Hai tháng qua, nhà máy tấm xi măng sợi DURAflex của Tập đoàn Saint-Gobain tại xã Vĩnh Định (Quảng Trị) ít chịu ảnh hưởng trong bối cảnh giá nhiên liệu biến động, nhờ chuyển đổi từ lò hấp hơi chạy bằng dầu diesel sang sinh khối (biomass).
Nhiên liệu sinh khối (biomass) là một trong những giải pháp giúp cơ sở này trở thành nhà máy tấm xi măng sợi đầu tiên tại Việt Nam đạt chứng nhận “Zero Carbon” (không phát thải trực tiếp và gián tiếp ở Phạm vi 1 và 2), do Deloitte xác nhận.
“Dùng lò hơi sinh khối trong một khâu sản xuất phần nào giúp nhà máy giảm áp lực, đảm bảo sản xuất liên tục”, ông Nguyễn Trường Hải, Tổng giám đốc Saint-Gobain Việt Nam cho biết.
Theo ông Hải, lợi ích không chỉ ở chi phí năng lượng, còn nhiều mặt như cung cấp sản phẩm carbon thấp đáp ứng các quy định chặt chẽ và lộ trình NetZero của Saint-Gobain toàn cầu, Việt Nam vào 2050.
Để tạo ra một tấm xi măng sợi, quá trình sản xuất bắt đầu từ khâu nghiền mịn cát, giấy với nước thành bột sợi, sau đó trộn đều cùng xi măng và phụ gia.
Hỗn hợp này được tạo tấm, cán mỏng và chuyển vào hệ thống hấp áp suất cao nhằm tạo phản ứng vật liệu, giúp tăng độ bền, dẻo của thành phẩm. Suốt quá trình này, nhà máy dùng điện và lò hấp hơi (steam) chạy diesel.
Vận hành từ 2021 với sản lượng khoảng 5-6,5 triệu m2 mỗi năm, quá trình xanh hóa nhà máy khởi động vào 2023, từ việc áp dụng tiêu chuẩn Sản xuất đẳng cấp thế giới (World Class Manufacturing, WCM). Giám đốc nhà máy Phạm Văn Hùng cho biết việc tuân thủ WCM giúp giảm hơn 30% năng lượng tiêu thụ sau hai năm.
Tiếp đến, để xanh hóa năng lượng sử dụng, công ty quyết định chuyển sang dùng lò hấp sinh khối. Họ hợp tác với Vietnam Zerowaste – doanh nghiệp chuyên chuyển đổi phế liệu, chất thải thành năng lượng – để xây lò hơi đốt bằng sinh khối ngay cạnh nhà máy, dẫn nhiệt năng qua đường ống dài 350 m đến khu vực sản xuất.
Hệ thống lò hơi sinh khối đi vào vận hành từ tháng 9 năm ngoái giúp giảm khoảng 2.000 tấn carbon mỗi năm. Với nguồn điện còn lại, nhà máy đã đạt chứng chỉ I-REC cho cả năm 2026. Từ giữa năm ngoái, nhà máy thay toàn bộ xe nâng diesel bằng xe điện.
Cùng với giảm khí CO2, nhà máy đầu tư hệ thống xử lý và tái sử dụng nước, nâng tỷ lệ tái sử dụng lên hơn 60%. Lượng nước tiêu thụ trên mỗi đơn vị sản phẩm giảm gần một nửa so với 2023.
“Kết hợp chuyển đổi xanh với tối ưu quy trình quản lý sản xuất giúp nhà máy tiết kiệm năng lượng, kiểm soát chi phí hiệu quả hơn. Đó là điều khác biệt so với nhà máy thông thường”, Tổng giám đốc Nguyễn Trường Hải, nhận định.
Ông Hải không tiết lộ chi phí đầu tư cụ thể cho dự án xanh hóa nhà máy tại Quảng Trị, nhưng cho rằng đây là mức hợp lý, được doanh nghiệp hoạch định sẵn.
Theo ông, thách thức chính không ở vốn, mà là góc nhìn và cách tiếp cận vấn đề. Để nhà máy không còn sử dụng nhiên liệu hóa thạch trực tiếp, toàn bộ điện tiêu thụ đều phải đến từ nguồn tái tạo (loại bỏ được Phạm vi 1 & 2, theo Nghị định thư Khí nhà kính – GHG Protocol). Tại Quảng Trị, nguồn sinh khối rất sẵn sàng.
