“Mưa vàng” giải nhiệt đã xuất hiện ở nhiều khu vực trong cả nước từ miền Bắc, Trung và cả khu vực Tây nguyên; nhưng TP.HCM và Nam bộ nói chung vẫn tiếp tục nắng nóng hầm hập, hầu như không mưa.
Th.S Lê Thị Xuân Lan, chuyên gia khí tượng thủy văn cho biết: Theo ảnh mây vệ tinh và radar thời tiết, trong vài ngày qua trên địa bàn TP.HCM và một số nơi ở Nam bộ vẫn có mưa nhưng trong diện rất hẹp và chỉ là các cơn mưa rào thoáng qua. Bầu trời xuất hiện mây giông nhưng chủ yếu là những đám mây nhỏ và rời rạc nên gây mưa rải rác. Thời tiết khu vực về cơ bản đã không xuất hiện mưa trái mùa giải nhiệt đúng như các dự báo trước đó. Sự bất thường của thời tiết hiện nay là do rãnh thấp xích đạo ở phía nam suy giảm nhanh khiến nguồn ấm ít. Đầu tháng 4 có một vài ngày xuất hiện gió tây nam ở tầng thấp, nhưng hiện tại cũng chuyển hướng đông nam.
Áp cao cận nhiệt đới đang hoạt động tốt khống chế thời tiết toàn bộ khu vực, nén các luồng hơi ẩm từ biển vào khiến mây đối lưu không thể bốc lên cao để tạo mưa. Bên cạnh đó, vùng thấp nóng từ phía lục địa liên tục đẩy luồng khí khô nóng tràn xuống, triệt tiêu khả năng phát sinh mưa giông.
Hiện tại, không khí lạnh cường độ yếu ở phía bắc đang suy yếu, áp thấp nóng ở phía tây sẽ lấn sang TP.HCM và Nam bộ những ngày tới có xu hướng nắng nóng gia tăng trở lại. Nhưng từ nay đến giữa tháng 5, các đợt nắng nóng chỉ kéo dài khoảng 3 – 5 ngày vì khoảng 1 tuần nữa sẽ có thêm một đợt không khí lạnh mới ở phía bắc tràn về, bên cạnh đó Nam bộ chuẩn bị bước vào giai đoạn chuyển từ mùa khô sang mùa mưa.
Từ nay đến cuối tháng 4, các nhiễu động gió đông bắt đầu hoạt động trở lại gây mưa trái mùa rải rác ở một số khu vực, chủ yếu vào chiều tối.
Khác với sự mòn mỏi mong mưa của người dân TP.HCM và các tỉnh thành Nam bộ, trong tuần qua, Tây nguyên mưa xuất hiện thường xuyên, có nơi kéo dài 3 – 4 ngày liên tiếp, nhất là ở tỉnh Lâm Đồng.
Tin Gốc: Thanh Niên
Kinh Tế
"Nước rút" xử lý trụ sở dôi dư - Bài 2: Không thiếu cơ chế, thiếu cách làm

Theo ông Nguyễn Tân Thịnh - Cục trưởng Cục Quản lý công sản (Bộ Tài chính), quá trình xử lý các cơ sở nhà, đất dôi dư do sáp nhập đơn vị hành chính và tinh gọn bộ máy được chia thành 3 giai đoạn.
Giai đoạn đầu là trước khi sắp xếp tổ chức bộ máy, các cơ quan, đơn vị phải tiến hành kiểm kê, rà soát toàn bộ tài sản, xây dựng phương án đối với từng cơ sở nhà, đất, xác định cơ sở nào tiếp tục sử dụng, cơ sở nào điều chuyển, chuyển giao hoặc xử lý theo hình thức khác.
Giai đoạn thứ hai là khi bộ máy mới bắt đầu vận hành. Yêu cầu đặt ra là phải bảo đảm cơ sở vật chất để chính quyền hoạt động thông suốt, cung cấp dịch vụ công cho người dân, doanh nghiệp, không để gián đoạn việc giải quyết thủ tục hành chính.
