Ngày 29/5, Đại học Quốc gia TP HCM (VNUHCM) trả lời các nghi vấn về đề thi đánh giá năng lực (VACT) đợt 2.
Trước đó, trên một nhóm luyện thi, một số thí sinh cho rằng các câu hỏi Logic trong phần Tư duy khoa học của đề VACT đợt 2 trùng với tài liệu tham khảo cho kỳ thi đầu vào trường luật (LSAT) của Mỹ. Các em băn khoăn về sự công bằng khi nhiều bạn từng tiếp xúc với nội dung này ở các trung tâm luyện thi.
Sau khi rà soát, VNUHCM cho hay các câu hỏi của đề có sự khác biệt về ngữ cảnh, dữ kiện, nhân vật, hệ thống điều kiện, cách đặt vấn đề và phương án trả lời so với các tài liệu trên.
Một số có hình thức tương đồng về cách suy luận hoặc mô hình logic, nhưng đây là điều phổ biến trong khảo thí. Lý do là các bài thi đánh giá năng lực thường sử dụng những mô hình suy luận logic cơ bản như sắp xếp thứ tự, phân nhóm, suy luận điều kiện hoặc loại trừ để đánh giá năng lực tư duy của thí sinh. Sự tương tự về dạng thức không thể coi là “dịch hoặc sao chép trực tiếp từ câu hỏi của bài thi khác”.
TS Nguyễn Quốc Chính, Giám đốc Trung tâm Khảo thí và Đánh giá chất lượng đào tạo, cho biết ngân hàng câu hỏi đánh giá năng lực do đội ngũ có chuyên môn cao xây dựng với quy trình chặt chẽ.
Mỗi câu hỏi trước khi được đưa vào ngân hàng đều trải qua các bước: biên soạn; phản biện chuyên môn; thẩm định độc lập; thử nghiệm; phân tích các tham số đo lường; rà soát, điều chỉnh và nghiệm thu.
Ông thừa nhận các chuyên gia có nghiên cứu, tham khảo mô hình, dạng thức của các kỳ thi quốc tế, song một lần nữa nhấn mạnh đây là thông lệ phổ biến.
Đại học Quốc gia TP HCM cũng chưa ghi nhận dấu hiệu nào cho thấy ngân hàng câu hỏi hoặc đề thi đợt 2 năm 2026 bị lộ. Dù vậy, đơn vị này khẳng định tiếp tục rà soát tổng thể ngân hàng câu hỏi, nhất là phần Logic để đảm bảo chất lượng đề.
Bài thi đánh giá năng lực của Đại học Quốc gia TP HCM có ba phần. Phần Tư duy khoa học gồm 12 câu Logic – Phân tích số liệu và 18 câu Suy luận khoa học. Câu hỏi được xây dựng theo hướng cung cấp thông tin, số liệu, dữ kiện, từ đó yêu cầu thí sinh vận dụng, xác định kết quả thực nghiệm, dự đoán quy luật…
Phần Sử dụng ngôn ngữ gồm Tiếng Việt và Tiếng Anh với 60 câu. Cuối cùng là phần Toán học với 30 câu.
Kỳ thi đợt 2 diễn ra cuối tuần trước có hơn 170.000 thí sinh là kỷ lục từ trước đến nay với các kỳ thi riêng của đại học. Kết quả được công bố vào ngày 6/6.
Đợt 1 hồi tháng 4 thu hút gần 133.500 thí sinh, điểm thi trung bình là 682/1200. Bài làm thấp nhất đạt 27 điểm, cao nhất đạt 1098.
Hiện, 118 trường đại học, cao đẳng dùng điểm VACT để xét tuyển đầu vào.
Điều này cho thấy vấn đề không nằm ở thiện chí quản lý mà nằm ở tư duy lập quy vẫn chưa tìm ra đáp án của bài toán dạy thêm.
