Chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Phu nhân diễn ra từ ngày 27 đến 29-5, theo lời mời của Thủ tướng Thái Lan Anutin Charnvirakul và Phu nhân.
Thái Lan là quốc gia Đông Nam Á đầu tiên Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đến thăm sau khi Việt Nam kiện toàn bộ máy lãnh đạo Đảng, Nhà nước hồi tháng 4 vừa qua.
Theo Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cường, điều này thể hiện “sự coi trọng cao” của Việt Nam đối với quan hệ với Thái Lan cũng như đối với khu vực Đông Nam Á.
Chuyến thăm diễn ra trong bối cảnh quan hệ giữa Việt Nam với Thái Lan phát triển tốt đẹp, đồng thời đúng vào dịp hai nước kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao.
Tham gia đoàn chính thức, ngoài Tổng Bí thư, Chủ tịch nước còn có 7 Ủy viên Bộ Chính trị khác gồm ông Nguyễn Duy Ngọc, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương; ông Trịnh Văn Quyết, Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương; ông Nguyễn Thanh Nghị, Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương.
Đại tướng Phan Văn Giang, Phó thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; Đại tướng Lương Tam Quang, Bộ trưởng Bộ Công an; ông Lê Hoài Trung, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao và ông Trần Đức Thắng, Bí thư Thành ủy Hà Nội.
Bộ trưởng các bộ: Tài chính, Khoa học và Công nghệ, Công Thương cùng lãnh đạo Văn phòng Trung ương Đảng, Quốc hội, Văn phòng Chủ tịch nước cũng trong thành phần đoàn.
Theo Đại sứ Việt Nam tại Thái Lan Phạm Việt Hùng, dự kiến trong chuyến thăm, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm sẽ có các cuộc hội kiến, hội đàm với các lãnh đạo cao nhất của Thái Lan.
“Các cuộc tiếp xúc này có ý nghĩa hết sức quan trọng với việc tăng cường hiểu biết và tin cậy lẫn nhau giữa lãnh đạo cấp cao hai nước, tạo tiền đề và nền tảng rất vững chắc cho các cơ quan và nhân dân hai nước tiếp tục thúc đẩy hợp tác, giao lưu trong thời gian tới”, Đại sứ Phạm Việt Hùng khẳng định.
Nhân dịp này các doanh nghiệp của Việt Nam và Thái Lan sẽ có nhiều hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc và trao đổi để tìm cơ hội, tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực đầu tư, thương mại cùng nhiều lĩnh vực khác.
Đại sứ Thái Lan tại Việt Nam Urawadee Sriphiromya nhìn nhận chuyến thăm là sự kiện “hết sức đặc biệt và quan trọng”.
Sự trông chờ chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm không chỉ đến từ cấp chính phủ mà còn lan rộng trong người dân và cộng đồng người Thái gốc Việt. “Tất cả chúng tôi đều rất háo hức”, bà nói.
Những kỳ vọng với chuyến thăm, theo Đại sứ Urawadee Sriphiromya, được đặt trên một nền tảng 50 năm, một quan hệ đang ở giai đoạn rất tốt đẹp. “Tôi cho rằng hợp tác song phương giữa hai nước chưa bao giờ gần gũi như hiện nay”, bà chia sẻ.
“Chuyến thăm lần này diễn ra trong bối cảnh tình hình quốc tế đang đối mặt với nhiều thách thức. Việc lãnh đạo hai nước có cơ hội tham vấn, trao đổi về cách thức hỗ trợ lẫn nhau để vượt qua những khó khăn, thách thức nảy sinh từ bối cảnh quốc tế hiện nay là rất đáng trân trọng”, nữ đại sứ chia sẻ.
Một trong những thành quả quan trọng được kỳ vọng từ chuyến thăm là kế hoạch hành động giữa hai nước giai đoạn 2026 – 2031.
Đây sẽ là một chương trình hợp tác được xây dựng bài bản, không chỉ giới hạn ở một hoặc hai lĩnh vực mà “rất toàn diện, bao trùm mọi khía cạnh hợp tác giữa hai nước”, qua đó giúp Việt Nam và Thái Lan tiếp tục hỗ trợ lẫn nhau, cùng hướng tới mục tiêu an ninh, hòa bình và thịnh vượng chung.
Theo Hãng tin Reuters ngày 25-4, phát biểu trong cuộc phỏng vấn với truyền hình nhà nước Nga, Ngoại trưởng Sergei Lavrov cho rằng Washington đang đưa thế giới "trở lại thời kỳ không tồn tại luật pháp quốc tế", nhất là trong cách tiếp cận đối với khu vực Mỹ Latin và Trung Đông.