"Hiện nay, chúng ta đang ở giai đoạn 3, tức là tiếp tục rà soát lại toàn bộ tài sản sau sắp xếp. Những tài sản tiếp tục sử dụng thì phải rà soát theo quy định về tiêu chuẩn, định mức. Còn những cơ sở dôi dư thì phải xử lý và đưa vào khai thác", ông Thịnh cho biết.
Theo lãnh đạo Cục Quản lý công sản, 2 giai đoạn đầu đã được thực hiện thành công. Trong giai đoạn 3, việc xử lý tiếp tục được chia thành 2 bước. Bước thứ nhất là xử lý theo quy định của pháp luật về tài sản công, xác định tài sản nào giữ lại, tài sản nào thanh lý, điều chuyển, chuyển giao về địa phương hoặc thu hồi. Đến nay, 34/34 địa phương đã hoàn thành bước này.
Tuy nhiên, nhiều cơ sở sau khi hoàn thành bước một vẫn phải tiếp tục xử lý ở bước hai mới có thể đưa vào khai thác và xử lý triệt để. Có những cơ sở được chuyển sang làm trạm y tế nên có thể sử dụng ngay. Nhưng cũng có những cơ sở sau khi thu hồi hoặc chuyển giao về địa phương thì địa phương phải tiếp tục thực hiện các thủ tục liên quan đến giao đất, cho thuê đất, cho thuê nhà, chuyển đổi công năng hoặc bố trí cho mục đích sử dụng khác. Theo ông Thịnh, đây chính là phần việc cần tập trung xử lý trong thời gian tới.
Theo báo cáo của các địa phương đến ngày 27/4, tổng số cơ sở nhà, đất dôi dư đã được thu hồi, chuyển giao về địa phương quản lý, xử lý là 11.396 cơ sở. Trong đó, 9.228 cơ sở do địa phương quyết định thu hồi, chuyển giao và 2.168 cơ sở do các cơ quan Trung ương chuyển giao về địa phương.
Đến nay, có 5.065 cơ sở hoàn thành xử lý hoặc được đưa vào khai thác. Như vậy, còn 6.331 cơ sở tiếp tục phải xử lý hoặc khai thác, trong đó 2.585 cơ sở đã có phương án xử lý, khai thác, còn 3.746 cơ sở chưa có phương án.
Theo ông Nguyễn Tân Thịnh, cơ chế, chính sách và các văn bản hướng dẫn của Trung ương đã được điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung để phù hợp với mô hình tổ chức mới.
Tuy nhiên, kết quả xử lý giữa các địa phương vẫn có sự khác biệt đáng kể. Cùng một khuôn khổ pháp lý nhưng có địa phương xử lý rất nhanh, có địa phương vẫn còn nhiều cơ sở tồn đọng, kể cả các địa phương có điều kiện tương đồng. Điều đó cho thấy yếu tố quyết định nằm ở cách tổ chức thực hiện.
Theo ông Thịnh, bên cạnh những khó khăn khách quan, thực tế triển khai tại các địa phương cũng phát sinh nhiều tình huống khác nhau. Có địa phương chỉ dôi dư vài chục hoặc vài trăm cơ sở, nhưng cũng có nơi dôi dư tới hàng nghìn cơ sở. Có nơi điều kiện thị trường thuận lợi, nhưng cũng có địa phương miền núi, vùng sâu, vùng xa nên việc khai thác hoặc cho thuê tài sản gặp nhiều khó khăn.
Ngoài ra, một số nơi còn lúng túng trong quá trình vận hành thực tế. Có những đơn vị ban đầu muốn sử dụng các trụ sở lớn, khang trang của huyện hoặc tỉnh cũ, nhưng khi đi vào hoạt động mới phát sinh chi phí vận hành lớn, vượt quá nhu cầu sử dụng thực tế. Có nơi tập trung toàn bộ cơ sở nhà, đất dôi dư để cấp xã xử lý nhưng chưa tính đến khả năng thực hiện của từng địa phương.
