Những ngày cuối tháng 5, đầu tháng 6, nền nhiệt tại các tỉnh miền Bắc và miền Trung liên tục chạm ngưỡng 40 độ C, có nơi vượt qua kỷ lục do hiệu ứng đô thị và gió Lào.
Giữa cái lò lửa hầm hập ấy, hàng triệu học sinh phổ thông lại phải căng mình, vắt kiệt những giọt mồ hôi cuối cùng để chạy đua trong các kỳ thi chuyển cấp và tốt nghiệp THPT.
Nhìn những gương mặt phờ phạc, những chiếc áo ướt đầm đìa của các cháu tôi lại nhớ về mùa thi đại học năm 2000 của thế hệ mình. Hơn một phần tư thế kỷ trôi qua, dù phòng thi nay đã có thêm cây quạt, chiếc điều hòa, nhưng con cái chúng ta vẫn đang phải đối chọi với thiên tai khí hậu bằng một lịch trình xơ cứng từ thế kỷ trước.
Tại sao chúng ta không chủ động điều chỉnh lịch trình giáo dục để bảo vệ sức khỏe của học sinh?
Tôi nghĩ đã đến lúc cần thay đổi tư duy quản lý vĩ mô: “Quản lý đồng bộ không có nghĩa là bắt buộc phải đồng loạt”. Việc áp một cái khuôn duy nhất về thời gian học, thời gian thi và tuyển sinh cho cả 34 tỉnh thành bất chấp sự khác biệt lớn về địa lý và khí hậu đang gây khó khăn cho thí sinh và sức khỏe xã hội.
Vì vậy tôi để xuất một số giải pháp sau:
– Đẩy lịch thi lên sớm để “tránh nắng” cho học sinh
Việt Nam có đặc điểm khí hậu phân hóa rất rõ rệt theo vĩ độ. Giai đoạn tháng 6 – 7 là đỉnh điểm nắng nóng ở phía Bắc và miền Trung, nhưng lại là mùa mưa mát mẻ ở Nam Bộ. Việc bắt tất cả học sinh cả nước phải bước vào phòng thi cùng một ngày là một sự cào bằng cơ học.
Với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin, quản trị số và ngân hàng đề thi chuẩn hóa, rào cản “phải thi chung một ngày” hoàn toàn có thể xóa bỏ. Chúng ta hoàn toàn có thể tổ chức thi tốt nghiệp, thi đánh giá năng lực thành nhiều đợt trong năm trên máy tính như cách các chứng chỉ quốc tế đang làm.
Giải pháp căn cơ nhất hiện nay là mạnh dạn giao quyền tự chủ cho các địa phương tự quyết định khung thời gian phù hợp với thời tiết vùng mình:
– Các tỉnh từ Hà Tĩnh trở ra miền Bắc: Cần đẩy tiến độ năm học lên sớm để kết thúc toàn bộ các kỳ thi học kỳ, thi tuyển sinh lớp 10 và tốt nghiệp THPT trước ngày 15/5.
Việc dịch chuyển này giúp các cháu được làm bài trong thời tiết cuối xuân dịu mát, giải phóng áp lực sinh tồn cho cả học sinh lẫn phụ huynh. Các tỉnh này có thể khai giảng sớm vào cuối tháng 7, nhưng khung năm học sẽ tự động thiết lập một “quỹ dự phòng 4 tuần” để học sinh nghỉ an toàn tại nhà mỗi khi có bão lũ thiên tai mà không sợ trễ chương trình.
– Các tỉnh miền Nam và Cao nguyên Trung Bộ: Thời tiết ít cực đoan, hoàn toàn có thể duy trì việc học xuyên mùa hè (mùa mưa mát mẻ) và kéo dài kỳ nghỉ vào mùa khô nắng nóng đỉnh điểm trước và sau Tết Nguyên Đán.– Đào tạo theo tín chỉ tại sao phải nhập học đồng loạt?
Sự xơ cứng của tư duy “đồng loạt” không chỉ dừng lại ở bậc phổ thông mà còn đang trói buộc cả hệ thống giáo dục đại học. Bản chất của đào tạo đại học hiện nay là theo hệ thống tín chỉ và quản lý chất lượng dựa trên chuẩn đầu ra, nghĩa là thời gian và không gian học tập vốn dĩ rất linh hoạt.
Vậy tại sao trường Đại học ở các vùng kinh tế khác nhau vẫn phải bắt buộc nhập học đồng loạt vào cuối tháng 8 và tốt nghiệp đồng loạt vào tháng 6?
Nghịch lý hiện nay là khi hàng trăm ngàn sinh viên, cùng tốt nghiệp ồ ạt vào tháng 6, thị trường lao động rơi vào trạng thái quá tải cục bộ.
Trong khi hầu hết các doanh nghiệp không có nhu cầu tuyển dụng lớn vào thời điểm giữa năm, dẫn đến việc cử nhân ra trường phải trải qua một giai đoạn “thất nghiệp kỹ thuật”, mòn mỏi chờ đợi việc làm, gây lãng phí nguồn nhân lực chất lượng cao.
