Một khâu trong quy trình đánh giá luận án tiến sĩ (TS) là phản biện độc lập. Dự thảo quy chế đào tạo sau ĐH đề xuất miễn quy trình này đối với nghiên cứu sinh (NCS) có ít nhất 3 bài báo khoa học là kết quả nghiên cứu liên quan trực tiếp đến nội dung luận án, được công bố trên tạp chí khoa học WoS hoặc Scopus, trong đó có ít nhất 2 bài thuộc nhóm Q1 và là tác giả đứng tên đầu hoặc tác giả liên hệ.
GS-TSKH Hoàng Văn Kiếm, nguyên Chủ tịch Hội đồng chức danh Giáo sư Nhà nước ngành công nghệ thông tin, nhận định đây là một hướng sửa đổi đáng chú ý và có tinh thần hội nhập quốc tế. Đó là quy trình đánh giá luận án TS đã thừa nhận chuẩn công bố quốc tế như một dạng “phản biện học thuật”.
“Về bản chất, bài báo thuộc hệ thống Scopus hay Web of Science, đặc biệt nhóm Q1, đã trải qua phản biện kín bởi các chuyên gia quốc tế. Nếu NCS có 3 bài WoS/Scopus liên quan trực tiếp luận án, trong đó có ít nhất 2 bài Q1, thì thực chất công trình đã được “phản biện độc lập quốc tế” ở mức khá cao. Theo logic này, việc miễn phản biện độc lập trong nước có thể xem là giảm thủ tục hành chính tránh phản biện hình thức khuyến khích công bố chất lượng cao”, GS-TSKH Hoàng Văn Kiếm nhận định.
Theo GS Kiếm, đây là xu hướng gần với một số ĐH nghiên cứu quốc tế, tạo động lực nâng chuẩn nghiên cứu. Quy định này có thể thúc đẩy nghiên cứu thực chất hơn, giảm luận án “đóng kín nội bộ”, tăng áp lực phải công bố quốc tế thật. Trong bối cảnh VN muốn phát triển ĐH nghiên cứu và hội nhập quốc tế, đây là tín hiệu tích cực.
TS Võ Văn Tuấn, Phó hiệu trưởng Trường ĐH Văn Lang (TP.HCM), cũng cho rằng đề xuất miễn phản biện độc lập với NCS có công bố quốc tế là thông điệp rất mạnh, mang tính quốc tế hóa chuẩn TS rất rõ. “Bộ GD-ĐT đang chuyển từ quản lý theo quy trình sang quản lý chất lượng đầu ra nghiên cứu. Nói cách khác, nếu NCS đã chứng minh được năng lực học thuật ở chuẩn quốc tế cao, thì không cần kéo dài thêm các thủ tục hành chính. Điểm này sẽ tạo tác động lớn như thúc đẩy văn hóa công bố quốc tế; tạo áp lực nâng chuẩn nghiên cứu; tăng cạnh tranh học thuật giữa các trường; buộc các chương trình TS phải gắn với nhóm nghiên cứu thật”, TS Tuấn cho hay.
Tuy nhiên, GS-TSKH Hoàng Văn Kiếm cho rằng cần nhìn nhận điểm mới trên ở 2 chiều, khi vấn đề lớn nằm ở chỗ Q1 không đồng nghĩa tuyệt đối với chất lượng luận án.
“Đây là điểm cần rất thận trọng vì có hiện tượng chia nhỏ luận án để công bố. Một luận án có thể có nhiều bài báo nhưng thiếu một đóng góp học thuật lớn và xuyên suốt. Nói cách khác, nhiều bài báo chưa chắc bằng một luận án mạnh. Đặc biệt ở một số lĩnh vực như AI/ML, khoa học máy tính, khoa học dữ liệu, việc xuất bản bài báo khá nhanh và phân mảnh. Bên cạnh đó, sẽ có nguy cơ “săn Q1”. Hiện nay đã xuất hiện tạp chí chất lượng không đồng đều, nhóm nghiên cứu “sản xuất paper”, hiện tượng đồng tác giả hình thức, dịch vụ hỗ trợ xuất bản…”, GS Kiếm nêu thực tế.
