Vì sao nhập khẩu nông sản Campuchia tăng vọt?

Vì sao nhập khẩu nông sản Campuchia tăng vọt?

Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp – Môi trường, trong 5 tháng đầu năm 2026, Việt Nam chi 22,3 tỉ USD nhập khẩu nông sản, tăng đến 12,6% so với cùng kỳ năm ngoái. Mỹ tiếp tục là nguồn cung nông sản lớn nhất cho Việt Nam với thị phần chiếm 10%; Trung Quốc đứng ở vị trí thứ 2 với 9,6%; và Campuchia đứng thứ 3 với 9,4%. Đáng chú ý, giá trị nhập khẩu từ thị trường Campuchia tăng tới 23,2% so với cùng kỳ năm 2025.

Mặt hàng nhập khẩu đáng kể nhất là hạt điều. Trong 5 tháng qua, Campuchia là nguồn cung hạt điều lớn nhất cho Việt Nam với thị phần 67,1%, tương đương 1 triệu tấn và giá trị 1,74 tỉ USD. Bên cạnh hạt điều, Campuchia cũng là nguồn cung cao su số 1 cho Việt Nam với thị phần 22,5%. Việt Nam đã chi khoảng 270 triệu USD để nhập cao su từ Campuchia, so với Trung quốc với 19,7% và Hàn Quốc là 12% thị phần.

Bên cạnh 2 mặt hàng chủ lực này, Campuchia còn là nguồn cung một số loại nông sản quan trọng khác như lúa gạo và rau quả theo mùa. Không chiếm ưu thế tuyệt đối như hạt điều hay cao su, nhập khẩu rau quả từ Campuchia trong 4 tháng đầu năm đạt 37 triệu USD, tăng 47% so với cùng kỳ năm trước. Nước này trở thành nguồn cung rau quả lớn thứ 5 cho Việt Nam. Đối với mặt hàng lúa gạo, không có con số thống kê cụ thể nhưng nhiều chuyên gia ước tính giá trị nhập khẩu trong 5 tháng qua từ Campuchia khoảng 500 triệu USD.

Có thể nhận thấy, những nông sản mà Việt Nam nhập khẩu từ Campuchia đều là những mặt hàng Việt Nam có thế mạnh trong lĩnh vực chế biến xuất khẩu. Cụ thể như hạt điều, Việt Nam nhập khẩu điều thô từ Campuchia và các nước châu Phi về chế biến xuất khẩu. Nhờ vậy mà liên tiếp hơn chục năm qua, Việt Nam liên tục duy trì vị thế là nhà xuất khẩu hạt điều nhân lớn nhất thế giới. Trong 5 tháng qua, Việt Nam đã xuất được 264.000 tấn, mang về giá trị 1,85 tỉ USD, giảm 4,5% về lượng và gần 2% về giá trị, dù giá xuất khẩu bình quân tăng 2,7% so với cùng kỳ năm trước.

Tương tự, Việt Nam cũng nhập khẩu một lượng lớn lúa hàng hóa của nông dân khu vực giáp biên giới về tiêu thụ. Nguồn hàng này góp phần bổ sung lượng gạo xuất khẩu cho Việt Nam, có giai đoạn đạt sản lượng đến 8 – 9 triệu tấn/năm. Điều tương tự cũng được nhìn thấy với mặt hàng cao su và một số ngành hàng khác.

Theo các chuyên gia, nắm giữ số lượng lớn về nguồn cung cũng đồng nghĩa với một sức mạnh đáng kể trên bàn đàm phán. Việc nhập khẩu nông sản từ các nước về chế biến xuất khẩu cho thấy sự linh hoạt, chủ động của doanh nghiệp Việt Nam cũng như xu hướng chuyển mạnh từ xuất khẩu những thứ sẵn có sang chế biến và thương mại.

Ở chiều ngược lại, trong 4 tháng đầu năm 2026, Campuchia cũng trở thành thị trường tiêu thụ rau quả lớn thứ 8 của Việt Nam và cũng là thị trường có tốc độ tăng trưởng mạnh nhất. Số liệu từ Hải quan, lũy kế 4 tháng qua đạt gần 28 triệu USD tăng đến 259% so với năm 2026.