Nếu các trường Đại học được trao quyền tự chủ xây dựng chương trình tuyển sinh và đào tạo phù hợp với lịch trình thời tiết và nhịp sống kinh tế của vùng mình, bài toán này sẽ được giải quyết triệt để:
– Các trường Đại học có thể mở nhiều kỳ tuyển sinh và tốt nghiệp trong năm (kỳ mùa thu, kỳ mùa xuân) để tiếp nhận học sinh từ các vùng miền có lịch tốt nghiệp phổ thông khác nhau.
– Các trường được quyền bố trí cho sinh viên tốt nghiệp các ngành nghề có nhu cầu cao tại địa phương trước mùa tuyển dụng của ngành nghề đó khoảng 30 ngày. Sự đồng bộ này sẽ giúp thị trường lao động luôn có nguồn cung tươi mới, doanh nghiệp tuyển được người ngay, và sinh viên ra trường là có việc làm, giảm thiểu tối đa lãng phí của xã hội.
Khi được tinh chỉnh để đồng bộ một cách khoa học, giáo dục và kinh tế địa phương sẽ ăn khớp với nhau giúp thúc đẩy phát triển kinh tế giảm thiểu chi phí và lãng phí.
Quản lý theo kiểu “đồng loạt” là cách làm dễ nhất cho cơ quan quản lý, nhưng lại là cách làm gây hao tổn tài lực, vật lực và sức khỏe nhất của nhân dân. Đã đến lúc phải trả lại cho giáo dục sự linh hoạt vốn có của nó.
Một bài viết gần đây kể về cảnh người mẹ phải ngồi kèm con học đến 11h đêm vì sợ con không theo kịp kỳ thi vào lớp 10 đầy cạnh tranh. Câu chuyện này đang diễn ra trong rất nhiều căn hộ thành phố sau giờ cơm tối. Bàn học của con sáng đèn, tiếng thở dài, tiếng nhắc bài, tiếng cáu gắt.
Có những phụ huynh đã rời ghế nhà trường hai mươi năm, giờ phải học lại toán lớp 6, tiếng Anh lớp 8 để còn biết cách chỉ bài cho con. Ban ngày đi làm, tối về tiếp tục ca hai với vai trò gia sư. Không ít người thú nhận rằng áp lực học của con giờ còn khiến người lớn mệt hơn cả công việc.
Điều đáng nói là dù học thêm bị hạn chế, áp lực học tập không hề biến mất. Nó chỉ chuyển từ lớp học sang phòng khách gia đình. Trong khi đó, một công cụ rất mạnh đã xuất hiện ngay trước mắt nhưng giáo dục Việt Nam vẫn còn dè dặt: AI.
Nhiều người vẫn nghĩ AI là thứ gì đó quá xa vời, dành cho dân công nghệ hoặc lập trình viên. Nhưng thực tế, AI hôm nay có thể làm những việc rất đời thường trong việc học: giải thích lại bài toán theo cách dễ hiểu hơn, tạo bài tập theo đúng trình độ của học sinh, sửa đoạn văn, luyện tiếng Anh hội thoại, hay kiên nhẫn trả lời một câu hỏi đến lần thứ mười mà không cáu gắt.
Điều quan trọng không phải AI giỏi đến đâu, mà là nó giúp giảm gánh nặng cho cha mẹ đến mức nào.
Một người mẹ không giỏi tiếng Anh vẫn có thể nhờ AI giải thích ngữ pháp cho con. Một ông bố quên gần hết kiến thức hình học vẫn có thể yêu cầu AI hướng dẫn từng bước giải bài. Thay vì ngồi tìm kiếm trên Google hàng tiếng đồng hồ rồi cố nhớ lại công thức cũ, phụ huynh có thể tập trung vào việc đồng hành và động viên con học.
Nhiều cuộc xung đột trong nhà không bắt nguồn từ chuyện con học kém, mà từ sự kiệt sức của người lớn. Khi cha mẹ vừa phải kiếm sống vừa phải đóng vai giáo viên, mối quan hệ gia đình rất dễ biến thành một lớp học căng thẳng. Câu chuyện "học tới 11h đêm" thực chất không chỉ là chuyện học hành.
Nó phản ánh một xã hội nơi cả phụ huynh lẫn trẻ em đều đang bị cuốn vào cuộc đua thành tích quá dài. AI không thể thay thế giáo viên. Cũng không thể thay thế sự quan tâm của cha mẹ. Nhưng AI có thể trở thành một "trợ giảng" cá nhân cho mỗi gia đình.
Vấn đề là chúng ta đang nhìn AI như một mối lo, thay vì một công cụ giáo dục. Nhiều trường học vẫn lo học sinh dùng AI để chép bài. Lo lắng đó không sai. Nhưng cấm đoán chưa bao giờ là cách khiến công nghệ biến mất. Điều cần hơn có lẽ là dạy trẻ cách sử dụng AI để hiểu bài, phản biện và tự học, thay vì chỉ tìm đáp án.