Theo ông Kiếm, nếu chỉ dùng số lượng bài Q1 làm tiêu chuẩn miễn phản biện độc lập thì có thể dẫn tới đánh đồng năng lực nghiên cứu với năng lực xuất bản. Đây là điều nhiều nước cũng đang tranh luận.
“Phản biện độc lập không chỉ kiểm tra bài báo mà còn đánh giá tính logic tổng thể, độ sâu học thuật, tính trung thực dữ liệu, mức độ đóng góp cá nhân của NCS và tầm nhìn khoa học. Có những điều bài báo riêng lẻ không phản ánh hết”, ông Kiếm nhận định.
PGS-TS Thái Văn Nam, Viện trưởng Viện Đào tạo sau ĐH, cũng cho rằng ở nhiều lĩnh vực, một bài báo chỉ giải quyết vấn đề nhỏ, không thể hiện được cả một quá trình tiếp cận, giải quyết và phương pháp tư duy của NCS. “Mỗi giai đoạn nghiên cứu có thể cho ra một bài báo Q1, không phản ánh được cả quá trình trong khi luận án thể hiện năng lực của NCS trong một quá trình tổng thể. Bên cạnh đó, Q1 cũng có nhiều loại. Vẫn cần có phản biện độc lập để có đánh giá khách quan, trung thực và sẽ giúp NCS chỉnh sửa, hoàn thiện luận án trước khi bảo vệ hoặc lọc ra đề tài không chất lượng. Nếu NCS đủ giỏi khi xuất bản được các bài báo quốc tế uy tín thì không e ngại phản biện độc lập”, PGS-TS Nam chia sẻ.
PGS-TS Hoàng Văn Kiếm cho rằng nên điều chỉnh theo hướng cân bằng hơn, phương án hợp lý hơn, không nên “miễn hoàn toàn” phản biện độc lập mà nên rút gọn hoặc nâng cấp cơ chế phản biện.
“Vẫn có phản biện độc lập nhưng giảm số lượng phản biện, phản biện nhanh, chọn chuyên gia quốc tế mạnh hơn. Hoặc miễn phản biện kín nội bộ nhưng bắt buộc thảo luận công khai mở rộng, tăng chất lượng hội đồng, kiểm tra đóng góp cá nhân kỹ hơn. Hoặc đánh giá thêm chất lượng công bố, theo đó không chỉ đếm Q1 mà xem chỉ số IF/trích dẫn, chất lượng nội dung liên quan luận án, tỷ lệ đóng góp tác giả. Ví dụ, một bài Q1 mà NCS đứng tên thứ 8/12 không nên được tính tương đương tác giả đầu”, ông Kiếm đề xuất.
Theo PGS-TS Thái Văn Nam, nếu thực hiện miễn phản biện độc lập thì cần phân chia lĩnh vực, ngành học. “Quy định này phù hợp với ngành toán học vì ngành này thường giải quyết các vấn đề hẹp và sâu, luận án TS thường được thể hiện thông qua một bài báo”, PGS-TS Nam nói.
Theo TS Võ Văn Tuấn, quy định miễn phản biện độc lập này cũng sẽ làm lộ rõ sự phân tầng trong giáo dục ĐH VN. Theo đó, NCS tại nhóm trường có năng lực nghiên cứu mạnh sẽ hưởng lợi lớn trong khi nhiều trường khác có thể rất khó đáp ứng.
“Qua điểm mới này, có thể thấy VN đang chuyển từ quản lý đào tạo sang đánh giá năng lực nghiên cứu. Đây mới là thay đổi lớn nhất. Mô hình cũ là học đủ tín chỉ, đủ quy trình, đủ thủ tục; mô hình mới là phải tạo ra tri thức có giá trị quốc tế. Nhưng cũng cần tránh cực đoan biến đào tạo TS thành “cuộc đua KPI bài báo”. TS không chỉ là người xuất bản được bài báo mà phải là người có tư duy khoa học độc lập, có năng lực phát hiện vấn đề, có đạo đức nghiên cứu, và có khả năng dẫn dắt tri thức mới”, GS-TSKH Hoàng Văn Kiếm đánh giá.