Theo ông, tùy mỗi nhà máy, doanh nghiệp cần đánh giá chính xác đâu là khu vực tiêu thụ nhiều năng lượng hóa thạch. Từ đó, doanh nghiệp bắt đầu đo lường, số hóa, chuẩn hóa và cải tiến.
“Việc đo lường giúp chúng ta thấy được đích đến. Cách tiếp cận của ban lãnh đạo không bắt đầu từ nhận diện, chuẩn hóa, đo lường thì sẽ rất khó”, ông nêu kinh nghiệm.
Saint-Gobain thành lập tại Pháp cách đây 361 năm, có mặt tại 80 quốc gia và sở hữu nhà máy ở Việt Nam. Tập đoàn này sản xuất khung xương và tấm trần – tường thạch cao, tấm xi măng, sản phẩm chống thấm, keo dán gạch – chà ron…
Ngoài cơ sở ở Quảng Trị, ông Hải tiết lộ các nhà máy khác thuộc tập đoàn này đều đo lường lượng CO2 phát thải và có chỉ tiêu giảm. Từ chỉ tiêu giảm mỗi năm, công ty có những sáng kiến, dự án để thực hiện. Ông tự tin sớm có thêm nhà máy “NetZero” năm nay, tạo tiền đề sản xuất thêm nhiều sản phẩm carbon thấp.
Theo báo cáo “Vietnam Green Building Market Overview 2025”, đến hết năm ngoái, Việt Nam có 780 dự án được chứng nhận công trình xanh, tổng diện tích sàn hơn 18,6 triệu m2, vượt các mục tiêu trước đó.
Xu hướng này xuất phát từ việc các chủ đầu tư ngày càng quan tâm tới các chứng chỉ xanh như LEED, EDGE đến LOTUS. Không dừng lại ở các tòa văn phòng, xu hướng này lan sang cả nhà máy, mở ra cơ hội lớn cho vật liệu xây dựng carbon thấp.
“Các diễn biến hiện rất tích cực khi nhu cầu thị trường, tiêu chuẩn luật pháp, và vốn hỗ trợ chuyển đổi xanh ngày càng nhiều. Tất nhiên, doanh nghiệp phải có lộ trình rõ ràng”, ông Hải nhận định.
Nhận định với CNBC, ông Jeff Currie - Giám đốc chiến lược tại Tập đoàn đầu tư Carlyle Group (Mỹ), đồng thời là Đồng chủ tịch công ty công nghệ tài chính và hạ tầng giao dịch hàng hóa Abaxx Markets - cho rằng châu Á hiện gần chạm “mức vận hành tối thiểu”, tức nguồn cung chỉ còn đủ để duy trì hoạt động bình thường của hệ thống năng lượng.
“Tôi cho rằng châu Á đã tới ngưỡng. Châu Âu còn khoảng một tháng nữa, còn Mỹ có thể bắt đầu đối mặt vấn đề này từ tháng 7”, ông nói với báo chí.
Theo ông Currie, bức tranh tồn kho dầu toàn cầu hiện nay có thể gây hiểu nhầm. Dù dữ liệu cho thấy lượng dầu dự trữ vẫn còn lớn, phần đáng kể trong số đó thực chất là lượng tối thiểu bắt buộc để duy trì an toàn cho các đường ống, kho chứa và hệ thống vận hành. Phần dầu thực sự có thể đưa ra lưu thông trên thị trường hiện không còn nhiều.
Chuyên gia này cũng cho biết châu Âu hiện vẫn duy trì được nguồn cung nhờ các lô dầu từ Kho Dự trữ Dầu chiến lược Mỹ (SPR). Tuy nhiên, đây chỉ là giải pháp ngắn hạn và khó kéo dài lâu hơn. Dữ liệu từ Kpler cho thấy phần lớn dầu từ SPR gần đây được chuyển tới Tây Bắc Âu, Địa Trung Hải và khu vực Balkan.
Trong khi đó, Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) cho biết nguồn cung dầu toàn cầu trong tháng 4 tiếp tục giảm thêm 1,8 triệu thùng/ngày, xuống còn 95,1 triệu thùng/ngày.
