Việc triển khai lộ trình sử dụng xăng sinh học (E10) không phải là quyết định mang tính áp đặt hay nhằm hạn chế quyền lựa chọn của người dân, mà xuất phát từ yêu cầu phát triển bền vững, bảo đảm an ninh năng lượng, bảo vệ môi trường và thực hiện các cam kết quốc tế của Việt Nam về giảm phát thải khí nhà kính.
TS Đào Duy Anh – Phó cục trưởng Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công, Bộ Công Thương – đã khẳng định như vậy khi trao đổi với Tuổi Trẻ xung quanh những lo lắng, băn khoăn của người dân về lộ trình chuyển đổi, thay thế hoàn toàn xăng sinh học cho xăng khoáng từ ngày 1-6-2026.
Ông Duy Anh nói: Hạ tầng pha chế, phối trộn xăng E5, E10 cũng như chất lượng các loại xăng E5, E10 đều phải tuân thủ nghiêm ngặt theo các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia hiện hành, Bộ Công Thương cùng các bộ, ngành, địa phương sẽ thường xuyên kiểm tra, giám sát việc tuân thủ này.
* Nhiều người dân băn khoăn tại sao không tiếp tục duy trì song song các loại xăng để đa dạng sự lựa chọn, thưa ông?
– Trước đây, chúng ta từng áp dụng song song cả xăng khoáng và xăng sinh học để người dân có thời gian làm quen, thị trường có điều kiện thích nghi, doanh nghiệp từng bước hoàn thiện hạ tầng phân phối, kỹ thuật và nguồn cung.
Tuy nhiên, thực tiễn tại nhiều quốc gia cho thấy nếu duy trì đồng thời quá nhiều chủng loại nhiên liệu trong thời gian dài sẽ phát sinh nhiều bất cập như tăng chi phí logistics, tồn chứa, phân phối; gây khó khăn cho doanh nghiệp bán lẻ, giảm hiệu quả của chính sách chuyển đổi năng lượng xanh.
Đặc biệt, xăng E10 đã được nghiên cứu, thử nghiệm và đánh giá phù hợp với phần lớn phương tiện đang lưu hành hiện nay.
Việc sử dụng xăng E10 không chỉ giúp giảm phát thải ra môi trường mà còn góp phần giảm phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch nhập khẩu, thúc đẩy tiêu thụ nguyên liệu sinh học trong nước, tạo đầu ra cho sản xuất nông nghiệp và nâng cao khả năng tự chủ năng lượng quốc gia.
Chúng tôi cũng muốn nhấn mạnh rằng lộ trình chuyển đổi được xây dựng theo hướng từng bước, có đánh giá tác động kỹ lưỡng, không thực hiện đột ngột. Trong quá trình triển khai, Bộ Công Thương sẽ tiếp tục phối hợp với các bộ, ngành, doanh nghiệp để bảo đảm nguồn cung ổn định, chất lượng nhiên liệu, quyền lợi người tiêu dùng và công tác truyền thông minh bạch để người dân yên tâm sử dụng.
Có thể nói, đây không đơn thuần là việc thay đổi một loại xăng, mà là bước chuyển cần thiết trong quá trình chuyển đổi năng lượng xanh, hướng tới nền kinh tế phát thải thấp và phát triển bền vững của đất nước.
* Dù đã có nhiều đơn vị triển khai xăng E10 nhưng vẫn có nhiều ý kiến lo ngại về chất lượng, tác động của việc sử dụng xăng E10 tới động cơ xe, thưa ông?
– PVOil đã thử nghiệm phân phối xăng E10 tại Hà Nội và Hải Phòng từ đầu tháng 8-2025 và chính thức phân phối xăng E10 trên toàn hệ thống gần 1.000 cửa hàng xăng dầu trên cả nước từ ngày 15-5-2026.
Petrolimex thử nghiệm bán xăng E10 tại một số cửa hàng trên địa bàn TP.HCM, Vũng Tàu và chính thức phân phối trên toàn hệ thống từ ngày 20-5. Có thể nói, các doanh nghiệp lớn đã vào cuộc và các đơn vị còn lại cũng đang chuẩn bị các phương án để tham gia lộ trình.