Vấn đề cốt lõi không phải là cấm hay cho phép dạy thêm. Điều 11 luật Nhà giáo 2025 xác lập nguyên tắc rõ ràng khi quy định nhà giáo không được ép buộc người học tham gia học thêm dưới mọi hình thức, không được ép buộc người học nộp các khoản tiền hoặc hiện vật ngoài quy định của pháp luật và không được lợi dụng chức danh nhà giáo để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật. Luật không cấm dạy thêm mà cấm hành vi trục lợi và ép buộc. Đây là quan điểm đúng đắn. Nhưng từ nguyên tắc luật đến thực tế triển khai thì khoảng cách vẫn còn rất xa.
Thông tư 29 quy định giáo viên đang dạy học tại các nhà trường không được dạy thêm ngoài nhà trường có thu tiền đối với học sinh mà giáo viên đó đang được phân công dạy theo kế hoạch giáo dục của nhà trường. Quy định nghe hợp lý nhưng trên thực tế đã sinh ra một biến tướng phổ biến mà chính dự thảo sửa đổi cũng chưa có giải pháp. Đó là hiện tượng "dạy thêm chéo cánh" khi giáo viên trong cùng trường hoặc nhiều trường liên kết, đổi chéo học sinh để dạy thêm tại các trung tâm bên ngoài. Cách làm này giúp giáo viên né quy định không dạy thêm chính học sinh của mình nhưng về bản chất, áp lực lên phụ huynh và học sinh không hề giảm. Học sinh vẫn phải đi học thêm chỉ khác là với thầy cô khác, tại một địa điểm khác với chi phí thậm chí cao hơn.
Bất cập đầu tiên nằm ở cơ chế tài chính. Thông tư 29 quy định dạy thêm trong nhà trường chỉ được tổ chức cho 3 nhóm đối tượng và không được thu tiền. Ba nhóm đó gồm học sinh có kết quả môn học cuối kỳ liền kề ở mức chưa đạt, học sinh được chọn bồi dưỡng giỏi và học sinh lớp cuối cấp tự nguyện đăng ký ôn thi. Kinh phí tổ chức do ngân sách nhà nước chi trả.
Quy định này nghe rất nhân văn nhưng đặt ra câu hỏi thực tế. Khi ngân sách không đủ bù đắp, giáo viên vẫn phải dạy thêm miễn phí trong trường nhưng không có thù lao xứng đáng. Một chính sách buộc giáo viên làm thêm mà không trả công tương xứng. Trong khi cánh cửa dạy thêm ngoài trường lại mở sẵn, tất yếu sẽ đẩy nhu cầu ra ngoài xã hội, nơi chi phí cao hơn và ít được kiểm soát hơn.
Bất cập thứ hai nằm ở quyền lực mềm của giáo viên mà hệ thống quy định hiện hành chưa đề cập tới. Dù luật Nhà giáo cấm ép buộc học sinh tham gia học thêm dưới mọi hình thức nhưng ranh giới giữa "gợi ý" và "ép buộc" trong thực tế rất mờ nhạt.
Một giáo viên không cần nói thẳng, chỉ cần cho điểm thấp hơn kỳ vọng, cắt xén nội dung chính khóa hoặc đơn giản là tạo ra bầu không khí rằng ai không học thêm sẽ thua thiệt. Phụ huynh dù biết rõ tình hình vẫn buộc phải cho con đi học thêm để "giữ hòa khí" với thầy cô.
Dự thảo sửa đổi Thông tư 29 đã bổ sung yêu cầu giáo viên phải báo cáo mối quan hệ với chủ thể đứng tên đăng ký kinh doanh cơ sở dạy thêm và cấm giáo viên trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia điều hành, chi phối hoạt động tổ chức dạy thêm gây xung đột lợi ích. Nhưng quy định này đặt gánh nặng chứng minh lên hệ thống quản lý mà thiếu công cụ giám sát thực tế.
Bất cập thứ ba là khoảng trống về minh bạch tài chính. Hoạt động dạy thêm ngoài nhà trường được xếp vào loại hình kinh doanh, phải đăng ký kinh doanh và công khai mức thu. Nhưng trên thực tế việc công khai này mang tính hình thức. Không có cơ chế kiểm tra doanh thu thực tế, không có nghĩa vụ báo cáo tài chính định kỳ và đặc biệt là không có quy định về trần mức thu. Khi cánh cửa dạy thêm trong trường đóng lại thì thị trường dạy thêm ngoài trường lập tức mở rộng.