Sáng 16-5, Trường TH-THCS-THPT Tân Phú, phường Tân Phú, TP.HCM đã tổ chức lễ trưởng thành và tri ân dành cho học sinh khối 12 năm học 2025-2026.
Tại buổi lễ, những chia sẻ của Trần Ngọc Tuyết Vân, học sinh lớp 12C2, đã khiến nhiều người chú ý: "Tuổi trẻ không phải là khoảng thời gian để đứng yên, mà là thời điểm để bắt đầu hành trình khởi nghiệp cho chính cuộc đời mình. Ước mơ của em là trở thành sinh viên của Học viện Kỹ thuật Quân sự. Đó không chỉ là một lựa chọn nghề nghiệp, mà là con đường em muốn theo đuổi lâu dài".
Vân cho biết: "Em hiểu rất rõ rằng ước mơ này không dễ đạt được. Con đường phía trước sẽ có áp lực, có cạnh tranh, có những lúc mệt mỏi và cả những khoảnh khắc hoài nghi chính mình. Nhưng em cũng hiểu một điều: nếu từ bỏ, em sẽ không bao giờ biết mình có thể đi xa đến đâu.
Vì vậy, em lựa chọn không lùi bước. Em chọn đối diện với khó khăn, học đến cùng, cố gắng đến cùng. Em chấp nhận những ngày mệt mỏi, những lần vấp ngã, để đổi lại cơ hội tiến gần hơn đến mục tiêu. Em không chờ đợi cảm hứng, em tự tạo kỷ luật cho bản thân mỗi ngày".
Vân khẳng định: "Với em, ước mơ không phải để nói cho hay, mà là để theo đuổi đến tận cùng. Dù hành trình có gian nan, em vẫn sẽ đi tiếp. Dù có chậm, em vẫn sẽ không dừng lại".
Được biết, Trần Ngọc Tuyết Vân là gương mặt nổi bật của Trường TH-THCS-THPT Tân Phú không chỉ bởi thành tích học tập ấn tượng mà còn bởi tinh thần học hỏi không ngừng và niềm đam mê nghiên cứu khoa học.
Để chuẩn bị cho việc thực hiện ước mơ, từ lớp 11, Vân đã bắt đầu nghiên cứu khoa học. Năm ấy, đề tài nghiên cứu của Vân đã đoạt giải nhì cuộc thi khoa học - kỹ thuật cấp thành phố (do Sở Giáo dục và Đào tạo TP.HCM tổ chức).
Năm học này, dự án "Nghiên cứu và phát triển xe lăn leo cầu thang tích hợp công nghệ cân bằng tự động và điều khiển đa chế độ" của Tuyết Vân và người bạn cùng trường đã đoạt giải nhất cuộc thi khoa học - kỹ thuật cấp thành phố và đoạt giải ba cuộc thi khoa học - kỹ thuật cấp quốc gia (do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức).
Dù truyền thống gia đình đều theo ngành sư phạm nhưng Vân quyết tâm vào Học viện Kỹ thuật Quân sự vì: "Đó là nơi em có thể kết hợp tri thức khoa học với tinh thần kỷ luật, trách nhiệm của người lính để góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc".
Một số hình ảnh tại lễ trưởng thành và tri ân của Trường TH-THCS-THPT Tân Phú:
Ngày 14/5, Hội đồng nhân dân tỉnh Cà Mau thông qua quy định mức chi hỗ trợ khuyến khích đối với tập thể, cá nhân đạt thành tích cao trong các kỳ thi, cuộc thi, hội thi (gọi chung là kỳ thi) thuộc lĩnh vực giáo dục và đào tạo (GD&ĐT).
Quy định này áp dụng cho các đối tượng là cá nhân, tập thể như: Học sinh, học viên, sinh viên, trẻ em, giáo viên, cán bộ quản lý, nhân viên,… đang học tập, làm việc tại các cơ sở và ngành GD&ĐT ở Cà Mau.