Thực tế phân phối xăng E5 trên toàn quốc từ tháng 1-2018 và thử nghiệm phân phối xăng E10 từ tháng 8-2025 ở một số địa phương, cũng như áp dụng toàn quốc từ giữa tháng 5-2026 với xăng E10 của hai đơn vị chiếm thị phần lớn nhất là PVOil và Petrolimex, đến nay Bộ Công Thương và các doanh nghiệp này vẫn chưa nhận được khiếu nại chính thức nào về chất lượng xăng E5, E10 hay các tác động tiêu cực đến hiệu suất hoạt động và tuổi thọ của động cơ từ phía người sử dụng xăng.
Các báo cáo thử nghiệm thực hiện trong nước cũng như quốc tế cho thấy, tác động tiêu cực của xăng E10 như tiêu hao nhiên liệu, chi tiết bị ăn mòn… đối với động cơ (nếu có) là rất nhỏ.
* Có ý kiến cho rằng ethanol khi phối trộn với xăng khoáng có thể gây tách nước (tách lớp) nếu hệ thống hạ tầng không đảm bảo, đặc biệt là điều kiện khí hậu nóng ẩm ở Việt Nam?
– Đây là vấn đề kỹ thuật đã được nghiên cứu và nhận diện rõ trên thế giới. Tuy nhiên, hoàn toàn có thể kiểm soát nếu bảo đảm đúng tiêu chuẩn kỹ thuật và điều kiện bảo quản. Về bản chất, ethanol có đặc tính hấp thụ hơi nước.
Nếu nước xâm nhập vượt ngưỡng cho phép vào bồn chứa hoặc hệ thống nhiên liệu, có thể xảy ra hiện tượng tách lớp giữa xăng và hỗn hợp ethanol – nước. Nguy cơ này thường xuất hiện khi bồn bể không kín, tồn dư nước, nhiên liệu lưu kho quá lâu hoặc hệ thống hạ tầng kỹ thuật chưa bảo đảm yêu cầu đối với loại nhiên liệu này.
Tuy nhiên, cần phân biệt giữa ethanol E100 dùng để phối trộn công nghiệp và xăng thương phẩm E5, E10 bán ra thị trường.
Sau phối trộn, hàm lượng ethanol trong xăng ở mức thấp và đã được tiêu chuẩn hóa để sử dụng an toàn cho hầu hết phương tiện hiện nay.
Thực tế, E10 đang được sử dụng phổ biến tại nhiều quốc gia, kể cả các nước có khí hậu nóng ẩm như Brazil, Thái Lan, Philippines hay Ấn Độ.
Đối với Việt Nam, đánh giá rủi ro kỹ thuật chủ yếu có thể xảy ra với hệ thống kho chứa cũ, thiết bị không kín, phương tiện lâu không sử dụng hoặc động cơ đời cũ chưa được bảo dưỡng phù hợp.
Để kiểm soát vấn đề này, chúng ta đang triển khai đồng bộ nhiều giải pháp như: kiểm soát nghiêm chất lượng E100 và xăng E5, E10; nâng cấp hệ thống kho bãi, bồn bể, cột bơm tương thích với ethanol; tăng cường kiểm tra nước trong bồn chứa; đồng thời khuyến cáo người dân bảo dưỡng định kỳ hệ thống nhiên liệu, đặc biệt với phương tiện cũ hoặc ít sử dụng.
Quan điểm của chúng tôi là phát triển nhiên liệu sinh học phải đi cùng bảo đảm an toàn kỹ thuật, chất lượng nhiên liệu và quyền lợi người tiêu dùng. Đây là vấn đề kỹ thuật có thể kiểm soát được bằng tiêu chuẩn, công nghệ và quản lý vận hành phù hợp.
* Thưa ông, trước khi thay thế hoàn toàn xăng khoáng, xăng sinh học đã được Bộ Công Thương sử dụng thử nghiệm với các phương tiện hay chưa, kết quả ra sao và có cần khuyến cáo nào không?
– Trước khi triển khai, chúng tôi cũng đã phân tích, đánh giá các báo cáo và thông tin khảo sát, làm việc với các chuyên gia về động cơ, nhiên liệu của Đại học Bách khoa, Trung tâm nhiên liệu xanh toàn cầu, tham khảo kinh nghiệm thực tế sử dụng xăng sinh học tại các nước đã sử dụng xăng sinh học từ nhiều năm trước như Mỹ, Brazil, châu Âu, Thái Lan, Philippines…
Bộ cũng tổ chức các hội thảo khoa học trong nước và quốc tế với sự tham gia của các chuyên gia hàng đầu trong nước về động cơ, nhiên liệu; các nhà khoa học, các nhà quản lý, chủ doanh nghiệp chuyên sâu về nhiên liệu sinh học, động cơ trên khắp thế giới để thu thập các thông tin, tài liệu cần thiết về xăng sinh học, tác động của xăng đến hiệu suất và tuổi thọ các chi tiết động cơ.