Tính từ tháng 2, tổng mức sụt giảm đã lên tới 12,8 triệu thùng/ngày. Lượng tồn kho dầu quan sát được cũng giảm mạnh, mất 129 triệu thùng trong tháng 3 và tiếp tục giảm thêm 117 triệu thùng trong tháng 4.
IEA dự báo sản lượng lọc dầu toàn cầu trong quý II/2026 có thể giảm mạnh 4,5 triệu thùng/ngày, xuống còn 78,7 triệu thùng/ngày. Cơ quan này cảnh báo thị trường có nguy cơ rơi vào tình trạng thiếu cung nghiêm trọng trong mùa hè - giai đoạn nhu cầu tiêu thụ năng lượng tăng cao - đặc biệt nếu xuất khẩu dầu từ Trung Đông không sớm phục hồi và tồn kho tiếp tục suy giảm.
“Chúng ta có thể bước vào "vùng đỏ" trong tháng 7 hoặc tháng 8 nếu tình hình không cải thiện”, Giám đốc IEA Fatih Birol cảnh báo tuần trước.
Châu Á được đánh giá là khu vực chịu rủi ro lớn nhất do phụ thuộc nặng nề vào nguồn dầu đi qua eo biển Hormuz - tuyến hàng hải vận chuyển khoảng 80% lượng dầu nhập khẩu của khu vực. Trước nguy cơ đứt gãy nguồn cung, nhiều quốc gia đã bắt đầu tìm kiếm nguồn thay thế và tăng cường dự trữ.
Tại Ấn Độ, sản lượng lọc dầu thô tháng 4 giảm 8,9% so với tháng trước, còn 5,23 triệu thùng/ngày. Các nhà máy lọc dầu nước này đang đẩy mạnh nhập dầu từ Mỹ Latinh và châu Phi, đồng thời duy trì nguồn cung từ Nga nhằm giảm phụ thuộc vào Trung Đông.
Philippines cũng chuyển hướng sang nguồn dầu từ Mỹ, Canada, Colombia và Argentina. Theo Kpler, một lô dầu thô 616.000 thùng từ SPR của Mỹ hiện đang trên đường tới Philippines - đánh dấu chuyến dầu dự trữ khẩn cấp đầu tiên của Mỹ tới châu Á kể từ tháng 11/2022.
Pakistan - quốc gia phụ thuộc khoảng 90% nguồn cung dầu khí đi qua eo biển Hormuz - đang lên kế hoạch yêu cầu các nhà máy lọc dầu duy trì lượng dầu thô đủ dùng trong 15 ngày, trong khi các công ty phân phối phải dự trữ lượng nhiên liệu thành phẩm đủ cho 30 ngày. Chính phủ nước này đồng thời xúc tiến xây dựng kho dự trữ dầu chiến lược.
Theo các chuyên gia, việc khôi phục hoàn toàn dòng chảy năng lượng qua eo biển Hormuz vẫn là giải pháp then chốt để ổn định thị trường dầu toàn cầu. So với trước thời điểm xung đột bùng phát, sản lượng dầu từ các quốc gia vùng Vịnh đã giảm khoảng 14,4 triệu thùng/ngày.
IEA dự báo nếu hoạt động vận chuyển qua Hormuz dần được nối lại từ tháng 6, nguồn cung dầu toàn cầu năm nay có thể đạt trung bình 102,2 triệu thùng/ngày, song vẫn thấp hơn khoảng 3,9 triệu thùng/ngày so với năm ngoái.
Những cam kết từ chuyến thăm cấp nhà nước của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đang mở ra kỳ vọng đưa kim ngạch thương mại song phương lên 500 tỉ USD.
Chuyến thăm cấp nhà nước của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã đạt được những kết quả quan trọng và thiết thực khi các cam kết và thỏa thuận hợp tác đều hướng đến lợi ích trực tiếp của người dân và doanh nghiệp.
Đáng chú ý, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã đề nghị Trung Quốc tạo điều kiện để Việt Nam tham gia hiệu quả chương trình "Chia sẻ thị trường lớn - Xuất khẩu Trung Quốc", đồng thời mở cửa cho các mặt hàng nông thủy sản và chăn nuôi của Việt Nam đáp ứng tiêu chuẩn.