Cụ thể, tỉnh chi hỗ trợ khuyến khích cho học sinh đạt thành tích cao trong các kỳ thi chọn học sinh giỏi và kỳ thi nghiên cứu khoa học, kỹ thuật cấp tỉnh, quốc gia, khu vực quốc tế, quốc tế do Bộ GD&ĐT, Sở GD&ĐT tỉnh Cà Mau tổ chức hoặc cử tham gia.
Mức chi hỗ trợ tính theo mức lương cơ sở như sau:
Đối với cá nhân, tập thể trực tiếp tham gia tập huấn, bồi dưỡng, hướng dẫn đội tuyển học sinh đạt thành tích cao trong các kỳ thi nêu trên được chi hỗ trợ khuyến khích bằng 50% mức chi của học sinh.
Tỉnh cũng chi hỗ trợ khuyến khích cho cá nhân đạt thành tích cao trong các kỳ thi cấp tỉnh do Sở GD&ĐT tỉnh Cà Mau tổ chức theo quy định chuyên môn của ngành GD&ĐT, với mức bằng 70% của kỳ thi cấp tỉnh nêu trên.
Cà Mau cũng quy định mức chi hỗ trợ khuyến khích đối với tập thể đạt thành tích cao toàn đoàn tại các kỳ thi cấp tỉnh do Sở GD&ĐT tỉnh Cà Mau tổ chức.
Cụ thể, huy chương vàng hoặc giải nhất: 3 lần mức lương cơ sở; huy chương bạc hoặc giải nhì: 2,5 lần mức lương cơ sở; huy chương đồng hoặc giải ba: 2 lần mức lương cơ sở; giải tư hoặc khuyến khích: 1,5 lần mức lương cơ sở.
Cà Mau xác định rõ, việc hỗ trợ khuyến khích phải được thực hiện công khai, minh bạch, đúng đối tượng, đúng thành tích nhằm tôn vinh, động viên, khích lệ các tập thể, cá nhân đạt thành tích cao tại các kỳ thi.
Tỉnh không thực hiện hỗ trợ khuyến khích đối với các kỳ thi không được cơ quan có thẩm quyền công nhận; không do Bộ GD&ĐT, Sở GD&ĐT tỉnh Cà Mau tổ chức hoặc cử tham gia theo quy định.
Vậy giáo viên, trường học phải làm gì để giải quyết những sự cố truyền thông, chưa kể phải hỗ trợ rất nhiều tình huống về tâm lý của học sinh?
Hôm nay (18.4), Sở GD-ĐT tỉnh Đồng Nai phối hợp với Trường ĐH Quốc tế Hồng Bàng tổ chức chương trình tập huấn cho gần 500 cán bộ quản lý, giáo viên các trường mầm non, tiểu học, THCS, THPT, cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn tỉnh với chủ đề "Công tác truyền thông trong hoạt động giáo dục và đào tạo, hỗ trợ tâm lý học sinh".
"Thay vì im lặng hay né tránh, lãnh đạo các trường nên sẵn sàng đối thoại, cung cấp thông tin đúng sự thật, minh bạch, kịp thời, nói lời xin lỗi sớm nếu có sai sót... Những điều này có thể giúp trường hóa giải được sự cố và giảm đi những hệ lụy", nhà báo Trọng Phước, Giám đốc Trung tâm Phát triển Nội dung số, kiêm phụ trách Ban Giáo dục Báo Thanh Niên chia sẻ tại buổi tập huấn.
Để tránh thông tin chưa rõ đúng sai có thể lan truyền từ chính giáo viên hay học sinh, theo nhà báo Trọng Phước, nhà trường cần có quy định bằng văn bản về quy chế phát ngôn, bên cạnh đó là quy chế ứng xử trên mạng xã hội cho giáo viên và học sinh. Giúp học sinh và giáo viên nhận thức về trách nhiệm khi sử dụng mạng xã hội.