Bộ cũng đã gửi văn bản yêu cầu đánh giá về mức độ đáp ứng của phương tiện đối với xăng E10 đến Hiệp hội các nhà sản xuất ô tô Việt Nam (VAMA), Hiệp hội các nhà sản xuất xe máy Việt Nam (VAMM), Trung tâm Đăng kiểm Việt Nam, các hãng sản xuất, lắp ráp ô tô, xe máy lớn như Toyota, Honda, Hyundai…
Trên cơ sở ủng hộ của tất cả các bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp, hiệp hội ngành nghề có liên quan, các thông tin về tính an toàn của xăng E10 đối với động cơ xe, kinh nghiệm và thực tế sử dụng xăng E10 tại các nước đi trước, Bộ Công Thương đã xây dựng lộ trình áp dụng tỉ lệ phối trộn nhiên liệu sinh học với nhiên liệu truyền thống tại Việt Nam cho giai đoạn mới (lộ trình).
Người sử dụng xăng căn cứ vào đặc điểm kỹ thuật, tuổi đời xe và khuyến cáo của các hãng sản xuất đối với xe của mình lựa chọn nhiên liệu E5 hay E10 cho phù hợp, đồng thời, thực hiện chế độ bảo dưỡng định kỳ theo đúng yêu cầu của phương tiện.
Cục Thống kê vừa công bố Chỉ số giá sinh hoạt theo không gian (SCOLI) của 34 tỉnh, thành phố và 6 vùng kinh tế – xã hội. SCOLI tính bằng %, phản ánh sự chênh lệch giá hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng hằng ngày của người dân giữa địa phương.
Năm 2025, Hà Nội làm mốc so sánh (SCOLI=100) và đây cũng là địa phương dẫn đầu cả nước với mức giá đắt đỏ nhất. Đứng thứ hai và ba là Quảng Ninh và Hải Phòng, ghi nhận SCOLI lần lượt bằng 98,56% và 98,43% so với Hà Nội.
TP HCM đứng thứ tư, với SCOLI năm 2025 bằng 97,96%. Theo Cục Thống kê, đây là trung tâm kinh tế lớn với tốc độ đô thị hóa cao, dân số đông và nhu cầu tiêu dùng đa dạng, góp phần duy trì mặt bằng giá ở mức cao.
Tuy nhiên, nhờ hệ thống phân phối hiện đại, nguồn cung hàng hóa dồi dào và mức độ cạnh tranh cao, mặt bằng giá bình quân tại TP HCM thấp hơn Hà Nội, tiêu biểu như các nhóm hàng thiết bị và đồ dùng gia đình (93,66%); may mặc, mũ nón và giày dép (94,33%); nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng (97,23%).
Đà Nẵng đứng thứ 5 cả nước, với chỉ số SCOLI năm 2025 bằng 97,89%. Thành phố này có lợi thế về vị trí địa lý và hạ tầng giao thông, tạo điều kiện thuận lợi cho lưu thông hàng hóa, chi phí sinh hoạt chưa ở mức cao như Hà Nội.
Chỉ số giá sinh hoạt theo không gian 2025
Thứ hạng
Cao nhất
Thấp nhất
Địa phương
SCOLI
Địa phương
SCOLI
1
Hà Nội
100
Vĩnh Long
91,47
2
Quảng Ninh
98,56
Gia Lai
92,62
3
Hải Phòng
98,43
Cà Mau
92,97
4
TP HCM
97,96
Quảng Trị
92,99
5
Đà Nẵng
97,89
Tây Ninh
93,51
Trong khi đó, top 5 địa phương có chi phí sinh hoạt dễ chịu nhất năm qua là Vĩnh Long, Gia Lai, Cà Mau, Quảng Trị và Tây Ninh. Trong đó, Vĩnh Long có chỉ số SCOLI 2025 thấp nhất cả nước, bằng 91,47% Hà Nội.
Tỉnh này có lợi thế về sản xuất nông nghiệp và thủy sản nên nguồn cung lương thực, thực phẩm dồi dào. Trong khi, hoạt động thương mại và dịch vụ phát triển vừa phải, nhu cầu tiêu dùng không cao, giúp mặt bằng giá ổn định. Đây cũng là điểm chung của các địa phương có mức giá sinh hoạt thấp.
