AP vừa công bố khảo sát lương CEO thường niên, thu nhập dữ liệu từ 337 lãnh đạo tại các công ty thuộc chỉ số S&P 500, gồm khoảng 500 công ty niêm yết lớn nhất tại Mỹ. Phạm vi thống kê gồm những CEO điều hành công ty ít nhất hai năm tài chính liên tiếp và doanh nghiệp của họ đã nộp báo cáo ủy quyền giai đoạn từ ngày 1/1 đến 30/4. Sau đây là 10 CEO có mức lương hàng năm cao nhất.
1. Shankh Mitra – CEO Welltower
Mức lương hàng năm: 821,1 triệu USD
So với lương trung bình người lao động: gấp 6.569 lần
Ông Shankh Mitra trở thành CEO Welltower từ năm 2020. Đây là quỹ tín thác đầu tư bất động sản chuyên về nhà ở cho người cao tuổi, trung tâm chăm sóc sức khỏe và bất động sản y tế tại Mỹ, Canada và Anh.
Welltower hưởng lợi lớn từ xu hướng già hóa dân số và nhu cầu chăm sóc dài hạn tăng mạnh sau đại dịch. Gần đây, công ty nổi bật nhờ chiến lược đầu tư mạnh vào viện dưỡng lão cao cấp và bất động sản y tế. Công ty báo cáo doanh thu 10,84 tỷ USD cho năm tài chính 2025, tăng 35,6% so với 2024.
2. Hock Tan – CEO Broadcom
Mức lương hàng năm: 205,3 triệu USD
So với lương trung bình người lao động: gấp 543 lần
Ông Hock Tan giữ vị trí CEO Broadcom từ 2006. Công ty hoạt động trong lĩnh vực chip bán dẫn, hạ tầng mạng và phần mềm doanh nghiệp. Quý đầu của năm tài chính 2026, doanh thu công ty tăng 29% so với cùng kỳ, lên 19,3 tỷ USD, trong khi lãi EBITDA đạt kỷ lục 13,1 tỷ USD.
Tháng trước, Broadcom đạt thỏa thuận phát triển thế hệ tiếp theo của bộ xử lý Tensor (TPU), các chip AI tùy chỉnh cho Google. Theo AP, mức lương của ông Tan gắn liền với doanh thu công ty tăng mạnh nhờ thị trường AI.
3. David Zaslav – CEO Warner Bros. Discovery
Mức lương hàng năm: 165 triệu USD
So với lương trung bình người lao động: gấp 1.378 lần
Ông David Zaslav bắt đầu lãnh đạo Warner Bros. Discovery từ 2022, sau thương vụ sáp nhập WarnerMedia và Discovery. Tập đoàn này hoạt động trong lĩnh vực truyền thông, điện ảnh và phát trực tuyến (streaming), sở hữu HBO, CNN, Warner Bros Pictures và Discovery Channel.
Gần đây, Paramount Skydance đang chuẩn bị đợt phát hành trái phiếu lớn nhất lịch sử để hoàn tất việc mua lại Warner Bros. Discovery, thương vụ được định giá khoảng 110 tỷ USD.
4. David Solomon – CEO Goldman Sachs Group
Mức lương hàng năm: 118,9 triệu USD
So với lương trung bình người lao động: gấp 740 lần
Ông David Solomon làm CEO Goldman Sachs từ năm 2018. Đây là một trong những ngân hàng đầu tư quyền lực nhất Phố Wall, hoạt động trong mảng ngân hàng đầu tư, giao dịch chứng khoán, quản lý tài sản.
Goldman đang đẩy mạnh mảng quản lý tài sản và thu hẹp tham vọng ngân hàng bán lẻ sau các khoản lỗ từ Marcus. Nhà băng ghi nhận doanh thu 2025 đạt 58,28 tỷ USD, tăng 8,92% so với 2024. Quý I/2026, doanh thu thuần đạt 17,23 tỷ USD.