Bên cạnh đó còn có những khó khăn do lịch sử sử dụng nhà, đất để lại như bị lấn chiếm, thiếu hồ sơ pháp lý hoặc tài sản được xây dựng trên đất của tổ chức, cá nhân khác nên việc xử lý cần thêm thời gian.
Đánh giá về kết quả xử lý thời gian qua, ông Nguyễn Tân Thịnh cho biết một số địa phương như Quảng Ninh, Hải Phòng và Hà Nội có cách làm khá hiệu quả.
Theo ông, điểm chung của các địa phương này là có sự vào cuộc rất quyết liệt của cấp ủy, chính quyền địa phương và huy động được cả hệ thống chính trị tham gia. "Xử lý tài sản công không phải riêng ngành tài chính làm được, mà liên quan tới quy hoạch, đất đai, xây dựng, giáo dục, y tế... nên phải có nhiều cơ quan cùng phối hợp", ông Thịnh nói.
Theo lãnh đạo Cục Quản lý công sản, cách làm hiệu quả hiện nay là Sở Tài chính chủ trì, phối hợp cùng các sở, ngành xuống tận xã hoặc cụm xã để rà soát từng cơ sở cụ thể.
Các đơn vị cùng trao đổi, thống nhất phương án xử lý đối với từng cơ sở: cơ sở nào chuyển sang trường học, cơ sở nào phục vụ y tế, cơ sở nào làm nhà ở tái định cư, vườn hoa, công viên hoặc phục vụ phát triển kinh tế - xã hội; đồng thời xác định rõ hồ sơ, thẩm quyền, trình tự, thủ tục triển khai.
"Nhiều lãnh đạo địa phương vào cuộc rất sát. Có nơi lãnh đạo UBND tỉnh trực tiếp xuống hiện trường, xem bản đồ, kiểm tra thực tế rồi quyết định ngay phương án tại hiện trường nên tiến độ xử lý rất nhanh", ông Thịnh cho biết.
Theo ông, các địa phương làm tốt còn rất linh hoạt trong chuyển đổi công năng. Những cơ sở gần trường học được ưu tiên phục vụ giáo dục; gần cơ sở y tế được chuyển sang phục vụ y tế.
Có nơi phá dỡ công trình cũ để làm công viên, sân chơi công cộng hoặc mở rộng hạ tầng hiện có, đáp ứng yêu cầu ưu tiên bố trí, sắp xếp nhà, đất dôi dư cho giáo dục, y tế, thể dục thể thao và các mục đích công cộng khác.
"Quảng Ninh thậm chí còn tận dụng một số cơ sở làm nơi giới thiệu sản phẩm địa phương hoặc bố trí nhà ở tái định cư phục vụ các dự án. Khi địa phương chủ động, linh hoạt thì tốc độ xử lý sẽ nhanh hơn rất nhiều", ông Thịnh cho biết.
Ông Nguyễn Tân Thịnh cho rằng, cơ chế hiện hành về cơ bản vẫn đủ để xử lý tài sản công trong điều kiện bình thường. Tuy nhiên, đợt sắp xếp lần này có đặc điểm khác biệt là số lượng cơ sở nhà, đất dôi dư phát sinh rất lớn trong thời gian ngắn, trong khi yêu cầu đặt ra là phải xử lý nhanh.
Kết luận số 27 của Ban Bí thư về tình hình chủ yếu các địa phương quý I, phương hướng, nhiệm vụ quý II/2026 đã nêu rõ yêu cầu hoàn thành việc xử lý, sắp xếp, sử dụng tài sản công, trụ sở dôi dư trong quý II/2026.
Trên cơ sở tổng hợp các khó khăn, vướng mắc và kiến nghị từ các bộ, ngành, địa phương, Bộ Tài chính đã xây dựng dự thảo Nghị quyết đặc thù về cơ chế đẩy nhanh tiến độ khai thác, xử lý các cơ sở nhà, đất dôi dư để trình Chính phủ xem xét, quyết định.