Tính chung 34 tỉnh, thành, Cục Thống kê đánh giá mức giá sinh hoạt chênh lệch không nhiều, nhờ hệ thống phân phối, logistics phát triển. Đặc biệt, thương mại điện tử đã góp phần tăng tính minh bạch, cạnh tranh và rút ngắn khoảng cách giá.
Xét theo vùng, lấy Đồng bằng sông Hồng làm mốc so sánh (SCOLI=100), thì vùng này cũng là khu vực có giá sinh hoạt đắt nhất cả nước. Nguyên nhân được chỉ ra là kinh tế phát triển ổn định, mật độ dân số cao và tốc độ đô thị hóa nhanh.
Cơ cấu tiêu dùng của người dân vùng này tập trung vào tiền thuê nhà, y tế, giáo dục và ăn ngoài. Giá bất động sản tại Hà Nội và các đô thị tăng do quỹ đất hạn chế trong khi nhu cầu lớn, kéo theo chi phí thuê nhà và sinh hoạt tăng. Giáo dục và y tế chất lượng cao cũng nhiều, góp phần làm tăng SCOLI.
Ngoài ra, chi phí đầu vào như giá thuê mặt bằng, chi phí lao động và chi phí dịch vụ tại các đô thị lớn ở mức cao, làm tăng chi phí sản xuất, kinh doanh và cung ứng hàng hóa, dịch vụ, qua đó tác động đến mặt bằng giá tiêu dùng của dân cư.
Đứng thứ hai là vùng Đông Nam Bộ với chỉ số SCOLI đạt 98,88%. Tiếp theo là Trung du và miền núi phía Bắc; Duyên hải miền Trung và Tây Nguyên; Bắc Trung Bộ và thấp nhất là vùng Đồng bằng sông Cửu Long bằng 95,11%. Như vậy, khoảng cách giữa vùng có mức giá cao nhất và thấp nhất ở mức 4,89 điểm phần trăm, phản ánh chênh lệch không lớn, theo Cục Thống kê.
Công ty Lọc hóa dầu Bình Sơn (mã chứng khoán: BSR) đã công bố số liệu kinh doanh quý I với doanh thu ước đạt 41.000 tỷ đồng và lợi nhuận sau thuế đạt 3.347 tỷ đồng - cao gấp 8 lần cùng kỳ. Doanh nghiệp này thậm chí đã vượt kế hoạch lãi sau thuế của cả năm nay (kế hoạch là 2.162 tỷ đồng).
Kết quả đột biến có được trong cuộc khủng hoảng năng lượng do căng thẳng Trung Đông. BSR cho biết đã tận dụng tối đa thời cơ khi giá dầu tăng.
Tổng Công ty Phân bón Dầu khí Cà Mau (Đạm Cà Mau, mã chứng khoán: DCM) cũng ghi nhận 3 tháng đầu tăng trưởng đột biến khi doanh thu đạt 5.370 tỷ đồng và lợi nhuận trước thuế 837 tỷ đồng - tăng đến 84% so với cùng kỳ, cũng là mức cao nhất trong nhiều năm gần đây.
Ở nhóm tài chính, Công ty cổ phần Chứng khoán MB (mã chứng khoán: MBS) công bố doanh thu hoạt động quý đầu năm đạt 1.019 tỷ đồng, tăng hơn 50% so với cùng kỳ, chủ yếu nhờ hai trụ cột là cho vay ký quỹ và môi giới. Lãi từ cho vay và doanh thu môi giới cũng tăng mạnh, song hoạt động tự doanh kém khả quan khiến lợi nhuận trước thuế quý I chỉ tăng 8%, đạt gần 368 tỷ đồng.
Công ty cổ phần Chứng khoán Vietcap (mã chứng khoán: VCI) cũng đã công bố số lợi nhuận dự kiến đạt khoảng 400 tỷ đồng, tăng 13% so với cùng kỳ. Trong khi đó, Chứng khoán TPHCM (mã chứng khoán: HCM) ghi nhận doanh thu 1.264 tỷ đồng và lợi nhuận trước thuế 356 tỷ đồng, cùng tăng 26% trong quý đầu năm (động lực chính tiếp tục đến từ mảng cho vay margin).
Khối các ngân hàng đã có đơn vị đầu tiên hé lộ số lợi nhuận quý I với bức tranh ban đầu tương đối khả quan. Cụ thể, chia sẻ tại kỳ họp cổ đông vừa qua, lãnh đạo Ngân hàng TMCP Á Châu (mã chứng khoán: ACB) cho biết lợi nhuận trước thuế hợp nhất quý I đạt khoảng 5.400 tỷ đồng, tăng 17% so với cùng kỳ và tăng mạnh so với quý trước, hoàn thành khoảng 24% kế hoạch cả năm.
