Giới phân tích quay xe, hạ mạnh dự báo giá vàng và bạc
Trong phiên sáng, giá vàng có thời điểm giảm xuống 3.965,2 USD/ounce trước khi phục hồi nhẹ lên quanh 4.012,94 USD/ounce. Đây là vùng giá thấp nhất kể từ đầu năm 2026, dù trước đó kim loại quý này từng lập đỉnh lịch sử gần 5.600 USD/ounce vào cuối tháng 1.
Trước đà lao dốc của thị trường, ngân hàng ING đã có động thái điều chỉnh mạnh dự báo giá kim loại quý này. Theo báo cáo từ chiến lược gia hàng hóa Ewa Manthey của ING, đơn vị này hiện hạ kỳ vọng giá vàng trung bình trong quý III xuống còn 4.300 USD/ounce và quý IV là 4.600 USD/ounce. Các con số này giảm đáng kể so với mức kỳ vọng 4.850 USD và 5.000 USD/ounce trong dự báo trước đó.
Bà Manthey nhận định, dù xu hướng trung hạn của vàng vẫn tích cực, môi trường ngắn hạn đang trở nên thách thức hơn rất nhiều. Nguyên nhân cốt lõi đến từ việc thị trường điều chỉnh mạnh kỳ vọng về lộ trình lãi suất của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed).
Tại cuộc họp gần nhất, phần lớn các thành viên Ủy ban Thị trường Mở Liên bang (FOMC) đã dự báo về khả năng có ít nhất một đợt tăng lãi suất trước cuối năm, đẩy kỳ vọng lãi suất trung vị lên vùng 3,75-4%. Dữ liệu từ CME FedWatch cho thấy phần lớn thị trường đã phản ánh kịch bản Fed sẽ tăng thêm 25 điểm cơ bản vào giá.
Điều này kích hoạt chỉ số Dollar Index vượt mốc 100, đồng thời kéo lợi suất thực trái phiếu kho bạc Mỹ kỳ hạn 10 năm lên quanh mức 2,2%. Khi lợi suất thực tăng cao và đồng USD mạnh lên, sức hấp dẫn của một tài sản không sinh lời như vàng lập tức bị suy giảm rõ rệt.
Không riêng gì vàng, thị trường bạc cũng chịu áp lực bán tháo nặng nề khi giảm mạnh hơn 5% trong phiên, lùi về vùng 58,15 USD/ounce. Theo Kitco, đà giảm này xuất phát từ việc định giá lại lãi suất và lo ngại về nguồn cung dầu giảm dần, làm suy yếu nhu cầu trú ẩn an toàn.
Phía ING cũng hạ dự báo giá bạc trong quý III xuống 68 USD/ounce và quý IV xuống 74 USD/ounce. Ngân hàng này chỉ ra rằng, dù thị trường bạc vẫn thâm hụt cung, nhưng tốc độ tăng trưởng nhu cầu từ ngành năng lượng mặt trời đang chậm lại do xu hướng tiết kiệm và thay thế nguyên liệu trong sản xuất tấm pin quang điện.
Doanh nghiệp kinh doanh trang sức chật vật xoay xở
Biến động mạnh của giá kim loại quý không chỉ là những con số trên bảng điện tử mà đang trực tiếp gây áp lực nặng nề lên hoạt động vận hành của các doanh nghiệp kinh doanh, đặc biệt là ngành trang sức.
Ông Sohail Dewani, chuyên gia chiến lược tại Jewelers League, chia sẻ rằng khách hàng của ông đang phải cảm nhận áp lực này theo thời gian thực. Việc giá vàng có thể trồi sụt tới 200 USD chỉ trong vòng một tuần đang làm đảo lộn hoàn toàn cách tính toán chi phí dòng sản phẩm. Các kế hoạch định giá hàng hóa, báo giá sản phẩm đặt riêng cho khách cho đến việc quản trị hàng tồn kho đều rơi vào trạng thái bị động.
“Trước đây các nhà bán lẻ có thể chốt phương án định giá theo quý, nhưng hiện tại nhiều đơn vị phải điều chỉnh theo tuần, thậm chí theo ngày. Một mẫu sản phẩm niêm yết giá vào đầu tuần có thể đã phải thay đổi vào cuối tuần”, ông Dewani cho biết.
Ông Dewani cho rằng doanh nghiệp hiện đứng trước lựa chọn khó khăn. Một là cập nhật thủ công hàng loạt sản phẩm, tiềm ẩn sai sót. Hai là giữ giá cũ nhưng chấp nhận rủi ro không phản ánh đúng chi phí thực tế. Theo ông, giai đoạn hiện tại không phải biến động ngắn hạn mà là chu kỳ kéo dài, khi các yếu tố như chính sách tiền tệ, lạm phát và địa chính trị vẫn chưa có điểm cân bằng rõ ràng.