Bởi vài năm nữa, khả năng dùng AI để học có thể sẽ trở thành kỹ năng cơ bản giống như từng biết tra cứu Internet hay sử dụng máy tính. Khi ấy, khoảng cách không còn nằm giữa học thêm hay không học thêm, mà nằm giữa những đứa trẻ biết tận dụng công nghệ để học tốt hơn và những đứa trẻ vẫn bị mắc kẹt trong cách học cũ.
Có lẽ sau tất cả những tranh luận về dạy thêm, câu hỏi đáng đặt ra không chỉ là "có nên học thêm hay không". Mà là: Tại sao chúng ta vẫn để hàng triệu phụ huynh tự vật lộn mỗi tối, trong khi công nghệ đã đủ khả năng giúp việc học trở nên nhẹ nhàng hơn rất nhiều?
"Về chuyện này có lẽ tôi hiểu hơn ai hết bởi chính tôi là người cha quá bảo bọc con nên giờ hơn 65 tuổi rồi vẫn nặng gánh với con.
Con gái út 24 tuổi đi làm ở cơ quan cách nhà chừng 8 km nhưng lại thuê nhà gần đó để trọ. Thấy căn phòng lụp xụp lại thiếu thốn vật dụng nên vợ chồng tôi gọi con về nhà, dù hơi xa một chút nhưng sinh hoạt thỏa mái hơn.
Từ ngày con đi làm đến nay chưa hề đóng góp bất kể đồng nào về sinh hoạt phí hay mua sắm vật dụng trong gia đình, sáng ngủ dậy vệ sinh xong là đi làm, tối về đã có cơm nước dọn sẵn mặt dù cơ quan 5h chiều đã đóng cửa.
Hôm bữa con trai lớn của tôi có đề cập đến vấn đề đóng góp sinh hoạt phí và trách nhiệm đối với gia đình, nhưng con gái trả lời rằng: "Tại ba má gọi em về chứ em muốn tự lập, tiền sinh hoạt phí không đủ bù tiền xăng đi đi về về, nếu vậy em ở nhà trọ còn hơn. Tôi nghe mà ngán ngẩm".
Độc giả manhtuann672 bình luận như trên, than thở về việc con gái không chủ động đưa tiền sinh hoạt phí hàng tháng khi ở chung với bố mẹ. Bình luận này được viết sau bài Đi làm rồi vẫn sống chung và không trả tiền nhà tháng 5 triệu đồng cho bố mẹ.
Với câu hỏi khảo sát "Khi ở cùng bố mẹ bạn có góp chi phí sinh hoạt?", 80% độc giả trả lời có. Độc giả nickname annaho1998 cho biết: "Tôi góp 7 triệu đồng mỗi tháng tiền sinh hoạt phí cho bố mẹ. Điều tôi tự hào nhất là lo được cho bố mẹ. Nhà tôi tiền chợ mỗi tháng từ 5 triệu đến 6 triệu đồng, tiền điện từ 500 nghìn đến 700 nghìn đồng, wifi và tiền nước tất cả đều do tôi đóng. Chị tôi có phụ thêm tiền nên dư dả, cuối tháng thì tôi dẫn cả nhà đi ăn, cuối năm thì đi du lịch".
Cùng quan điểm, độc giả nickname Hoa thiên lý chia sẻ: "Con cái phải có ý thức chia sẻ với bố mẹ, và đóng góp phần sinh hoạt của mình. Tôi khi đi học vẫn được cha mẹ lo nhưng từ khi đi làm thì phải gửi cha mẹ tiền, dù cha mẹ có lương hưu. Ban đầu chỉ 2-3 triệu đồng, bây giờ là 5 triệu đồng.
Ngoài ra tôi mua biếu thuốc bổ, mua đồ hỗ trợ như gậy chống, đệm hơi... phụ tiền thuốc men, viện phí khi cha mẹ ốm đau. Độc thân nhưng tháng tôi tiêu tiết kiệm lắm cũng phải hơn 10 triệu đồng, nhưng biết sao được, cha mẹ già còn ở bên mình ngày nào thì phải biết ơn và trân trọng ngày đó".
5 người lớn ngồi trên bàn nhậu về khuya. 3 đứa trẻ chừng 5-7 tuổi ngồi ngay bậc tam cấp của quán và chụm đầu vào điện thoại. Chỉ nhìn qua là thấy ngay các bé đang xem video.
Nhiều người nhìn qua sẽ dễ trách móc ngay rằng sao giờ này chưa cho các bé về nhà, rằng cha mẹ cứ muốn rảnh tay là đưa ngay điện thoại cho con ...
Nhưng đó vẫn là cảnh chúng ta thường thấy ngày qua ngày. Cuộc sống đô thị của gia đình trẻ ở một đô thị như Sài Gòn có rất nhiều vướng bận. Gửi con cho ai khi cần giao tiếp với xã hội? Phải làm sao nếu không đưa điện thoại cho trẻ ?...
Với những tình huống như trên, theo bạn cần giải pháp thế nào?