Mã đề: 001
Mã đề: 002
Mã đề: 003
Mã đề: 004
Mã đề: 005
Mã đề: 006
Mã đề: 007
Mã đề: 008
Mã đề: 009
Mã đề: 010
Mã đề: 011
Mã đề: 012
Mã đề: 014
Mã đề: 015
Mã đề: 016
Mã đề: 017
Mã đề: 018
Mã đề: 019
Mã đề: 020
Mã đề: 021
Mã đề: 022
Mã đề: 023
Mã đề: 024
Tin Gốc: Tuổi Trẻ
Giáo Dục
Ký ức thi lớp 10 của thế hệ 7-8X: Cả làng chỉ 5 người đỗ, lớp chọn cũng rớt

29 năm trước, đúng thời gian này, anh Nguyễn Mạnh Hà (SN 1982, Từ Liêm, Hà Nội) đang chuẩn bị cho kỳ thi tốt nghiệp THCS. Thời đó, thi tốt nghiệp và thi vào lớp 10 là hai kỳ thi tách biệt, cách nhau hơn 1 tháng.
“Tôi không nhớ 3 năm trước con trai đã thi vào lớp 10 như thế nào, nhưng vẫn nhớ như in kỳ thi lớp 10 của chính mình, thậm chí còn nhớ cả bài hình trong đề toán”, anh Hà chia sẻ.
Anh Hà cho biết, học sinh sinh năm 1982 trở về trước thi tốt nghiệp 4 môn và thi vào cấp 3 với 2 môn toán, văn. Tỷ lệ trượt tốt nghiệp thấp còn tỷ lệ trượt cấp 3 rất cao. Lứa tuổi của anh Hà, cả làng chỉ có 5 người đỗ. Số còn lại học bổ túc hoặc bỏ học.
“3 năm liên tiếp trước lứa chúng tôi, làng tôi không có ai đỗ cấp 3. Chị gái tôi học khá cũng trượt. Vì thế bố tôi không cho tôi đăng ký trường Tây Tiền Hải, là trường tốt nhất huyện và gần nhà, mà bắt phải đăng ký một trường cách nhà hơn 10km, ở gần biển, điểm đầu vào rất thấp”, anh Hà hồi tưởng.
Mặc dù có lực học tốt và được giáo viên chủ nhiệm tin cậy, anh Hà vẫn phải đăng ký trường xa để chắc một suất công lập. Ngay sau khi thi tốt nghiệp xong, anh được bố cho đi học thêm ở thị trấn. Sau 1 tháng luyện thi, anh Hùng đỗ điểm cao, thừa nhiều điểm để vào Trường THPT Tây Tiền Hải trong sự tiếc nuối của gia đình.
Lớp ôn thi của anh khi ấy cũng chỉ có vài ba người trúng tuyển công lập.
Chị Nguyễn Bích Đào (SN 1982, Vĩnh Hưng, Hà Nội) cũng lưu giữ kí ức khó quên về kỳ thi lớp 10 cách đây 30 năm tại Ninh Bình (tỉnh Nam Định cũ).
Ngày ấy Nam Định chưa có trường tư, ngoài trường công chỉ có trường bổ túc. Tuy nhiên trong trường công lập có một hệ bán công để “vớt” những học sinh thi trượt vì thiếu một ít điểm. Hệ bán công thu học phí cao hơn 2-3 lần so với mức chung.
“Tôi nhớ bạn bè mình trượt rất nhiều. Ngay ông xã tôi cũng trượt hệ thường, chỉ đỗ hệ bán công dù những năm cấp 2 là học sinh giỏi, học lớp chọn, là “ngôi sao” của trường”, chị Đào kể.
Cả Đào và chồng học cùng khoá nhưng khác lớp. Theo lời chị, việc trượt công lập là bài học sâu sắc với chồng chị, khiến anh học hành tu tỉnh hơn, đạt kết quả cao khi thi đại học. Trong khi đó chị trượt đại học năm đầu, mất thêm một năm ôn thi mới chinh phục được mục tiêu.
Tại Hà Nội, 32 năm trước, kỳ thi vào lớp 10 cũng căng thẳng như bây giờ, theo lời chị Phạm Thanh Mai (SN 1979, phường Hoàn Kiếm).
Hà Nội ngày ấy thi lớp 10 với hai môn toán, văn. Quanh các trường phổ thông có rất nhiều “lò luyện thi". Chị Mai học thêm văn một thầy ở phố Lò Đúc, học thêm toán một giáo viên Trường THPT Lý Thường Kiệt. Tuy nhiên, các "lò luyện" thường chỉ hoạt động khoảng 1 tháng kể từ sau kỳ thi tốt nghiệp đến trước kỳ thi lớp 10.