Tình hình càng thách thức hơn khi mùa hè là thời điểm các đơn vị phải lên kế hoạch đặt hàng cho mùa lễ hội quý IV, trong khi không ai có thể dự đoán chính xác giá vàng sẽ đứng ở mức nào vào cuối năm.
Xu hướng dài hạn đã thực sự kết thúc?
Khi giá vàng giảm sâu, các phương tiện truyền thông tài chính quốc tế nhanh chóng đặt dấu hỏi về việc liệu làn sóng “giao dịch dựa trên kỳ vọng tiền tệ mất giá” đã đi đến hồi kết. Dù vậy, giới chuyên gia phân tích cho rằng các yếu tố nền tảng mang tính cấu trúc thúc đẩy giá vàng trong dài hạn vẫn chưa hề bị phá vỡ.
Theo phân tích từ giới kinh tế, mức lãi suất mục tiêu sắp tới của Fed nếu có tăng lên vùng 3,75-4% thì thực chất vẫn thấp hơn tỷ lệ lạm phát thực tế. Chỉ số giá mà Fed theo dõi hiện ở mức 3,8% và có nguy cơ chạm mốc 4,1% trong các kỳ công bố tới. Thêm vào đó, việc thâm hụt ngân sách hàng nghìn tỷ USD của Mỹ chưa được giải quyết, cùng với xu hướng các ngân hàng trung ương gom mua vàng để giảm bớt sự phụ thuộc vào dự trữ đồng USD, vẫn là bệ đỡ vững chắc cho kim loại quý.
Nhiều ý kiến từ các chuyên gia tại Bank of America và UBS cũng lưu ý thêm, áp lực lạm phát ngắn hạn có thể chỉ mang tính hồi chiếu do giá năng lượng neo cao từ giai đoạn trước và sẽ sớm hạ nhiệt nhờ các thỏa thuận địa chính trị mới. Do đó, đợt điều chỉnh giảm khoảng 28% từ đỉnh của giá vàng hiện tại nhiều khả năng chỉ là một nhịp “chiết khấu lại” của thị trường, tạo không gian tích lũy cho một chu kỳ dài hạn tiếp theo hơn là một sự chấm dứt hoàn toàn.
Trước mắt, các chuyên gia khuyến nghị doanh nghiệp và nhà đầu tư cần xây dựng một chiến lược quản trị vốn linh hoạt để thích ứng với một giai đoạn biến động còn kéo dài.
Từ đầu năm đến nay, trong bối cảnh hệ thống ngân hàng đối mặt với căng thẳng thanh khoản, hoạt động liên ngân hàng diễn ra khá sôi động. Số liệu báo cáo tài chính quý I/2026 từ các ngân hàng cho thấy các bên đang cho vay lẫn nhau hàng triệu tỷ đồng. Trong đó, nhóm Big4 đóng vai trò là “chủ nợ”, các ngân hàng thương mại hầu hết là đi vay ròng.
Dẫn đầu hệ thống là “anh cả” Vietcombank, với quy mô tiền gửi và cho vay các tổ chức tín dụng khác đạt 581.522 tỷ đồng, trong khi tiền gửi và vay các tổ chức tín dụng khác ở mức 367.185 tỷ đồng. Vietcombank đang cho vay ròng 214.337 tỷ đồng trên thị trường liên ngân hàng.
Thứ hai là VietinBank, đang cho vay ròng 138.361 tỷ đồng. Ngân hàng này ghi nhận 600.736 tỷ đồng tiền gửi và cho vay các tổ chức tín dụng khác, trong khi quy mô đi vay ở mức 462.376 tỷ đồng.
Trong khi Agirbank chưa công bố báo cáo tài chính quý I thì top 3 gọi tên BIDV với mức chênh lệch 91.471 tỷ đồng. Trong đó, ngân hàng Big4 này đang cho vay và gửi tiền sang các tổ chức tín dụng khác 528.623 tỷ đồng, ngược lại đi vay và nhận tiền gửi vào mức 437.152 tỷ đồng.
Tính chung, 3 ngân hàng quốc doanh lớn gồm Vietcombank, VietinBank và BIDV đã tạo ra quy mô cho vay ròng lên tới khoảng 444.000 tỷ đồng - thể hiện vai trò trung tâm của nhóm ngân hàng lớn trong việc điều tiết thanh khoản hệ thống.
Ngoài ra, nhiều ngân hàng tư nhân cũng đóng vay trò “cho vay” hệ thống trong kỳ.