5. Jane Fraser – CEO Citigroup
Mức lương hàng năm: 95,8 triệu USD
So với lương trung bình người lao động: gấp 1.309 lần
Bà Jane Fraser trở thành CEO Citigroup từ năm 2021 và là nữ CEO đầu tiên trong lịch sử một ngân hàng lớn của Phố Wall. Bà cũng sở hữu mức lương cho nữ CEO cao nhất lịch sử khảo sát của AP.
Citigroup hoạt động toàn cầu, trong lĩnh vực tín dụng, đầu tư và quản lý tài sản, đạt doanh thu 85,2 tỷ USD năm 2025. Quý 1/2026, nhà băng báo cáo doanh thu 24,6 tỷ USD, tăng 14% so với cùng kỳ năm trước.
6. Charles Scharf – CEO Wells Fargo & Company
Mức lương hàng năm: 94,5 triệu USD
So với lương trung bình người lao động: gấp 1.152 lần
Ông Charles Scharf tiếp quản CEO Wells Fargo từ 2019, nhằm vực dậy ngân hàng sau hàng loạt bê bối tài khoản giả. Đây là một trong bốn ngân hàng lớn nhất Mỹ, hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng bán lẻ, cho vay và tài chính doanh nghiệp.
Quý I, ngân hàng báo cáo tăng trưởng doanh thu 6%, đạt 21,4 tỷ USD, nhưng việc kiểm soát chi phí vẫn là thử thách lớn trong quá trình phục hồi.
7. Robin Vince – CEO Bank of New York Mellon
Mức lương hàng năm: 83,5 triệu USD
So với lương trung bình người lao động: gấp 1.082 lần
Ông Robin Vince trở thành CEO Bank of New York Mellon từ năm 2022. Đây là một trong những ngân hàng lưu ký và quản lý tài sản lâu đời nhất thế giới, chuyên phục vụ tổ chức tài chính, quỹ đầu tư và khách hàng tổ chức.
Ngân hàng này báo cáo doanh thu kỷ lục 5,41 tỷ USD trong quý đầu 2026, tăng 13,8% so với cùng kỳ 2025. Vào năm tài chính 2025, Bank of New York Mellon đạt doanh thu kỷ lục 20,08 tỷ USD.
So với lương trung bình người lao động: gấp 1.120 lần
Ông Marc Casper giữ vị trí CEO Thermo Fisher từ 2009. Công ty hoạt động trong lĩnh vực công nghệ sinh học, thiết bị phòng thí nghiệm và dịch vụ nghiên cứu khoa học. Thermo Fisher từng tăng trưởng bùng nổ trong đại dịch nhờ xét nghiệm và thiết bị y tế, và hiện tập trung vào dược phẩm sinh học và nghiên cứu gene.
Thermo Fisher công bố doanh thu 11,01 tỷ USD vào quý I, tăng 6% so với cùng kỳ năm ngoái. Trên cơ sở này, công ty nâng dự báo doanh thu cả năm 2026 trong mức 47,3 – 48,1 tỷ USD.
9. Tim Cook – CEO Apple
Mức lương hàng năm: 74,3 triệu USD
So với lương trung bình người lao động: gấp 533 lần
Ông Tim Cook đảm nhận vị trí CEO Apple từ năm 2011, kế nhiệm nhà sáng lập Steve Jobs. Ông dẫn dắt công ty từ vốn hóa xấp xỉ 350 tỷ USD lên 4.570 tỷ USD hiện nay. Hôm 20/4, Apple thông báo Tim Cook sẽ chính thức rời vị trí CEO vào đầu tháng 9, chuyển sang vai trò Chủ tịch điều hành.
“Táo khuyết” công bố doanh thu quý II năm tài chính 2026 (kết thúc vào tháng 3/2026) đạt 111,2 tỷ USD, tăng 17% so với cùng kỳ. Lợi nhuận ròng đạt 29,6 tỷ USD, vượt kỳ vọng của giới phân tích.