Ngoài ra, còn có Tập đoàn Gelex (GEX) ước đạt doanh thu hợp nhất 10.100 tỷ đồng và lợi nhuận trước thuế hơn 700 tỷ đồng, tăng lần lượt 20% và 10% trong quý I. Tổng Công ty Viglacera (mã chứng khoán: VGC) ước đạt 393 tỷ đồng lợi nhuận - giảm 5% so với cùng kỳ.
Tại dự thảo nghị định hướng dẫn Luật Quản lý thuế gửi Bộ Tư pháp thẩm định, Bộ Tài chính đề xuất bổ sung quy định tạm hoãn xuất cảnh với người nộp thuế không còn hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký.
Theo đó, cá nhân kinh doanh, chủ hộ kinh doanh, người đại diện pháp luật của doanh nghiệp, hợp tác xã không còn hoạt động tại địa chỉ đăng ký, nợ thuế từ 1 triệu đồng trở lên, có thể bị tạm hoãn xuất cảnh nếu sau 30 ngày kể từ khi nhận thông báo vẫn chưa nộp đủ.
Dự thảo giữ nguyên các trường hợp bị tạm hoãn xuất cảnh như hiện hành, gồm cá nhân kinh doanh, chủ hộ kinh doanh nợ từ 50 triệu đồng hoặc đại diện, chủ doanh nghiệp, hợp tác xã nợ từ 500 triệu đồng, quá hạn trên 120 ngày; người xuất cảnh định cư nước ngoài nhưng còn nợ thuế.
Như vậy, điểm mới là ngưỡng tạm hoãn xuất cảnh 1 triệu đồng lần đầu được áp dụng riêng với nhóm nợ thuế và không còn hoạt động tại địa chỉ đăng ký - dấu hiệu vi phạm nghĩa vụ kê khai, quản lý thuế.
Nói với VnExpress, ông Mạc Quốc Anh, Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa TP Hà Nội (Hanoisme), nhìn nhận đề xuất siết quản lý với nhóm nộp thuế không còn hoạt động tại địa chỉ đăng ký là có cơ sở.
Thực tế, người nộp thuế không còn hoạt động tại địa điểm đăng ký kinh doanh có rủi ro cao trong quản lý thuế. Bởi khi họ đã rời khỏi địa chỉ đăng ký, cơ quan thuế khó liên hệ, xác minh, thu hồi nợ. Họ cũng có nguy cơ phát sinh tình trạng "doanh nghiệp ma", sử dụng hóa đơn không hợp pháp hoặc để lại khoản nợ thuế rồi biến mất.
Song ông Mạc Quốc Anh cho rằng mức 1 triệu đồng là "rất thấp" do cấm xuất cảnh còn tác động trực tiếp đến quyền đi lại, hoạt động thương mại, công tác, ký kết hợp đồng, học tập, chữa bệnh, thăm thân của cá nhân. Vì vậy, chính sách phải bảo đảm đúng đối tượng, tương xứng với mức độ vi phạm và có cơ chế bảo vệ người nộp thuế thiện chí.
Ở góc độ khác, Luật sư Nguyễn Thanh Hà, Chủ tịch công ty luật SBLaw, đánh giá đề xuất mới chưa phù hợp với bối cảnh hiện nay. Theo ông, xuất nhập cảnh là quyền cơ bản của công dân được Hiến pháp bảo vệ, việc hạn chế chỉ nên thực hiện với những lý do thực sự đặc biệt, xác đáng.
Trong khi đó, khoảng trống nợ thuế từ 1-50 triệu đồng vẫn là con số nhỏ, không tương xứng với một biện pháp cưỡng chế mạnh tay. Quy định này có thể dẫn đến tâm lý lo lắng và tiêu cực cho cộng đồng kinh doanh, đặc biệt là với những người nợ thuế do sơ suất khi làm thủ tục đóng cửa doanh nghiệp.
"Để ra một quyết định tạm hoãn xuất cảnh cần sự phối hợp liên ngành giữa cơ quan thuế, xuất nhập cảnh và biên phòng. Chi phí để thực thi quy trình này có thể lớn hơn nhiều số tiền nợ thuế thu hồi được", ông Hà nhận định.