Đơn cử, HDBank của tỷ phú Nguyễn Thị Phương Thảo đang cho vay ròng hơn 51.000 tỷ đồng trên thị trường liên ngân hàng, lớn nhất nhóm ngân hàng tư nhân. Cùng với đó, BVBank cũng đang cho vay ròng 18.482 tỷ đồng, SHB vào khoảng 14.613 tỷ đồng, NCB với 10.157 tỷ đồng hay LPBank của ông Nguyễn Đức Thụy cũng trên vai trò “chủ nợ” với số dư gần 6.000 tỷ đồng.
Ở chiều ngược lại, nhiều ngân hàng lại ở trạng thái vay ròng trên thị trường liên ngân hàng, phản ánh nhu cầu bổ sung nguồn vốn lớn hơn lượng vốn cung ứng ra thị trường.
Đứng đầu nhóm này là VPBank với mức vay ròng lên đến 116.511 tỷ đồng. Ghi nhận, VPBank đang có 195.017 tỷ đồng tiền gửi và cho vay các tổ chức tín dụng khác; tuy nhiên nhu cầu vay trên hệ thống liên ngân hàng hơn 311.528 tỷ đồng.
Ngân hàng Quân đội (MB) cũng đang vay ròng 91.594 tỷ đồng, trong khi Techcombank âm 62.490 tỷ đồng. Một số ngân hàng khác như MSB, VIB, TPBank hay ACB cũng đang duy trì trạng thái vay ròng đáng kể trên thị trường liên ngân hàng.
Được biết, các ngân hàng cho vay lẫn nhau là hoạt động giao dịch vốn diễn ra trên thị trường liên ngân hàng (thị trường 2) nhằm bù đắp thiếu hụt thanh khoản ngắn hạn. Hoạt động này được điều phối dựa trên cung cầu vốn của từng nhà băng và chịu sự giám sát chặt chẽ từ Ngân hàng Nhà nước.
Các khoản giao dịch này chủ yếu là ngắn hạn. Trong đó, các ngân hàng lớn, thừa vốn sẽ đóng vai trò là "chủ nợ". Ngân hàng nhỏ hoặc đang cần vốn để tăng trưởng tín dụng sẽ là "con nợ”. Lãi suất liên ngân hàng biến động liên tục theo ngày, phản ánh mức độ dồi dào hoặc căng thẳng về tiền mặt của toàn hệ thống.
Kết phiên giao dịch ngày 21/4, VN-Index giảm 3,63 điểm, xuống còn 1.833,48 điểm. Thanh khoản trên sàn HoSE đạt 24.947 tỷ đồng, toàn sàn ghi nhận 227 mã giảm giá, áp đảo so với 99 mã tăng, phản ánh áp lực điều chỉnh chiếm ưu thế.
Diễn biến thị trường cho thấy xu hướng dòng tiền tập trung vào một số cổ phiếu trụ, đáng chú ý là VIC, STB, LPB, VHM và NVL. Trong đó, STB thu hút sự quan tâm khi Sacombank bất ngờ bãi bỏ tờ trình gia hạn Đề án tái cơ cấu sau sáp nhập.
Theo kế hoạch, Sacombank sẽ tổ chức Đại hội đồng cổ đông vào ngày mai, với nội dung đáng chú ý là bầu bổ sung thành viên Hội đồng quản trị nhiệm kỳ 2022-2026.
Hiện tại ông Dương Công Minh giữ chức Chủ tịch HĐQT, còn ông Nguyễn Đức Thụy đảm nhiệm vai trò Quyền Tổng giám đốc từ ngày 23/12/2025, sau khi hoàn tất chuyển giao vị trí Chủ tịch HĐQT tại LPBank và chính thức trở thành Tổng giám đốc Sacombank từ ngày 3/3.
Quay trở lại diễn biến chung, các cổ phiếu gây áp lực lên thị trường gồm FPT, VPB, MWG, SSI và PNJ.
Về giao dịch khối ngoại, nhà đầu tư nước ngoài tiếp tục bán ròng 677 tỷ đồng trên HoSE, tập trung tại các mã FPT, VCB, MSB, SSI và PNJ. Trong khi đó, lực mua ròng ghi nhận tại HPG, MSN, EIB và LPB.
Thị trường tiền gửi tiết kiệm từ đầu năm đến nay ghi nhận nhiều chuyển biến đáng chú ý. Từ cuối năm 2025 đến sau Tết Nguyên đán 2026, do căng thẳng thanh khoản, mặt bằng lãi suất tiết kiệm tăng liên tục để thu hút dân gửi tiền.