Theo ông Lavrov, Mỹ đang hành xử như một quốc gia không chấp nhận bất kỳ sự ràng buộc nào từ bên ngoài.
"Mỹ đã tuyên bố không ai có thể áp đặt điều gì lên họ. Họ chỉ quan tâm đến lợi ích của mình và sẵn sàng bảo vệ điều đó bằng mọi cách", ông Lavrov nhấn mạnh, cáo buộc Washington sử dụng các biện pháp như đảo chính, bắt cóc hoặc ám sát lãnh đạo các quốc gia sở hữu tài nguyên mà Mỹ cần.
Ngoại trưởng Nga cho rằng các diễn biến tại Venezuela và Iran là minh chứng cho cách tiếp cận này, khi theo ông, các hành động gần đây của Mỹ đều liên quan trực tiếp đến lợi ích dầu mỏ.
Ông nhấn mạnh Washington đang theo đuổi một "học thuyết thống trị thị trường năng lượng toàn cầu".
Ông Lavrov cũng chỉ trích vai trò của Mỹ tại châu Âu, cho rằng Washington đã "cắt đứt" mối liên kết năng lượng giữa Nga và lục địa này.
Theo đó, Ngoại trưởng Nga đề cập đến việc Mỹ thúc ép các nước châu Âu từ bỏ đường ống khí đốt Nord Stream nối giữa Nga với Đức, ủng hộ các nỗ lực của Liên minh châu Âu (EU) nhằm hạn chế việc Hungary và Slovakia tiếp tục nhập khẩu khí đốt từ Nga.
"Đây không phải là cách tiếp cận trong quan hệ quốc tế, mà là nỗ lực đưa thế giới quay lại thời kỳ thuộc địa", ông Lavrov nhận định, cho rằng chính sách của châu Âu hiện bị chi phối bởi "sự kiêu ngạo và coi thường các nước khác".
Liên quan đến cuộc xung đột tại Ukraine, Ngoại trưởng Nga nói ngay cả trong các nỗ lực tìm kiếm giải pháp hòa bình, Mỹ vẫn nhấn mạnh đến những "cơ hội kinh tế khổng lồ" có thể đạt được.
Theo ông, trong khi các hoạt động ngoại giao diễn ra, Nga vẫn đang bị đẩy ra khỏi các thị trường năng lượng toàn cầu. Ông nhấn mạnh Matxcơva sẵn sàng triển khai các dự án hợp tác cùng có lợi, nhưng yêu cầu lợi ích của Nga cũng phải được tôn trọng.
"Nếu chúng tôi triển khai các dự án cùng có lợi trên lãnh thổ của mình và cung cấp cho phía Mỹ những gì họ quan tâm, thì lợi ích của chúng tôi cũng phải được tôn trọng. Cho đến nay, chúng tôi chưa thấy điều đó", ông Lavrov khẳng định.
"Hiệp ước thành lập của NATO không đưa ra bất kỳ điều khoản nào về đình chỉ tư cách hoặc khai trừ thành viên của khối", một quan chức NATO giấu tên trả lời tạp chí TIME, bình luận về thông tin Mỹ muốn đình chỉ tư cách thành viên của Tây Ban Nha. BBC cũng dẫn thông báo tương tự từ một quan chức NATO.
Tuyên bố được đưa ra sau khi Reuters ngày 24/4 dẫn lời một quan chức Mỹ giấu tên cho biết Lầu Năm Góc đã nghiên cứu các phương án trừng phạt những đồng minh NATO bị coi là "thiếu hợp tác với Washington" trong chiến dịch tấn công Iran.
Email nội bộ của Lầu Năm Góc bày tỏ thất vọng trước việc một số đồng minh từ chối cho Mỹ quyền tiếp cận, sử dụng căn cứ và bay qua không phận, vốn được coi là mức hợp tác tối thiểu trong NATO. Email này liệt kê các phương án đáp trả của Mỹ, trong đó có đề cập đình chỉ tư cách thành viên của những quốc gia "thiếu hợp tác" khỏi NATO, trong đó có Tây Ban Nha.
Tây Ban Nha đã từ chối cho phép Mỹ sử dụng các căn cứ không quân trên lãnh thổ để tiến hành không kích Iran, dù Washington có hai cơ sở quân sự tại nước này.
Bình luận về thông tin trên, Thủ tướng Tây Ban Nha Pedro Sanchez nhấn mạnh Madrid không làm việc dựa trên email mà dựa trên các văn kiện và lập trường chính thức của chính phủ Mỹ.
Ông Sanchez khẳng định Tây Ban Nha là "thành viên đáng tin cậy" của NATO, hợp tác đầy đủ với các đồng minh, nhưng "phải luôn trong khuôn khổ luật pháp quốc tế".