10. Gregory Case – CEO Aon
Mức lương hàng năm: 73,7 triệu USD
So với lương trung bình người lao động: gấp 826 lần
Ông Gregory Case làm CEO Aon từ năm 2005, chuyên tư vấn rủi ro, bảo hiểm, tái bảo hiểm và nhân sự doanh nghiệp. Công ty gần đây tập trung mạnh vào tư vấn rủi ro khí hậu, an ninh mạng và dữ liệu doanh nghiệp. Quý đầu năm, tổng doanh thu công ty tăng 6% so với cùng kỳ 2025, lên 5 tỷ USD.
Theo khảo sát của AP, gói thu nhập năm 2025 điển hình gồm lương và thưởng của CEO trong S&P 500 đạt 17,7 triệu USD, tăng gần 6%.
Cuộc chiến ở Iran đã khiến các nhà đầu tư lo ngại giá năng lượng tăng cao làm giảm nhu cầu hàng hóa, dịch vụ, đồng thời Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) sẽ phải nâng lãi suất để kiềm chế lạm phát.
Sau khi xung đột bùng phát, các chỉ số chứng khoán Mỹ như S&P 500 và Dow Jones đã ghi nhận mức giảm theo quý sâu nhất kể từ năm 2022.
Tuy nhiên, những kỳ vọng về việc giảm leo thang xung đột ở Trung Đông đã giúp Phố Wall khởi sắc vào ngày 31-3.
Truyền thông đưa tin Tổng thống Donald Trump đã nói với các trợ lý về việc ông sẵn sàng chấm dứt chiến dịch quân sự tại Iran, ngay cả khi eo biển Hormuz vẫn chưa được mở hoàn toàn.
Kết thúc phiên giao dịch ngày 31-3, cả ba chỉ số chứng khoán chính của Mỹ đồng loạt tăng: S&P 500 tăng 2,91% lên 6.528,52 điểm; Nasdaq tăng 3,83% lên 21.590,63 điểm; Dow Jones tăng 2,49% lên 46.341,51 điểm.
Đây là mức tăng mạnh nhất trong một ngày kể từ tháng 5-2025. Khối lượng giao dịch đạt 22,4 tỉ cổ phiếu, cao hơn mức trung bình 20,3 tỉ trong 20 phiên trước đó.
Các "ông lớn" dẫn dắt đà tăng là Nvidia (5,6%), Alphabet (5,1%) và Meta Platforms (6,7%). Chỉ số chip PHLX tăng hơn 6%.
Dù vậy, tính từ đầu năm 2026, S&P 500 vẫn giảm 4,6%, Nasdaq giảm 7,1% và Dow Jones giảm 3,6%.
Dữ liệu của Chính phủ Mỹ cho thấy số việc làm mới tại nước này giảm mạnh hơn dự kiến trong tháng 2, với hoạt động tuyển dụng xuống mức thấp nhất gần 6 năm.
Theo ông Bill Northey - giám đốc đầu tư cấp cao tại U.S. Bank Wealth Management, thị trường đang phản ánh kỳ vọng về một "lối thoát sớm hơn, hoặc việc chấm dứt các hành động thù địch".
Dù thông tin còn hạn chế, song ông cho rằng thị trường đang tìm kiếm các tín hiệu khả quan về việc nối lại dòng chảy năng lượng qua eo biển Hormuz.
Tổng thống Mỹ Donald Trump ngày 31-3 tuyên bố Mỹ có thể sẽ kết thúc cuộc chiến ở Iran trong 2-3 tuần tới, nhưng trước đó Mỹ cần đảm bảo Iran "bị đưa trở lại thời kỳ đồ đá" và không còn khả năng sớm sở hữu vũ khí hạt nhân.
Hormuz là tuyến vận chuyển huyết mạch với thị trường năng lượng toàn cầu. Quyền tự do hàng hải qua eo biển này trước đây chưa từng bị thách thức nghiêm trọng, cho đến khi Iran gần như phong tỏa tuyến đường biển này, nhằm đáp trả cuộc chiến do Mỹ và Israel phát động ngày 28/2.