Từ góc độ pháp lý, nhận thấy hệ thống quy định về dạy thêm hiện nay đang mắc một lỗi cấu trúc căn bản. Thay vì xây dựng hành lang pháp lý để quản lý một hoạt động có nhu cầu thực, các văn bản lại thiên về cấm đoán và quản lý hành chính. Kết quả là nhu cầu không giảm, chỉ chuyển hướng sang thị trường phi chính thức.
Để giải quyết thực chất, cần ít nhất ba thay đổi mang tính cấu trúc.
Thứ nhất, cần cho phép tổ chức dạy thêm có thu tiền trong nhà trường với điều kiện công khai, minh bạch. Mọi khoản thu phải qua bộ phận tài vụ của trường, có biên lai và báo cáo tài chính công khai. Giáo viên không được trực tiếp thu tiền từ học sinh hoặc phụ huynh. Mức thu cần được UBND tỉnh quy định khung giá phù hợp với từng địa phương, tránh tình trạng mạnh ai nấy thu như ở thị trường dạy thêm bên ngoài hiện nay.
Thứ hai, cần thiết lập cơ chế giám sát thực chất quyền lợi học sinh. Thay vì chỉ dựa vào "đơn tự nguyện" theo hình thức thì cần quy định nhà trường phải tổ chức khảo sát ẩn danh định kỳ từ học sinh và phụ huynh về hoạt động dạy thêm. Kết quả khảo sát phải được công khai trên cổng thông tin của trường và gửi về sở GD-ĐT. Hiện nay Sở GD-ĐT TP.HCM đã triển khai cổng thông tin quản lý dạy thêm học thêm tại địa chỉ dtht.hcm.edu.vn. Đây là bước đi đúng hướng cần nhân rộng.
Thứ ba, cần tách bạch rõ trách nhiệm giữa hiệu trưởng, giáo viên và cơ quan quản lý. Dự thảo sửa đổi Thông tư 29 trao cho hiệu trưởng quyền chủ động và trách nhiệm giải trình. Nhưng nếu hiệu trưởng vừa quản lý vừa tổ chức dạy thêm mà không có cơ chế kiểm tra chéo từ bên ngoài, nguy cơ "lợi ích nhóm" giữa ban giám hiệu và giáo viên vẫn tồn tại. Cần quy định UBND cấp xã, nơi đã được phân quyền quản lý dạy thêm từ 1.7.2025 theo Thông tư 10/2025/TT-BGDĐT, phải thực hiện kiểm tra định kỳ và đột xuất, không chờ phản ánh mới xử lý.
Dạy thêm không phải là tội lỗi. Nhu cầu học thêm, dạy thêm là có thật nhưng khi nhu cầu chính đáng không có lối đi hợp pháp thì nó buộc phải tìm đường vòng. Và trên con đường vòng đó "lợi ích nhóm" sẽ luôn tìm được chỗ đứng. Chỉ khi nào pháp luật thừa nhận dạy thêm như một hoạt động bình thường cần được quản lý chứ không phải một hành vi cần được ngăn cấm, khi đó mới có thể xây dựng một hệ thống minh bạch, công bằng và thực sự bảo vệ quyền lợi của học sinh.
Trường tiểu học Trần Đại Nghĩa là ngôi trường đầu tiên được xây dựng trên khu đất nghĩa trang Bình Hưng Hòa sau khi nghĩa trang di dời, đánh dấu bước chuyển đổi không gian từ đất nghĩa địa sang hạ tầng giáo dục, phục vụ nhu cầu học tập của người dân trong khu vực có mật độ dân cư cao.
Ghi nhận ngày 20-4, bên trong khuôn viên trường, nhiều công nhân đang tất bật dọn dẹp, vệ sinh, tưới cây và lắp đặt trang thiết bị tại các phòng học để chuẩn bị đưa công trình vào vận hành.