Thủ tướng Lý Cường đã lắng nghe và khẳng định Trung Quốc sẵn sàng thúc đẩy hợp tác thương mại cân bằng hơn, nhập khẩu nhiều hơn nông sản chất lượng cao của Việt Nam và cùng hợp tác xây dựng khu hợp tác kinh tế qua biên giới.
Tại cuộc hội đàm với Bộ trưởng Bộ Thương mại Trung Quốc Vương Văn Đào trong khuôn khổ chuyến thăm, Bộ trưởng Bộ Công Thương Lê Mạnh Hùng đề nghị phía Trung Quốc tăng cường nhập khẩu hàng hóa Việt Nam, mở rộng danh mục mặt hàng được hưởng ưu đãi thuế quan, công nhận lẫn nhau kết quả kiểm dịch động thực vật đối với hàng nông lâm thủy sản, và tạo điều kiện cho hàng Việt xuất khẩu qua thương mại điện tử xuyên biên giới.
Bộ trưởng Vương Văn Đào nhất trí và cho biết Bộ Thương mại Trung Quốc sẽ tiếp tục ủng hộ Việt Nam thành lập các văn phòng xúc tiến thương mại, đồng thời mời Việt Nam tích cực tham gia 5 hoạt động trong khuôn khổ chương trình năm 2026 và làm quốc gia chủ đề trong chuỗi sự kiện năm 2027.
Với doanh nghiệp, đây là tín hiệu đáng mừng. Ông Nguyễn Đình Tùng - Tổng giám đốc Vina T&T Group, đơn vị đang xuất khẩu sầu riêng và dừa vào Trung Quốc - nhận định chuyến thăm là một "cú hích" mang tính chiến lược. Việc Thủ tướng Lý Cường khẳng định mở cửa cho hàng nông thủy sản Việt Nam đáp ứng tiêu chuẩn đã tạo ra hành lang pháp lý thông thoáng, thúc đẩy chuyển dịch mạnh từ xuất khẩu tiểu ngạch sang chính ngạch.
Điều này giúp doanh nghiệp giảm rủi ro ùn tắc tại cửa khẩu, giảm chi phí logistics và bảo vệ thương hiệu nông sản Việt. Khi vào được chính ngạch, sản phẩm Việt Nam không còn quanh quẩn ở các tỉnh biên giới mà có thể thâm nhập sâu vào các siêu thị tại Bắc Kinh, Thượng Hải, Quảng Châu.
Trong chuyến thăm, Trung Quốc cũng cam kết mở cửa chính ngạch cho bưởi và chanh (gồm chanh không hạt, chanh có hạt và chanh leo) - tin vui với ngành rau quả. Bưởi da xanh Việt Nam có chất lượng đặc trưng khác biệt so với sản phẩm bản địa, khi vào chính ngạch có thể tự tin cạnh tranh ở phân khúc cao cấp.
Với chanh, nhu cầu tại thị trường này đang tăng mạnh; việc ký nghị định thư sẽ giúp ổn định đầu ra cho các vùng trồng lớn ở Long An và miền Tây, thay vì phụ thuộc vào buôn bán biên mậu bấp bênh.
Dù vậy, các chuyên gia và doanh nghiệp đều nhấn mạnh rằng để thực sự khai thác được những thỏa thuận cấp cao này, Việt Nam cần tuân thủ nghiêm "luật chơi" mới. Ông Tùng lưu ý doanh nghiệp phải quản lý chặt mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói, vì chỉ một sai sót nhỏ về dư lượng thuốc bảo vệ thực vật có thể làm mất uy tín cả ngành hàng.
Thay vì xuất hàng thô, doanh nghiệp cần đầu tư vào bao bì, nhãn mác đúng chuẩn và xây dựng câu chuyện sản phẩm để người tiêu dùng Trung Quốc nhận diện được "đây là nông sản Việt Nam chất lượng cao".
Ông Đặng Phúc Nguyên - Tổng thư ký Hiệp hội Rau quả Việt Nam - cho rằng sự hợp tác của hai Đảng, hai Chính phủ ngày càng mở rộng, thể hiện qua việc mỗi chuyến thăm cấp cao đều có thêm nghị định thư cho phép xuất khẩu các mặt hàng mới.