“Nhiều bạn bè cấp 2 của tôi không đỗ trường nào, đi học bổ túc hoặc nghỉ học. Một người bạn của tôi chuyển khẩu về Bắc Ninh, ở nhờ nhà người họ hàng để thi cấp 3 tại Bắc Ninh. Ngày đó nếu trượt công lập là trượt hẳn, không có nhiều trường tư như bây giờ để “chống trượt””, chị Mai chia sẻ.
Chị Mai có hai con, đều đã trải qua kỳ thi lớp 10 công lập tại Hà Nội. Từ trải nghiệm của hai thế hệ, chị Mai cho rằng việc thi vào cấp 3 chưa bao giờ dễ dàng trong suốt hơn 3 thập kỷ qua. Song, áp lực của thế hệ hôm nay dường như lớn hơn thế hệ cha mẹ do định kiến xã hội, chị Mai nhận định.
Với thế hệ 7X, 8X đời đầu, việc thi trượt cấp 3 chưa bị nhìn nhận một cách nặng nề. Học sinh không đỗ lớp 10 sẽ chuyển hướng học nghề hoặc tham gia thị trường lao động. Nhưng hiện tại, theo quan sát của chị Mai, một đứa trẻ không đỗ lớp 10 sẽ bị xem là một thất bại lớn, nhất là trong những gia đình có sự đầu tư cho sự học hành của con cái.
Ở góc nhìn khác, anh Nguyễn Mạnh Hùng cho rằng mưu cầu và kỳ vọng của bố mẹ thế hệ 8X vào con cái lớn hơn thế hệ ông bà. Với thế hệ ông bà, con cái chỉ cần đi học là đủ. Với thế hệ bố mẹ 8X, con cái còn phải học giỏi, đỗ trường chuyên hoặc trường “top”. Chính tâm lý này đẩy áp lực xã hội lên cao.
Hiệu trưởng một trường THPT nhận định, kỳ vọng của phụ huynh là chính đáng. Song, con đường học tập không chỉ có một lối đi duy nhất.
“Học lớp 10 công lập có thể là con đường thuận lợi, nhưng không phải con đường duy nhất và phù hợp nhất với tất cả học sinh”, vị hiệu trưởng nói.
Tin Gốc: Dân Trí

Ngày 4/6, đại diện Đại học Huế cho biết Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có quyết định giao quyền Giám đốc Đại học Huế đối với Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Vũ Quốc Huy - Hiệu trưởng Trường đại học Y dược (Đại học Huế).
Ông Nguyễn Vũ Quốc Huy được giao quyền Giám đốc cho đến khi Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo có quyết định mới về nhân sự Giám đốc Đại học Huế. Ông Huy được hưởng lương, phụ cấp và các chế độ theo quy định hiện hành.
Theo thông tin của Đại học Huế, Giáo sư Nguyễn Vũ Quốc Huy (SN 1969, quê quán thành phố Huế) là nhà khoa học đầu ngành trong lĩnh vực sản phụ khoa, nhà quản lý giáo dục giàu kinh nghiệm. Ông cũng là một trong những gương mặt tiêu biểu của Đại học Huế trong đào tạo, nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế.
Ông Huy có trình độ lý luận chính trị cao cấp và sử dụng thành thạo tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Đức, được Đảng và nhà nước trao tặng nhiều phần thưởng cao quý.
Năm 2024, ông được Tổng thống Pháp trao tặng Huân chương Công trạng quốc gia với tước hiệp sĩ nhờ những đóng góp đối với cộng đồng Pháp ngữ y khoa tại Huế nói riêng và mối quan hệ Pháp - Việt nói chung.
Trước đó, ngày 18/1, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố Huế đã khởi tố, bắt tạm giam đối với ông Lê Anh Phương, Giám đốc Đại học Huế, về tội Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản.
Kể từ khi ông Phương bị khởi tố, Đại học Huế khuyết chức danh Giám đốc. Ông Bùi Văn Lợi, Phó Giám đốc phụ trách được giao điều hành Đại học Huế cho đến nay.