Tinh thần xuyên suốt của dự thảo là tăng phân cấp, rút ngắn thủ tục, đơn giản hóa quy trình nhưng vẫn bảo đảm nguyên tắc quản lý chặt chẽ tài sản công. Định hướng mới không chỉ tập trung vào bảo toàn tài sản trên hồ sơ mà đặt trọng tâm vào hiệu quả khai thác thực tế và khả năng nhanh chóng đưa tài sản quay trở lại phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.
Một trong những nội dung đáng chú ý là cơ chế cho thuê tài sản công theo hướng linh hoạt hơn. Bộ Tài chính đề xuất đơn giản hóa việc xác định giá cho thuê, không bắt buộc thực hiện đầy đủ quy trình thẩm định phức tạp như hiện nay; đồng thời phân cấp cho đơn vị quản lý nhà hoặc Chủ tịch UBND cấp xã quyết định giá thuê trong một số trường hợp.
Trường hợp đấu giá không thành, địa phương có thể điều chỉnh giảm giá để sớm đưa tài sản vào khai thác thay vì tiếp tục để trống kéo dài. Với các cơ sở nhà, đất được giao cho tổ chức quản lý, kinh doanh nhà của địa phương khai thác, Bộ Tài chính đề nghị thực hiện theo hướng "làm đến đâu ban hành giá cho thuê đến đó", không chờ hoàn thiện đồng bộ toàn bộ cơ chế.
Dự thảo cũng cho phép bên thuê được chủ động cải tạo, sửa chữa tài sản phục vụ nhu cầu sử dụng nếu không ảnh hưởng kết cấu công trình; chi phí do bên thuê tự chịu và có thể được xem xét kéo dài thời gian thuê trong trường hợp có đầu tư lớn.
Để rút ngắn thời gian xử lý, Bộ Tài chính đề xuất cho phép chuyển giao nhà, đất theo nguyên trạng, kể cả khi hồ sơ pháp lý chưa hoàn thiện hoặc tài sản đang bị lấn chiếm. Các tồn tại liên quan sẽ tiếp tục được xử lý trong quá trình quản lý sau đó thay vì phải hoàn tất toàn bộ hồ sơ mới được bàn giao.
Tin Gốc: Người Đưa Tin

Dự thảo xây dựng hệ số K để điều chỉnh giá đất cho 168 phường, xã, đặc khu tại TP.HCM theo từng tuyến đường đối với 2 loại đất gồm đất phi nông nghiệp, được áp dụng từ ngày 1.7.2026 trên địa bàn TP.HCM.
Đối với đất phi nông nghiệp (gồm đất ở, đất thương mại dịch vụ, đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp không phải là đất thương mại - dịch vụ) tại vị trí 1 theo bảng giá đất có hệ số K quy định tại cột 8, cột 9, cột 10 tương ứng của Phụ lục I kèm theo. Đối với đất phi nông nghiệp, vị trí 2, vị trí 3, vị trí 4 thì xác định bằng hệ số K tương ứng nhân (x) 1,35 lần.
Theo dự thảo, tại 3 tuyến đường Lê Lợi, Nguyễn Huệ, Đồng Khởi có hệ số K là 1,39. Tại nhiều tuyến đường ở TP.HCM có hệ số K áp dụng đối với đất ở từ 1 - 2,59 lần.
Trong khi đó, hệ số K đối với đất nông nghiệp theo dự thảo dao động từ 1 lần đến 10,56 lần. Hệ số K của đất nông nghiệp cao nhất ở các địa phương đang có quá trình đô thị hóa mạnh như tuyến đường Nguyễn Thị Tú, Trần Văn Giàu ở xã Tân Vĩnh Lộc có hệ số K lên đến 10,12 lần hay tại xã Hồ Tràm có hệ số K lên đến 10,56 lần.
Tại đặc khu Côn Đảo, toàn bộ đất phi nông nghiệp đều có hệ số K là 2,21 lần, còn đất nông nghiệp có hệ số K từ hơn 4 lần đến hơn 8 lần.