Việc Hormuz tê liệt đã gây ra đợt gián đoạn nguồn cung dầu lớn nhất lịch sử, tạo sức ép lên Mỹ trong việc đạt thỏa thuận khi nguy cơ với kinh tế toàn cầu tăng lên từng ngày. Tehran dường như muốn tận dụng đòn bẩy này để củng cố quyền kiểm soát eo biển.
Các lãnh đạo Trung Đông cũng tin rằng Iran trên thực tế đã kiểm soát Hormuz rồi. "Dù chuyện gì xảy ra đi nữa, Iran vẫn sẽ kiểm soát eo biển này trong tương lai gần. Thỏa thuận ghi gì cũng không còn quá quan trọng. Mọi người trong khu vực đều tin như vậy", Amos Hochstein - cựu cố vấn cấp cao về năng lượng và an ninh quốc gia dưới thời cựu Tổng thống Mỹ Joe Biden cho biết trên CNBC.
Lưu lượng tàu chở dầu qua Hormuz trước chiến sự có thể đã là mức đỉnh, Helima Croft - Giám đốc chiến lược hàng hóa toàn cầu tại RBC Capital Markets cho biết. "Bất kỳ kịch bản chấm dứt xung đột nào giúp Iran tiếp tục kiểm soát và gây ảnh hưởng tới hoạt động tại eo biển đều sẽ khiến lưu lượng qua Hormuz giảm đáng kể", Croft viết ngày 28/5.
Các chủ tàu giờ sẽ phải cân nhắc nguy cơ giao tranh bất ngờ bùng phát trở lại tại khu vực Vịnh Ba Tư vốn đã có nhiều bất ổn. Các tàu thương mại phương Tây cũng nhiều khả năng ngần ngại đi qua Hormuz nếu khu vực này vẫn nằm dưới sự kiểm soát của Iran. Điều đó có thể khiến họ đối mặt nguy cơ vi phạm các lệnh trừng phạt của Mỹ.
Richard Meade - Tổng biên tập Lloyd’s List - tuần trước nhận định lưu lượng có thể chỉ hồi phục về khoảng 60-70% so với trước. Các tàu có liên quan đến Trung Quốc sẽ di chuyển tương đối thuận lợi, trong khi tàu phương Tây có thể phải ký các thỏa thuận song phương với Iran để được phép đi qua.
"Kịch bản này không gây suy thoái như những dự báo bi quan chúng ta từng đề cập trước đây, nhưng cũng không cho phép thị trường phục hồi về như cũ", Meade nói. Lloyd’s List là một trong những tạp chí thương mại lâu đời nhất của ngành vận tải biển thế giới.
Cuộc khủng hoảng từng khiến lưu lượng tàu qua Biển Đỏ lao dốc cho thấy bất ổn địa chính trị có thể làm gián đoạn các điểm nghẽn thương mại lâu hơn nhiều so với dự kiến ban đầu. Tháng 11/2023, lực lượng Houthi tại Yemen - đồng minh của Iran - bắt đầu tấn công tàu thương mại nhằm đáp trả việc Israel tấn công Gaza.
Lưu lượng tàu qua eo biển Bab el-Mandeb - tuyến kết nối Biển Đỏ với vịnh Aden - vì thế giảm hơn một nửa, từ 75 tàu ngày 19/11/2023 xuống còn 31 tàu vào ngày 30/1/2024. Đến nay, lưu lượng vẫn chưa trở lại mức trước đây.
"Một trong những bài học lớn nhất từ khủng hoảng Biển Đỏ là bạn không cần một lực lượng hải quân khổng lồ để gây gián đoạn nghiêm trọng tại các điểm nghẽn hàng hải", Tomer Raanan - chuyên gia phân tích rủi ro tại Lloyd’s List - cho biết.