Trao đổi với Tuổi Trẻ Online, cô Văn Minh Tân - Hiệu trưởng trường - cho biết đơn vị đang thực hiện các bước cuối cùng để tiếp nhận cơ sở vật chất từ chủ đầu tư.
Sau lễ khánh thành dự kiến diễn ra vào ngày 19-5, trường sẽ triển khai tuyển sinh ngay trong đầu tháng 6 với 10 lớp 1, đồng thời tiếp nhận thêm học sinh chuyển đến từ địa bàn phường và các khu vực lân cận.
Cùng với công tác tuyển sinh, nhà trường cũng lên kế hoạch tổ chức các câu lạc bộ trong dịp hè nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt, học tập của học sinh và phụ huynh.
Trường tiểu học Trần Đại Nghĩa có quy mô 30 phòng học, mỗi phòng đều được trang bị đầy đủ thiết bị dạy học, trong đó có bảng tương tác 65 inch hỗ trợ giáo viên ứng dụng công nghệ, trí tuệ nhân tạo vào giảng dạy.
Ngoài ra, trường còn có 4 phòng học tiếng Anh, 4 phòng máy tính, các phòng chức năng như âm nhạc, thể chất, khu nhà ăn và sân trường rộng, nhiều cây xanh.
Ảnh chụp ngày 20-4-2026, so với thời điểm chụp vào ngày 21-2-2024
Cứ đến mùa tuyển sinh vào lớp 10, cùng với lịch thi, chỉ tiêu và môn thi, thông tin "tỷ lệ chọi" của từng trường lại được công bố.
Học sinh nhìn tỷ lệ, ví dụ, 1/3, 1/5 như một "định mệnh" cho tương lai của mình. Nhiều em thay đổi nguyện vọng vào phút chót, chọn trường thấp hơn khả năng thật vì sợ rớt. Trong khi đó, không ít học sinh khác thấy tỷ lệ thấp liền chủ quan, giảm nỗ lực. Những con số tưởng khách quan ấy lại đang khiến tâm lý học sinh trở nên bất ổn và định hướng học tập có thể bị sai lệch.
Trên lý thuyết, tỷ lệ chọi được cho là giúp thí sinh "ước lượng độ khó" của kỳ thi. Nhưng thực chất, con số này phản ánh chưa đúng về thực tế cạnh tranh.
Hai trường có cùng tỷ lệ chọi 1/10 chưa chắc đã có mức độ cạnh tranh ngang nhau. Có trường nhiều hồ sơ ảo, học sinh chỉ đăng ký "thử vận may", trong khi trường khác có ít hồ sơ nhưng hầu hết là học sinh có học lực giỏi.
Tỷ lệ chọi còn biến động mạnh qua từng năm do hàng loạt yếu tố như vị trí địa lý, uy tín nhà trường, thay đổi chỉ tiêu hay tâm lý đám đông. Do đó, việc lấy tỷ lệ chọi làm căn cứ để dự đoán cơ hội trúng tuyển là thiếu cơ sở khoa học.
Nhiều chuyên gia giáo dục cho rằng: "Tỷ lệ chọi chỉ mang ý nghĩa mô tả số lượng đăng ký, chứ không dự báo được kết quả. Do đó không nên dùng tỷ lệ này để định hướng nguyện vọng".
Về mặt thống kê, tỷ lệ chọi là dữ liệu thô, giá trị thông tin thấp nếu không đi kèm các yếu tố như phổ điểm, chỉ tiêu ưu tiên, hoặc điểm chuẩn dự kiến. Nó không phản ánh được năng lực học sinh, mức độ cạnh tranh thực tế, hay chất lượng đào tạo của trường.
Do đó thay vì chỉ tập trung vào "bao nhiêu người thi - bao nhiêu người đậu", phụ huynh và học sinh nên quan tâm tới các thông tin có ý nghĩa định hướng thực chất:
Đồng thời, các nhà trường nên đẩy mạnh công tác tư vấn tuyển sinh, hướng nghiệp trong trường THCS, giúp học sinh hiểu rõ bản thân thay vì chạy theo "độ hot" của trường. Khi có đủ thông tin đúng và hữu ích, học sinh sẽ biết chọn trường phù hợp.