Ông Đặng Phúc Nguyên, Tổng thư ký Hiệp hội Rau quả Việt Nam (VINAFRUIT), nhận xét: Nhu cầu của Campuchia rất đa dạng từ trái cây như sầu riêng, xoài, mít, thanh long, nhãn, chôm chôm, bưởi, cam… đến rau củ các loại gồm tỏi, hành tây, hành lá… Nhờ vị trí địa lý giáp biên giới với các tỉnh miền Tây, rau quả được vận chuyển sang biên giới với số lượng lớn theo mùa vụ. Đặc biệt, khi căng thẳng biên giới với Thái Lan nổ ra, người Campuchia ngày càng đẩy mạnh tiêu thụ hàng Việt Nam. Đây là thời cơ thuận lợi để các doanh nghiệp Việt Nam đẩy mạnh xuất khẩu vào thị trường này. Tuy nhiên, hạn chế cần lưu ý là hoạt động xuất khẩu chủ yếu vẫn theo đường tiểu ngạch nên thiếu tính bền vững và còn nhiều rủi ro.

  Phó thủ tướng yêu cầu xử lý phản ánh của Báo Thanh Niên về quốc lộ quá tải

Ông Nguyễn Quý, Giám đốc marketing và xuất khẩu Công ty CP Sản xuất thực phẩm Anh Kim (AK FOOD) – chủ sở hữu thương hiệu cháo dinh dưỡng Cây Thị, kể: Trước đây, ngoài thị trường trong nước, công ty tập trung xuất khẩu vào các thị trường cao cấp như Mỹ, Úc, New Zealand. Nhưng thời gian gần đây, nhận thấy thị trường các nước lân cận như Campuchia, Lào hay Thái Lan rất tiềm năng, nhất là phân khúc sản phẩm thiết yếu nên công ty đã đẩy mạnh xuất khẩu vào các thị trường này. “Nếu các thị trường cao cấp doanh nghiệp Việt thường hướng đến phân khúc người gốc Việt và gốc Á, thì ở các thị trường lân cận này nhờ văn hóa khá tương đồng nên đối tượng tiêu dùng lớn hơn rất nhiều. Từ đầu năm đến nay, chúng tôi đang tập trung mở rộng thị trường Lào và Campuchia. Những lô hàng đầu tiên cũng đã xuất khẩu thành công và tiếp tục đàm phán với các khách hàng mới”, ông Nguyễn Quý cho hay.

Ở một góc nhìn rộng hơn, TS Trần Hữu Hiệp, Trường ĐH FPT Cần Thơ, phân tích: Việc xuất khẩu và nhập khẩu nông sản giữa các quốc gia không còn đơn thuần là hoạt động mua – bán hàng hóa mà là sự tham gia vào chuỗi giá trị xuyên biên giới. Ở nơi đó, mỗi quốc gia phát huy lợi thế so sánh của mình để đáp ứng nhu cầu của nhau. Từ thực tế của các mặt hàng như hạt điều, cao su hay lúa gạo cho thấy Việt Nam đang vươn mình trở thành trung tâm chế biến nông sản của khu vực. Điều đáng quan tâm hơn không phải là nhập khẩu bao nhiêu mà là Việt Nam sẽ tham gia chuỗi giá trị nông sản khu vực ở vị trí nào. Thay vì chỉ dừng ở quan hệ thương mại thuần túy, chúng ta hoàn toàn có thể chủ động thúc đẩy một chiến lược liên kết sản xuất nông nghiệp tiểu vùng Mekong với Lào và Campuchia, hai quốc gia gần gũi và gắn bó lâu năm với Việt Nam. Đây là không gian kinh tế nông nghiệp có nhiều điều kiện tương đồng về khí hậu, đất đai, nguồn nước và cơ cấu cây trồng.

Theo TS Trần Hữu Hiệp, trong giai đoạn tới, cần khuyến khích doanh nghiệp Việt Nam đầu tư phát triển các vùng nguyên liệu quy mô lớn tại Lào và Campuchia đối với các ngành hàng có lợi thế như lúa gạo, điều, cao su, trái cây nhiệt đới và thủy sản nước ngọt. Việt Nam có thế mạnh về giống cây trồng, kỹ thuật canh tác, tổ chức sản xuất, logistics, chế biến và thị trường xuất khẩu trong khi nhiều địa phương của Lào và Campuchia còn dư địa lớn về đất đai và quy mô sản xuất. Sự kết hợp này sẽ tạo nên lợi thế cạnh tranh mới cho toàn tiểu vùng sông Mekong.

TS Trần Hữu Hiệp khuyến nghị: “Việt Nam cần chuyển mạnh từ tư duy xuất khẩu nguyên liệu sang tư duy dẫn dắt chuỗi giá trị. Điều đó đồng nghĩa với việc tập trung vào chế biến sâu, phát triển công nghiệp thực phẩm, ứng dụng công nghệ bảo quản hiện đại, xây dựng thương hiệu nông sản và hệ thống truy xuất nguồn gốc đạt tiêu chuẩn quốc tế”. t

Tin Gốc: Thanh Niên