Có thời điểm, lãi tiết kiệm với các khoản tiền gửi thông thường (trị giá vài trăm triệu đồng) vượt 8%/năm, nhiều người theo đó tăng tiền gửi vào ngân hàng. Số liệu được công bố bởi Ngân hàng Nhà nước cũng thể hiện tiền gửi của dân cư tại các tổ chức tín dụng đến hết tháng 1 đạt hơn 10,38 triệu tỷ đồng, tăng 0,45% so với cuối năm 2025 và là mức cao nhất từ trước đến nay.
Sau thời gian lãi suất tăng liên tục, Ngân hàng Nhà nước đã có sự điều tiết, yêu cầu lãnh đạo các khu vực họp với các chi nhánh ngân hàng thương mại trên địa bàn, nhằm quán triệt việc thực hiện chủ trương giảm mặt bằng lãi suất theo chỉ đạo của Thống đốc vào đầu tháng 4.
Hiện, lãi suất gửi tiết kiệm có sự phân hóa rõ nét tại các kỳ hạn, người gửi tiền có thể tìm kiếm kênh gửi hiệu quả nhất thay vì ưu tiên ngân hàng quen.
Theo thống kê của phóng viên báo Dân trí, với kỳ hạn 1 tháng, mặt bằng lãi suất huy động dao động từ 1,6%/năm đến 4,75%/năm. Trong đó, nhóm ngân hàng quốc doanh gồm Agribank, BIDV, Vietcombank và VietinBank cùng niêm yết mức 4,75%/năm. Một số ngân hàng tư nhân cũng nâng trần lãi suất 1 tháng như OCB, PGBank, MSB, Sacombank…
Với kỳ hạn 3 tháng, lãi suất phổ biến dao động quanh 4,65%/năm đến 4,75%/năm. Nhiều ngân hàng lớn gồm Big4 và các ngân hàng thương mại neo lãi cao nhất với 4,75%/năm. Ngược lại, SCB là ngân hàng có lãi suất thấp nhất với 1,9%/năm.
Với kỳ hạn 6 tháng, mặt bằng lãi suất đang tăng mạnh, dao động từ 2,9%/năm đến 7,2%/năm.
Mới nhất, Nam A Bank vừa tăng lãi suất huy động từ kỳ hạn 6-36 tháng, với mức tăng cao nhất tới 0,6 điểm %/năm, đưa lãi suất trực tuyến lên tới 6,9%/năm.
Hiện, kỳ hạn 6 tháng có MBV dẫn đầu thị trường với mức 7,2%/năm, theo sau là LPBank và PGBank cùng niêm yết 6,9%/năm. Nhóm ngân hàng quốc doanh như Agribank, Vietcombank và VietinBank cùng áp dụng mức 6,6%/năm.
Với kỳ hạn 9 tháng, lãi suất huy động phổ biến từ 5,8-6,9%/năm. Bộ ba dẫn đầu vẫn là MBV, LPBank và PGBank với lãi niêm yết 6,9-7,2%/năm.
Với kỳ hạn 12 tháng, lãi suất có sự phân hóa rõ nét. Trả lãi cao nhất là MBV với 7,2%/năm. Tiếp đến, LPBank, PGBank và VIB cùng niêm yết ở mức 7%/năm, trong khi nhóm ngân hàng quốc doanh như Agribank, Vietcombank và VietinBank niêm yết 6,8%/năm, còn BIDV giữ mức thấp hơn là 5,9%/năm.
Với kỳ hạn dài 18 tháng, MBV đứng đầu thị trường với lãi suất 7,2%/năm, tiếp theo là LPBank với 7,1%/năm. Nhiều ngân hàng như Agribank, Vietcombank, VietinBank, OCB và Sacombank cùng được niêm yết quanh 6,8%/năm.
Sau khuyến khích hạ lãi suất của Ngân hàng Nhà nước, Sacombank, Saigonbank, OCB…. lần lượt điều chỉnh lãi suất ở một vài kỳ hạn. Trong khi đó, ACB công bố hạ mạnh lãi suất tiết kiệm online trên toàn bộ kỳ hạn từ 1 đến 12 tháng.
Ngoài nhóm tiền gửi thông thường, các khoản tiền gửi đặc biệt từ 500 triệu đồng đến hàng nghìn tỷ đồng đang hưởng lãi rất cao, lên đến 10%/năm.
PVComBank dẫn đầu toàn thị trường với mức 10%/năm cho kỳ hạn 12 tháng (số tiền gửi tối thiểu 2.000 tỷ đồng); HDBank niêm yết 7,7%/năm kỳ hạn 12 tháng (điều kiện duy trì số dư tối thiểu 500 tỷ đồng).
Cake by VPBank thì duy trì có chương trình ưu đãi 1,5%/năm cho khách hàng lần đầu sử dụng sản phẩm có kỳ hạn, đưa mức lãi suất lên tới 8,9%/năm cho kỳ hạn 12 tháng từ 100 triệu đồng.