Nhờ đó, chỉ trong quý 1 năm nay, xuất khẩu trái cây đạt hơn 1,5 tỉ USD, trong đó Trung Quốc chiếm tới 2/3 kim ngạch.
Bên cạnh kênh thương mại truyền thống, ông Nguyên đặc biệt kỳ vọng vào thương mại điện tử - xu hướng đang được nhiều lĩnh vực khai thác hiệu quả. Dù ngành trái cây có đặc thù riêng về bảo quản và vận chuyển, kênh này vẫn mở ra cơ hội tìm kiếm và mở rộng khách hàng đáng kể.
Để nắm vững và phát triển thị phần, ông Nguyên nhấn mạnh doanh nghiệp cần chú trọng chất lượng, mẫu mã và tuân thủ quy định của thị trường Trung Quốc - vốn ngày càng khắt khe hơn. Song song đó, cần có sự hỗ trợ mạnh hơn từ cơ quan chức năng trong đàm phán, mở rộng ký kết nghị định thư để bổ sung thêm các mặt hàng như bơ, na dai, roi, cũng như hướng dẫn doanh nghiệp tham gia các sàn giao dịch trực tuyến để hiện thực hóa các hợp đồng giao thương qua thương mại điện tử.
Quỹ Tiền tệ quốc tế (International Monetary Fund, IMF) vừa công bố dự báo về quy mô kinh tế của 6 nước lớn ở Đông Nam Á giai đoạn 2026 - 2031, bao gồm: Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore, Thái Lan và Việt Nam.
Đáng chú ý, tính theo GDP sức mua tương đương (PPP), Việt Nam đang là nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất so với các quốc gia trên.
Cụ thể, riêng năm 2026, GDP PPP của Việt Nam đạt 2.025 tỉ USD, vượt Thái Lan, Malaysia, Philippines và Singapore, chỉ đứng sau Indonesia với 5.230 tỉ USD. Việt Nam cũng là quốc gia duy nhất ngoài Indonesia vượt mốc 2.000 tỉ USD.
Khoảng cách giữa Việt Nam và Thái Lan tiếp tục nới rộng. Đến năm 2031, dự báo GDP PPP Việt Nam đã cao hơn Thái Lan hơn 500 tỉ USD, bỏ xa Malaysia và Philippines, qua đó củng cố vị thế nền kinh tế lớn thứ hai ASEAN.
Dù vẫn còn khoảng cách với Indonesia, Việt Nam lại là nước thu hẹp nhanh nhất với nền kinh tế lớn nhất khu vực. Từ mức tương đương khoảng 39% quy mô của Indonesia năm 2026, đến năm 2031, Việt Nam được dự báo đạt gần 46%.
Đáng chú ý, Việt Nam ngày càng vượt xa Singapore về quy mô kinh tế, nhưng "đảo quốc sư tử" vẫn dẫn đầu tuyệt đối về thu nhập bình quân đầu người. Đến năm 2031, GDP PPP của nước ta được dự báo gấp hơn 2,2 lần Singapore, phản ánh lợi thế về quy mô dân số và tốc độ tăng trưởng.
TS Nguyễn Anh Vũ - Trưởng khoa tài chính Trường đại học Ngân hàng - cho biết cần phân biệt giữa GDP danh nghĩa và GDP theo sức mua tương đương (PPP), bởi hai chỉ số phản ánh những khía cạnh khác nhau của nền kinh tế.
GDP danh nghĩa thể hiện tổng giá trị hàng hóa, dịch vụ một quốc gia tạo ra, quy đổi theo tỉ giá hiện hành sang USD. Trong khi đó, GDP PPP phản ánh sức mua thực tế, tức cùng một số tiền có thể mua được bao nhiêu hàng hóa và dịch vụ ở mỗi quốc gia sau khi đã điều chỉnh theo mặt bằng giá.
Ví dụ, theo dữ liệu của World Bank, GDP danh nghĩa của Việt Nam năm 2024 đạt hơn 476 tỉ USD, còn GDP PPP đạt 1.650 tỉ USD, gấp khoảng 4 lần. Trong khi đó, hai chỉ số này trong năm 2024 của Mỹ lần lượt là 28.750 tỉ USD và hơn 29.180 tỉ USD, gần như tương đương.
