng mạnh niêm mạc mũi.
Cơ thể nhận thấy vừa có vật cản, vừa có chất kích thích hóa học, nên càng tăng tiết chất nhầy nhiều hơn. Điều này khiến “hiệu ứng” trong video càng rõ, nhưng đó là phản ứng kích ứng chứ không phải dấu hiệu chữa lành.
Tỏi được biết đến với đặc tính kháng viêm và kháng khuẩn khi ăn vào cơ thể. Tuy nhiên, không có bằng chứng lâm sàng nào cho thấy nhét tỏi vào mũi giúp giảm nghẹt mũi.
Các nghiên cứu về lợi ích của tỏi đều liên quan đến việc ăn, không phải tiếp xúc trực tiếp với niêm mạc mũi. Phương pháp nhét tỏi vào mũi để trị nghẹt mũi cũng không được kiểm chứng về hiệu quả lẫn độ an toàn.
Cách làm này có thể gây ra nhiều rủi ro như:
Thay vì làm theo trào lưu, các phương pháp sau được y khoa khuyến nghị:
Tóm lại, nhét tỏi vào mũi không giúp thông xoang theo cách có lợi về mặt y khoa. Ngược lại, nó gây kích ứng, tăng tiết chất nhầy và tiềm ẩn nguy cơ nhiễm trùng hoặc chấn thương. Khi bị nghẹt mũi, hãy chọn những phương pháp đã được kiểm chứng thay vì chạy theo trào lưu trên mạng.