Tin Gốc: Dân Trí

Daniel Gabriel Fahrenheit sinh năm 1686 tại thành phố cảng Danzig (nay là Gdańsk, Ba Lan), trong một gia đình thương nhân khá giả. Nhưng cuộc đời của ông sớm rẽ hướng sau một bi kịch khó tin: cha mẹ qua đời vì vô tình ăn phải nấm độc. Ở tuổi 15, cậu bé mồ côi được những người giám hộ gửi sang Amsterdam học nghề kế toán.
Nhưng thay vì chăm chú sổ sách, Fahrenheit dành phần lớn thời gian cho vật lý, toán học và đặc biệt là kỹ thuật thổi thủy tinh. Niềm đam mê này đã đưa ông đến với một phát minh đang gây chú ý thời bấy giờ là Florentine thermometer, loại nhiệt kế sử dụng chất lỏng giãn nở.
Dù là bước tiến lớn, thiết bị này lại tồn tại một vấn đề nghiêm trọng: không có chuẩn đo lường chung, khiến mỗi chiếc nhiệt kế cho ra kết quả khác nhau.
Ý tưởng về một hệ đo nhiệt độ chính xác, có thể dùng ở mọi nơi ám ảnh chàng trai trẻ. Nhưng để theo đuổi nó, ông cần tiền. Vì không thể sử dụng khoản thừa kế nhỏ mà cha mẹ để lại cho đến khi đủ 24 tuổi, Fahrenheit phải vay mượn để làm thí nghiệm, rồi nhanh chóng rơi vào nợ nần.
Những người giám hộ của ông, vốn phải chịu trách nhiệm pháp lý, đã tìm cách bắt và đưa ông sang Indonesia để làm lao động hàng hải để trả nợ. Nhưng Fahrenheit đã kịp đào tẩu.
Trong gần một thập kỷ sau đó, ông lang bạt qua nhiều nước châu Âu, từ Đức, Đan Mạch đến Thụy Điển và Ba Lan, vừa trốn chạy, vừa học hỏi. Ông tiếp xúc các nhà khoa học, cải tiến kỹ thuật chế tác thủy tinh và cho ra đời những phiên bản nhiệt kế chính xác hơn.
Ông có bước đột phá lớn khi bắt đầu thử nghiệm với các dụng cụ chứa thủy ngân thay vì cồn. Không chỉ có nhiệt độ sôi cao hơn, thủy ngân còn không bám vào thành ống thủy tinh, giúp phép đo ổn định và chính xác hơn đáng kể.
Nhờ đó, năm 1714, ở tuổi 28, ông chế tạo thành công những chiếc nhiệt kế đầu tiên cho kết quả đồng nhất - một cột mốc quan trọng trong lịch sử đo lường.
Không dừng lại, Fahrenheit còn xây dựng cả một hệ thang đo. Lúc đó, hệ thập phân chưa được sử dụng rộng rãi, nên những số chia hết cho nhau được coi là đẹp nhất, vì tránh được việc phải dùng phân số.
Vì vậy, ông chọn khoảng từ 0 đến 96 độ, trong đó 96 có nhiều ước số, chia hết cho 2, 3, 4, 6, 8, 12 và nhiều số khác nữa. Mốc 0°F được định nghĩa là nhiệt độ đóng băng của hỗn hợp nước muối và đá, còn 96°F là nhiệt độ cơ thể người. Theo cách này, nước đóng băng ở 32°F, một mốc đẹp chính xác là 1/3 quãng đường từ 0 đến 96, và sôi ở 212°F, cách điểm đóng băng của nước 180 độ, lại là một số có nhiều ước số khác.
Thang đo của Fahrenheit nhanh chóng được đón nhận, đặc biệt tại Anh, nơi ông là thành viên của Viện Hàn lâm khoa học Hoàng gia. Khi Đế quốc Anh mở rộng, hệ đo này lan rộng khắp thế giới trong suốt thế kỷ 18-19.
Sự thống trị này kéo dài cho tới năm 1742, khi nhà thiên văn học Thụy Điển Anders Celsius giới thiệu một thang đo mới đơn giản hơn, dựa trên hai mốc 0 và 100. Sau Cách mạng Pháp, hệ mét, bao gồm thang độ Celsius, nhanh chóng được châu Âu và phần lớn thế giới chấp nhận.
Cuộc đời Fahrenheit khép lại vào năm 1736 ở tuổi 50, được cho là do nhiễm độc thủy ngân sau nhiều năm tiếp xúc gần với chúng. Dù thang đo của ông dần bị thay thế ở nhiều nơi, nó vẫn tồn tại mạnh mẽ tại Mỹ - một trong số ít quốc gia còn sử dụng hệ này.
Tin Gốc: Vnexpress