Theo dự báo của IMF, năm 2026, quy mô nền kinh tế của Việt Nam vượt mốc 500 tỉ USD theo GDP danh nghĩa và đạt hơn 2.000 tỉ USD theo GDP PPP.
Thước đo GDP PPP xuất phát từ Chương trình so sánh quốc tế (International Comparison Program) của World Bank. Mức giá toàn cầu là cơ sở để so sánh chi phí sinh hoạt giữa các quốc gia khác nhau. Chỉ số này được đo bằng sức mua tương đương (PPP), qua đó cho thấy cần bao nhiêu tiền để mua cùng một mặt hàng ở những nơi khác nhau.
TS Nguyễn Anh Vũ lấy ví dụ, nếu một chiếc hamburger ở Mỹ có giá khoảng 6 USD, trong khi một chiếc tương tự ở Việt Nam chỉ khoảng 40.000 đồng, tương đương khoảng 1,5 USD. Vì vậy, với cùng 1 USD, người dân ở Việt Nam có thể mua được lượng hàng hóa, dịch vụ tương đương khoảng 3 - 4 USD ở Mỹ.
Đây là lý do quy mô kinh tế của Việt Nam khi tính theo sức mua cao hơn nhiều so với GDP danh nghĩa quy đổi theo tỉ giá.
Năm 2006, GDP danh nghĩa của Thái Lan là hơn 220 tỉ USD, trong khi Việt Nam chỉ ở mức hơn 66 tỉ USD. Đến năm 2024, hai chỉ số trên của Thái Lan lần lượt gần 530 tỉ USD và 1.770 tỉ USD, còn của Việt Nam gần 480 tỉ USD và 1.650 tỉ USD.
Với dự báo mới công bố của IMF vào tháng 4-2026, TS Nguyễn Anh Vũ cho rằng: "Việc Việt Nam vượt Thái Lan theo chỉ tiêu GDP PPP, sau đó có thể cả GDP danh nghĩa là hợp lý. Bởi Việt Nam đã duy trì tốc độ tăng trưởng cao hơn Thái Lan trong thời gian dài, nếu tiếp tục giữ đà thì khoảng cách sẽ còn nới rộng".
Tuy vậy, ông nhấn mạnh điều này không có nghĩa Việt Nam đã vượt Thái Lan về kinh tế. Khi so sánh mức sống người dân, GDP bình quân đầu người danh nghĩa hay GDP bình quân đầu người theo PPP là chỉ tiêu chính xác hơn. Theo cách tính này, Việt Nam hiện vẫn thấp hơn Thái Lan đáng kể.
Chẳng hạn, GDP bình quân đầu người danh nghĩa của Thái Lan và Việt Nam lần lượt là gần 7.350 USD và gần 4.720 USD vào năm 2024. Còn GDP bình quân đầu người theo PPP của Thái Lan và Việt Nam lần lượt là hơn 24.710 USD và 16.385 USD.
Diễn biến trên xuất phát từ việc quy mô nền kinh tế của hai nước đã tương đương, nhưng Việt Nam có hơn 100 triệu dân, trong khi Thái Lan chỉ khoảng 70 triệu người.
TS Nguyễn Anh Vũ ví dụ: "Hai gia đình đều có tổng thu nhập 10 triệu đồng mỗi tháng. Nhưng nếu một gia đình có 10 người, còn gia đình kia chỉ có 7 người, thì mức sống của gia đình ít người sẽ cao hơn".
Do đó, để đánh giá đời sống người dân, cần nhìn vào GDP bình quân đầu người thay vì tổng quy mô nền kinh tế. Việt Nam vẫn cần thêm một giai đoạn tăng trưởng cao để thu hẹp khoảng cách về mức sống với Thái Lan.
Dù vậy, TS Nguyễn Anh Vũ nhấn mạnh: "Việc quy mô nền kinh tế của Việt Nam tính theo GDP danh nghĩa và GDP PPP đã gần bằng, thậm chí vượt Thái Lan, để trở thành nền kinh tế lớn thứ hai khu vực là một cột mốc quan trọng. Đây là kết quả của nhiều năm duy trì tốc độ tăng trưởng cao, khẳng định vị thế của Việt Nam trong khu vực và tạo nền tảng quan trọng cho giai đoạn tăng trưởng tiếp theo".