Một số lãnh đạo Liên minh châu Âu (EU) tham dự hội nghị thượng đỉnh của khối tại Cyprus ngày 24/4 cũng lên tiếng bảo vệ Tây Ban Nha.
Thủ tướng Hà Lan Rob Jetten nói ông đã được báo tin "Tổng thống Trump có ý tưởng mới rằng ông ấy có thể cứng rắn với cả những đồng minh của mình, bao gồm Tây Ban Nha".
"Tôi sẽ sát cánh cùng mọi thành viên châu Âu trong liên minh. Tây Ban Nha là một thành viên đầy đủ của NATO và điều đó sẽ không thay đổi", Thủ tướng Jetten nói.
Cùng ngày, một người phát ngôn chính phủ Đức cũng nêu lập trường của Berlin rằng "Tây Ban Nha là thành viên NATO và không có lý do gì để khiến điều đó thay đổi".
Người phát ngôn Lầu Năm Góc Kingsley Wilson không xác nhận chi tiết về email, nhưng nói Bộ Quốc phòng sẽ đảm bảo Tổng thống có "các lựa chọn đáng tin cậy" để buộc đồng minh thực hiện đầy đủ nghĩa vụ. Bà cho rằng dù Mỹ đã "làm rất nhiều cho NATO, các đồng minh lại không sát cánh khi Washington cần".
Căng thẳng trong NATO gia tăng sau khi Mỹ và Israel tấn công Iran hồi cuối tháng 2, khiến Tehran đáp trả bằng cách đóng cửa eo biển Hormuz, làm đảo lộn thị trường năng lượng toàn cầu. Tổng thống Trump nhiều lần chỉ trích các đồng minh NATO không sẵn sàng tham gia sâu hơn vào chiến dịch, coi liên minh là "con đường một chiều" mà Mỹ không được hưởng lợi.
Hải cảnh Trung Quốc (CCG) hôm nay cho biết đã điều phương tiện đối phó với tàu cá Zuiho Maru của Nhật Bản bị cáo buộc "xâm nhập trái phép vùng biển thuộc chủ quyền Trung Quốc" ngoài khơi đảo Xích Vĩ thuộc nhóm đảo Senkaku/Điếu Ngư, tâm điểm tranh chấp giữa Bắc Kinh và Tokyo trên biển Hoa Đông.
Theo phát ngôn viên CCG, các tàu hải cảnh Trung Quốc đã áp dụng "biện pháp kiểm soát cần thiết" để buộc tàu Zuiho Maru rời đi. Nhật Bản gọi đảo Xích Vĩ là Taisho Jima.
CCG yêu cầu phía Nhật Bản "lập tức chấm dứt mọi hành động" mà Trung Quốc cho là "xâm phạm và khiêu khích tại vùng biển liên quan".
Trong khi đó, cảnh sát biển Nhật Bản (JCG) cho biết hai tàu hải cảnh Trung Quốc đã tiếp cận một tàu cá nước này hoạt động trong khu vực. JCG đã "phát lệnh và buộc tàu hải cảnh Trung Quốc rời vùng biển thuộc chủ quyền của Nhật Bản".
JCG sau đó triển khai tàu tuần tra của cảnh sát biển quanh tàu cá nhằm bảo đảm an toàn cho phương tiện cùng ngư dân.
Theo phía Nhật Bản, ban đầu có 4 tàu Trung Quốc hoạt động trong khu vực, hai chiếc trong số đó đã đi vào vùng biển mà Tokyo tuyên bố chủ quyền. JCG cho rằng hoạt động của tàu hải cảnh Trung Quốc đã "vi phạm luật pháp quốc tế".
"Chúng tôi sẽ tiếp tục ứng phó một cách bình tĩnh và kiên quyết theo luật pháp quốc tế và trong nước, đồng thời thực hiện mọi biện pháp cần thiết để bảo đảm an ninh vùng biển thuộc quyền tài phán của đất nước", thông cáo có đoạn.
Senkaku/Điếu Ngư là nhóm đảo không người giữa biển Hoa Đông, hiện do Nhật Bản kiểm soát. Cả Trung Quốc và Nhật Bản đều tuyên bố chủ quyền với nhóm đảo này. Sau khi Nhật Bản quốc hữu hóa Senkaku/Điếu Ngư năm 2012, các tàu công vụ Trung Quốc áp sát nhóm đảo này thường xuyên hơn.
Căng thẳng giữa hai nước xoay quanh chủ quyền đối với nhóm đảo đã diễn ra nhiều năm, trong đó tàu cảnh sát biển Nhật Bản thường xuyên chạm trán tàu hải cảnh và tàu cá Trung Quốc ở khu vực. Hai bên cũng yêu cầu phía còn lại rời khỏi vùng biển tranh chấp.