Có mặt tại buổi tập huấn, cô Cao Thị Xuyến, Phó hiệu trưởng Trường THPT Nam Hà, P.Trấn Biên, tỉnh Đồng Nai, nhận định trong công tác giáo dục, mối quan hệ giữa nhà trường, học sinh và phụ huynh, đặc biệt là giữa giáo viên với phụ huynh và học sinh đôi khi vẫn phát sinh những vấn đề cần nhìn nhận thẳng thắn.
"Tại trường chúng tôi cũng có xảy ra một vài tình huống, chẳng hạn, cách ứng xử hay ngôn từ của thầy cô trong một số tình huống chưa thật sự phù hợp khiến nhiều học sinh có xu hướng chia sẻ bức xúc trong các nhóm kín, hoặc tâm sự với người thân thậm chí là phản ánh với báo chí. Điều đó cho thấy khủng hoảng truyền thông trong môi trường học đường diễn ra rất đa dạng, khó lường", cô Xuyến chia sẻ.
Theo cô Xuyến, không phải lúc nào nhà trường cũng có thể xử lý triệt để ngay từ đầu. Tuy nhiên, khi trường tiếp cận được những thông tin không hay, thì đều tiến hành xác minh để xử lý kịp thời.
Tiến sĩ tâm lý học Trịnh Viết Then, Trưởng Bộ môn Tâm lý học Trường ĐH Quốc tế Hồng Bàng, cho biết, một khảo sát với 400 học sinh tỉnh đồng Nai cho thấy 65,5% gặp lo âu, 50,3% bị stress và 32,8% bị trầm cảm. Trong đó 5,5% học sinh bị trầm cảm ở mức nặng, nguy cơ tăng mạnh ở học sinh lớp 12.
"Những vấn đề tâm lý này đến từ áp lực học tập và thi cử, bị bắt nạt, bạo lực học đường, khủng hoảng bản sắc, rối loạn cảm xúc và lo âu, khó khăn trong các mối quan hệ tình cảm... Chúng ta có thể nhận diện, phát hiện thông qua các biểu hiện của học sinh qua học tập và nhận thức, qua cảm xúc và khí sắc, qua hành vi và tương tác xã hội...", tiến sĩ Then nhìn nhận.
Khi đã phát hiện những vấn đề tâm lý của học sinh, theo tiến sĩ Then, tùy vào từng mức độ mà giáo viên có cách hỗ trợ phù hợp. Ở mức độ 1 (80% học sinh), hỗ trợ tại chỗ (giáo viên chủ nhiệm và gia đình) bằng cách trò chuyện, lắng nghe, điều chỉnh nhẹ nhàng môi trường học tập và phối hợp với phụ huynh để ổn định sinh hoạt.
Mức độ 2 (15% học sinh) cần tham vấn chuyên môn (cán bộ tâm lý học đường), sử dụng các liệu pháp tâm lý như nhận thức - hành vi để giúp học sinh thay đổi tư duy tiêu cực.
Mức độ 3 (5% học sinh) là nặng nhất, cần chuyển tuyến can thiệp (chuyên gia/bác sĩ tâm thần). Lúc này nhà trường hỗ trợ gia đình kết nối với các bệnh viện hoặc trung tâm trị liệu chuyên sâu, tiếp tục theo dõi và tạo điều kiện cho học sinh tái hòa nhập sau điều trị.
Phát biểu tại buổi tập huấn, ông Phạm Hữu Thắng, Phó Giám đốc Sở GD-ĐT Đồng Nai, cũng nhấn mạnh tại thời điểm này, các kỳ thi kết thúc năm học, kỳ thi tuyển sinh 10 và kỳ thi tốt nghiệp THPT đang được chuẩn bị và diễn ra. Do đó, việc tăng cường thêm kỹ năng để cán bộ quản lý, giáo viên nắm vững bản chất, quy trình tư vấn và biết cách phối hợp với gia đình, các chuyên gia, cơ sở y tế khi học sinh gặp rối loạn tâm lý lo âu hoặc căng thẳng quá mức vượt quá khả năng hỗ trợ của nhà trường, là rất cần thiết.