Theo Bộ Tài chính, hiện có khoảng 963.500 người nộp thuế (gồm 325.500 doanh nghiệp và 638.000 hộ kinh doanh) không còn hoạt động tại địa chỉ đăng ký nhưng còn nợ thuế. Tổng nợ thuế là 32.130 tỷ đồng, gồm doanh nghiệp 29.815 tỷ đồng, hộ kinh doanh 2.315 tỷ đồng. Trong đó, khoảng 496.200 người nộp thuế nợ dưới 1 triệu đồng (chiếm 51,5%), với tổng số tiền khoảng 66 tỷ đồng.
Đến nay, khoảng 65.000 người nợ thuế không hoạt động tại địa điểm kinh doanh bị tạm hoãn xuất cảnh. Trong đó, hơn 7.100 người đã nộp tiền và được hủy bỏ biện pháp này.
Ông Mạc Quốc Anh cho rằng những con số này cho thấy việc siết nợ thuế với nhóm người nộp không còn hoạt động tại địa điểm đăng ký không chỉ là bài toán thu tiền, mà còn nhằm làm sạch dữ liệu, chuẩn hóa quản lý và nâng năng lực tuân thủ.
Thực tế, nhiều trường hợp hộ kinh doanh nhỏ chuyển địa điểm thuê mặt bằng, chưa cập nhật thông tin, hoặc cá nhân không biết còn khoản nợ nhỏ, lỗi do hệ thống dẫn đến không còn hoạt động kinh doanh tại địa điểm nhưng vẫn "treo" nợ thuế. Bên cạnh đó, thủ tục đóng mã số thuế, giải thể, tạm ngừng, chấm dứt hoạt động còn chưa thật sự đơn giản với khu vực nhỏ và siêu nhỏ, kéo theo nhiều khoản nợ thuế nhỏ, tiền chậm nộp, phạt hành chính có thể kéo dài nhiều năm.
Công tác dữ liệu sau đăng ký kinh doanh cũng chưa thật sự liên thông dẫn tới khi người nộp thuế thay đổi địa chỉ hoặc ngừng hoạt động, cơ quan thuế không có tín hiệu cảnh báo sớm. Đến khi kiểm tra mới phát hiện "không còn hoạt động tại địa chỉ đăng ký", khoản nợ đã thành tồn đọng. Chưa kể, có trường hợp lập doanh nghiệp, phát hành hóa đơn, phát sinh nghĩa vụ thuế rồi bỏ địa chỉ, có người đứng tên hộ, sử dụng doanh nghiệp như một "vỏ pháp lý" để giao dịch ngắn hạn rồi để lại nợ thuế.
Từ đó, ông Quốc Anh cho rằng mức 1 triệu đồng không nên áp dụng như một ngưỡng tuyệt đối. Thay vào đó, chính sách có thể thiết kế theo hướng phân tầng rủi ro. Tức là, với khoản nợ nhỏ từ 1-5 triệu đồng, cơ quan quản lý ưu tiên cảnh báo, nhắc nợ, cập nhật thông tin, cho phép giải trình, nộp ngay qua eTax hoặc VNeID. Trường hợp có dấu hiệu bỏ trốn, lập doanh nghiệp "ma", mua bán hóa đơn, chiếm dụng tiền thuế, nhà điều hành có thể áp dụng ngay cơ chế kiểm soát chặt, không chỉ nhìn vào số tiền.
"Chính sách thuế phải nghiêm, nhưng cũng cần công bằng để không biến một khoản nợ nhỏ, đôi khi do lỗi kỹ thuật hoặc thiếu thông tin, thành rào cản lớn với quyền đi lại, hoạt động kinh doanh chính đáng của người dân", ông nói thêm.
Cùng quan điểm, ông Nguyễn Thanh Hà cho rằng cơ quan thuế cũng gặp khó khăn trong việc thông báo và truy thu nợ thuế đối với chủ hộ kinh doanh hoặc doanh nghiệp "ma", do họ không còn hoạt động tại địa chỉ đăng ký. Nhiều người không có thói quen tra cứu thông tin này nên chỉ biết đến lệnh hoãn xuất cảnh khi ra đến sân bay. Điều này có thể khiến họ tổn thất chi phí vé, lưu trú đã đặt trước.
Theo đó, ông đề xuất quy định có thể áp dụng quy trình cưỡng chế từng bước, tức thông báo nhiều lần và phải chứng minh người nợ thuế đã nhận được thông tin và chây ì, thay vì tạm hoãn xuất cảnh ngay lập tức.