Lực lượng Houthi không còn tấn công tàu ở Biển Đỏ từ cuối năm ngoái, nhưng điều đó vẫn chưa đủ để lưu lượng quay lại mức của năm 2023, Jack Kennedy - Giám đốc phụ trách rủi ro Trung Đông tại S&P Global Market Intelligence cho biết
Hiện chưa rõ tình trạng sụt giảm lưu lượng qua Hormuz có kéo dài như ở Biển Đỏ hay không. Các chủ tàu sẽ phải đánh giá khả năng thỏa thuận Mỹ - Iran đủ bảo đảm an ninh cho tàu thương mại.
Kennedy cho rằng lệnh ngừng bắn có khả năng được duy trì trong ngắn hạn, khi chính quyền ông Trump dường như đang ưu tiên khôi phục khả năng di chuyển qua Hormuz. Dù vậy, kể cả khi Iran đồng ý mở lại Hormuz mà không kèm điều kiện đi lại, lưu lượng tàu cũng có thể mất nhiều thời gian để quay về mức bình thường. Ví dụ, có tàu sẽ vẫn lo ngại về khả năng khu vực này còn mìn trên biển.
Kennedy cũng cảnh báo nguy cơ chiến sự tái diễn trong năm tới là rất lớn nếu không có giải pháp lâu dài cho chương trình hạt nhân và tên lửa đạn đạo của Iran. Ông cho rằng đây chính là những vấn đề cốt lõi dẫn tới chiến sự. Các chủ tàu còn phải cân nhắc liệu có sẵn sàng chấp nhận rủi ro để tàu và tài sản bị mắc kẹt nhiều tháng ở Hormuz nếu chiến tranh bùng phát trở lại hay không.
Tuy nhiên, Raanan và Kennedy cùng cho rằng Biển Đỏ vẫn khác Hormuz ở nhiều điểm quan trọng. Tàu qua Biển Đỏ có thể tránh rủi ro bằng cách đi vòng qua Mũi Hảo Vọng ở Nam Phi. Trong khi đó, Hormuz thực sự là điểm nghẽn không có tuyến thay thế tương đương.
Hormuz cũng quan trọng hơn nhiều với thị trường năng lượng toàn cầu so với Biển Đỏ. Trước chiến tranh, khoảng 20% nguồn cung dầu và khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) toàn cầu đi qua eo biển này.
Saudi Arabia và Các Tiểu vương quốc Arab Thống nhất (UAE) đang sử dụng hệ thống đường ống để chuyển hướng hàng triệu thùng dầu mỗi ngày từ Vịnh Ba Tư sang các cảng xuất khẩu ở Biển Đỏ và vịnh Oman. Các tuyến này giúp giảm bớt gián đoạn nguồn cung, nhưng chưa thể thay thế hoàn toàn Hormuz.
"Có thể đưa một phần hàng hóa ra ngoài bằng đường ống, nhưng không phải sản phẩm nào cũng chuyển được qua đường ống", Raanan nói. Ví dụ, giá trị của LNG nằm ở việc có thể được bơm lên tàu và vận chuyển đi khắp thế giới qua đường biển.
Hormuz cũng rất quan trọng với phân bón và nhiều loại hàng hóa khác. Khi thiếu lựa chọn thay thế, các hãng vận tải có thể phải chấp nhận và thích nghi với điều kiện mới tại Hormuz.
Dù vậy, các nước xuất khẩu tại Trung Đông vẫn đang tìm thêm phương án thay thế. UAE đang đẩy nhanh xây dựng tuyến đường ống thứ hai đi vòng qua Hormuz, dự kiến vận hành năm 2027.
Bộ trưởng Năng lượng Mỹ Chris Wright cho rằng tầm quan trọng của Hormuz với thị trường năng lượng toàn cầu sẽ giảm sau chiến sự, khi các quốc gia vùng Vịnh xây thêm đường ống để tránh phụ thuộc vào tuyến này.