Dự thảo cũng quy định hệ số K tương ứng với hệ số sử dụng đất cho các khu đất, thửa đất. Trong đó, hệ số K được tính theo nguyên tắc, các khu đất, thửa đất có hệ số sử dụng đất cứ mỗi bước tăng thêm 1 lần thì hệ số K theo quy hoạch tăng thêm 0,1 lần. Cụ thể, các khu đất, thửa đất có hệ số sử dụng đất nhỏ hơn 4,00 lần thì hệ số K là 1,00 lần; khu đất, thửa đất có hệ số sử dụng đất từ 4,00 lần đến dưới 5,00 lần thì hệ số K là 1,10 lần; khu đất, thửa đất có hệ số sử dụng đất từ 5,00 lần đến dưới 6,00 lần thì hệ số K là 1,20 lần...
Theo Nghị quyết 254 của Quốc hội, 7 trường hợp phải tính theo bảng giá đất nhân với hệ số K gồm giá đất tính tiền sử dụng đất tại nơi tái định cư; tính tiền sử dụng đất khi công nhận quyền sử dụng đất ở, chuyển mục đích sử dụng đất; tính tiền thuê đất khi Nhà nước cho thuê đất thu tiền hằng năm; tính tiền sử dụng đất, tiền thuê đất theo hình thức giao đất có thu tiền hoặc cho thuê đất thu tiền 1 lần; tính giá khởi điểm đấu giá quyền sử dụng đất đối với khu đất đã đầu tư hạ tầng; tính tiền sử dụng đất khi giao đất không thông qua đấu giá; tính tiền sử dụng đất khi bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước cho người đang thuê.
Điều này đồng nghĩa với việc khi người dân chuyển mục đích sử dụng đất từ ngày 1.7.2026 trở về sau sẽ phải lấy bảng giá đất nhân thêm hệ số K, thay vì chỉ tính theo bảng giá đất như hiện nay.
Ngoài ra, việc tính tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với tổ chức kinh tế và tiền bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất cũng thực hiện theo bảng giá đất nhân với hệ số K.
Theo quy định tại Nghị quyết 254, chậm nhất trước ngày 1.7.2026, các tỉnh, thành phố phải ban hành hệ số K.
Tin Gốc: Thanh Niên
Kinh Tế
Nhiệt điện Hải Phòng kinh doanh ra sao trước khi TGĐ Dương Sơn Bá bị bắt?

Theo thông tin BCTC kỳ mới nhất mà Công ty CP Nhiệt điện Hải Phòng (Nhiệt điện Hải Phòng; UpCOM: HND) công bố, trong năm 2025, công ty ghi nhận doanh thu giảm hàng nghìn tỷ đồng nhưng vẫn thu được kết quả lợi nhuận khả quan.
Theo đó, trong năm 2025, HND ghi nhận doanh thu đạt hơn 9.730 tỷ đồng, giảm 1.300 tỷ đồng so với năm trước, tuy nhiên, lợi nhuận sau thuế của đơn vị này vẫn ghi nhận hơn 342 tỷ đồng, tăng hơn 83 tỷ đồng so với năm trước.
Trong năm 2025, HND ghi nhận tổng chi phí hơn 9.360 tỷ đồng, trong đó chi phí nguyên vật liệu chiếm tỉ trọng lớn với hơn 7.721 tỷ đồng, tiếp theo sau là chi phí sửa chữa TSCĐ hơn 497 tỷ đồng, chi phí khấu hao hơn 480 tỷ đồng... bên cạnh một số chi phí đáng chú ý khác như chi phí dịch vụ mua ngoài hơn 86 tỷ đồng và chi phí khác hơn 100 tỷ đồng.
Lý giải về sự biến động trái chiều này, HND cho biết trong năm các yếu tố như giá vốn hàng bán giảm hơn 1.370 tỷ đồng, mạnh hơn mức giảm của doanh thu, bên cạnh đó công ty cũng ghi nhận các khoản tăng từ doanh thu hoạt động tài chính 10,83 tỷ đồng, trong khi các khoản chi phí tài chính, chi phí khác liên quan ghi nhận giảm đã làm cho lợi nhuận sau thuế tăng như nêu trên.
Trong kết quả kinh doanh, với sự hiện diện của các cổ đông lớn là những đơn vị hàng đầu trong ngành năng lượng, Nhiệt điện Hải Phòng duy trì kết quả kinh doanh tương đối bình lặng nhiều năm qua. Cụ thể, năm 2022 HND ghi nhận doanh thu hơn 10.500 tỷ đồng, LNST hơn 455 tỷ đồng, năm 2023 ghi nhận doanh thu hơn 11.442 tỷ đồng và LNST hơn 441 tỷ đồng, tương tự HND duy trì kết quả doanh thu quanh mốc 10.000 tỷ đồng trong các năm tiếp theo.
Cũng theo tìm hiểu của Người Đưa Tin, Nhiệt điện Hải Phòng được thành lập vào năm 2002. Trong đó, cổ đông nắm giữ cổ phần chi phối là Tổng Công ty Phát điện 2 (EVNGENCO2) với tỉ lệ sở hữu 51% vốn điều lệ. Bên cạnh đó là các đơn vị góp vốn lớn còn lại gồm: Nhiệt điện Phả Lại nắm 25,97%, Tổng công ty Điện lực - TKV nắm hơn 7,2%...
Liên quan việc lãnh đạo Tổng Giám đốc công ty là ông Dương Sơn Bá bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an khởi tố bị can, bắt tạm giam về hành vi "làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức", trong diễn biến mới nhất, HĐQT Nhiệt điện Hải Phòng đã thống nhất giao ông Tạ Công Hoan, Chủ tịch HĐQT HND làm Người đại diện theo pháp luật thay thế ông Dương Sơn Bá. Ngày bắt đầu có hiệu lực từ 21/5/2026.
Một chi tiết đáng chú ý khác, cách đây gần một năm, ngày 30/6/2025, HĐQT Nhiệt điện Hải Phòng đã miễn nhiệm ông Dương Sơn Bá, TGĐ công ty và giao cho quyền TGĐ cho ông Trần Xuân Trường, thời điểm chuyển giao ngày 1/7/2025. Tuy nhiên, tới ngày 15/8, HND tiếp tục có quyết định bổ nhiệm lại chức vụ TGĐ cho ông Dương Sơn Bá, thời gian hiệu lực "hồi tố" từ ngày 1/7/2025.
Về thu nhập, trong dàn lãnh đạo của công ty, ông Tạ Công Hoan giữ chức Chủ tịch HĐQT và ông Lê Minh Tuấn có mức thu nhập/thù lao lần lượt 637 triệu đồng và 538 triệu đồng trong năm 2025, vượt xa mức chung 72 triệu đồng của các thành viên HĐQT khác.
Về phía Ban Giám đốc công ty, ông Dương Sơn Bá trước khi bị bắt ghi nhận mức lương năm 2025 là 654 triệu đồng, các ông Lê Anh Tân và Trần Xuân Trường (Phó TGĐ) cùng ông Phạm Quốc Toàn (Kế toán trưởng) nhận mức lương hơn 500 triệu đồng trong năm 2025. Ngoài ra, bà Phạm Thị Dung, Trưởng Ban Kiểm soát nhận mức thù lao khoảng hơn 540 triệu đồng mỗi năm.
Tại ngày cuối quý IV/2025, HND ghi nhận tổng tài sản đạt hơn 7.355 tỷ đồng, trong đó các tài sản chiếm tỉ trọng lớn như: tài sản cố định hơn 2.715 tỷ đồng, các khoản tiền và tương đương tiền hơn 941 tỷ đồng, các khoản đầu tư tài chính gần 770 tỷ đồng bao gồm tiền gửi ngắn hạn và đầu tư vào các đơn vị khác.
Về nguồn vốn, HND có vốn chủ sở hữu đạt hơn 5.980 tỷ đồng, các khoản nợ đáng chú ý tập trung ở khoản thanh toán cho người bán hơn 1.171 tỷ đồng, gần như không ghi nhận nợ vay tài chính từ các tổ chức tín dụng tại ngày cuối năm 2025.
Tin Gốc: Người Đưa Tin