"Lá bài này chỉ có thể dùng một lần. Sẽ có thêm các tuyến khác để đưa năng lượng ra khỏi Vịnh Ba Tư", Wright nhận xét về việc Iran phong tỏa Hormuz, "Tầm quan trọng của eo biển Hormuz giảm dần, nhưng nó không đồng nghĩa vai trò sản xuất và cung ứng năng lượng của các quốc gia này giảm đi".
Liên Bộ Công Thương - Tài chính cho biết thị trường xăng dầu thế giới những ngày qua vẫn chịu tác động từ thông tin cuộc đàm phán giữa Mỹ và Iran, xung đột quân sự giữa Nga với Ukraine.
Các yếu tố này khiến giá xăng dầu thế giới có xu hướng giảm so với 7 ngày trước. Cụ thể, mỗi thùng RON 92 dùng để pha chế E5 RON 92 hạ 7,5% xuống 116,8 USD, dầu diesel giảm 3,3% còn 141,9 USD. Mazut cũng sụt 2,3%, xuống 640 USD một tấn.
Từ 1/6, toàn bộ xăng khoáng RON 95-III được phối trộn với 10% ethanol để thành xăng E10 trước khi bán ra thị trường. Trong khi đó, xăng E5 RON 92 tiếp tục được duy trì đến hết năm 2030.
Ở kỳ điều hành chiều nay, liên Bộ tiếp tục điều chỉnh giá xăng dầu trong nước. Theo đó, giá E5 RON 92 hạ 1.470 đồng, còn 21.780 đồng một lít.
Các mặt hàng dầu cũng hạ so với kỳ điều hành trước. Cụ thể, mỗi lít diesel thấp hơn 790 đồng, còn mazut hạ 800 đồng so với 7 ngày trước.
Tuy nhiên, tại kỳ điều hành hôm nay, liên Bộ chưa công bố giá cơ sở mặt hàng xăng E10. Theo giá công bố của các doanh nghiệp đầu mối, mỗi lít xăng E10 RON 95-III giảm 1.330 đồng.
Giá bán lẻ xăng, dầu thay đổi như sau:
Tại kỳ này, nhà điều hành trích lập trở lại vào Quỹ bình ổn xăng dầu. Cụ thể, mức trích với xăng sinh học 500 đồng, diesel và mazut 300 đồng một lít, kg.
Đây là kỳ điều hành đầu tiên từ khi xăng E10 chính thức được bán đại trà trên toàn quốc, thay thế RON 95-III. E10 là một loại nhiên liệu sinh học, được pha trộn giữa ethanol nhiên liệu (cồn sinh học) và xăng khoáng.
Hiện dự thảo Nghị quyết của Chính phủ về việc triển khai lộ trình sử dụng xăng sinh học E10 đang được Bộ Tư pháp thẩm định. Theo dự thảo, xăng E10 RON 95-III được xác định là mặt hàng tiêu dùng phổ biến, do Nhà nước công bố giá cơ sở xăng dầu, thay thế xăng khoáng RON 95-III. Sau khi dự thảo nghị quyết này được ban hành, Bộ Công Thương sẽ cùng Bộ Tài chính công bố giá cơ sở mặt hàng xăng E10 RON 95-III.
Thực tế, lộ trình nhiên liệu sinh học được nhà điều hành xây dựng từ nhiều năm trước. Từ 2018, Việt Nam đã bán xăng E5 RON92 trên toàn quốc. Đến tháng 8/2025, E10 được thí điểm tại một số địa phương trước khi mở rộng trên phạm vi cả nước.
Tại họp báo Chính phủ ngày 3/6, Thứ trưởng Công Thương Nguyễn Sinh Nhật Tân cho biết cơ quan này sẽ kiểm tra đột xuất doanh nghiệp kinh doanh, phối trộn xăng dầu để đảm bảo chất lượng xăng E10 từ sản xuất, phối trộn, tới bán ra thị trường.