Chiều 22/5, Nguyễn Thị Quỳnh Như, 11 tuổi, lái xe máy điện chở theo Nguyễn Quang Quý, 13 tuổi và Nguyễn Tuấn Hưng, 11 tuổi, cùng trú xóm 2, thôn Minh Trung, xã Trường Giang, đến khu vực sông Trà Khúc đoạn qua xóm 4, thôn Minh Khánh để tắm. Trong lúc vui chơi, cả ba bị nước cuốn mất tích.
Chính quyền địa phương huy động công an, dân quân cùng hàng chục người dân tổ chức tìm kiếm dọc khu vực xảy ra vụ việc xuyên đêm. Đoạn sông các em gặp nạn ở phía bờ bắc thuộc xã Trường Giang có bãi cát rộng hàng trăm mét, nhiều người đốt lửa cắm trại và tắm sông. Tuy nhiên phía nam sông nhiều đoạn nước sâu, chảy xiết.
Đến khoảng 6h ngày 23/5, người dân phát hiện thi thể em Như tại khu vực xóm 2, thôn Minh Thành và em Quý tại xóm 4, thôn Minh Khánh. Gần 3 tiếng sau, lực lượng chức năng tìm thấy thi thể em Hưng. Cơ quan chức năng đang làm rõ nguyên nhân vụ việc.
Sông Trà Khúc là con sông lớn nhất Quảng Ngãi, từng xảy ra nhiều vụ đuối nước. Mười năm trước, 9 nam sinh ở xã Nghĩa Hà, nay là xã An Phú, tử vong khi nhảy xuống cứu bạn trên sông này.
Thời gian gần đây, nhiều vụ học sinh đuối nước liên tiếp xảy ra tại các địa phương khi vừa kết thúc năm học, bắt đầu nghỉ hè. Ngày 18/5, 5 học sinh lớp 7-8 tử vong khi tắm sông Lô sau giờ ôn thi ở Phú Thọ. Trước đó hai ngày, 4 học sinh ở xã Hòa Mỹ, Đăk Lăk, cũng bị nước cuốn tử vong khi tắm sông Bánh Lái.
Theo thống kê, gần 2.000 trẻ Việt Nam tử vong mỗi năm do đuối nước, nằm trong nhóm có tỷ lệ tử vong do nguyên nhân này cao nhất khu vực Tây Thái Bình Dương.
Tin Gốc: Vnexpress

Giữa không gian "Bảo tàng nấm" trong khuôn viên Trường đại học Tây Nguyên (Đắk Lắk), PGS-TS Nguyễn Phương Đại Nguyên, Trưởng phòng Đào tạo, tỉ mỉ nghiên cứu các quy trình nhân giống nấm quý hiếm với kế hoạch tái tạo trong môi trường tự nhiên.
PGS-TS Nguyễn Phương Đại Nguyên chia sẻ với chúng tôi, bản thân ông đã có niềm yêu mến với việc tìm hiểu các loại nấm mọc trong môi trường tự nhiên lúc còn sinh viên. Từ năm 2007, trong những chuyến vào rừng già tìm kiếm các loài nấm quý hiếm, ông cùng nhóm nghiên cứu đã trải qua nhiều lần đối mặt hiểm nguy.
Ông Nguyên kể lại, các vườn quốc gia và khu bảo tồn ở Tây nguyên có địa hình rất phức tạp, bị chia cắt nhiều nơi khiến việc di chuyển khó khăn. Thông qua sự giúp đỡ của cán bộ kiểm lâm, bảo vệ rừng, nhóm nghiên cứu đã tìm thấy, thu thập nhiều mẫu nấm quý hiếm đầu tiên.
"Vào mùa mưa là thời điểm nấm xuất hiện nhiều. Chúng tôi phải vượt qua nhiều dạng địa hình khác nhau, băng qua nhiều khu rừng trong các chuyến khảo sát thực địa. Những đợt có sinh viên, nghiên cứu sinh đi theo đoàn cũng gặp rất nhiều bất trắc gây nguy hiểm đến tính mạng. Lúc vào rừng, thời tiết khá đẹp và có thể băng qua suối dễ dàng. Tuy nhiên, đến chiều quay trở về, những con suối đã biến thành sông do mưa lớn ở thượng nguồn. Lúc này, chúng tôi phải tự sinh tồn, bám trụ lại rừng và tìm kiếm các loài thực vật, chẳng hạn như nấm để cầm cự cái đói, cái rét", ông Nguyên chia sẻ.
Ngoài việc ảnh hưởng bởi thời tiết, việc lấy mẫu nấm cũng không kém phần khó khăn, kỳ công. Khi lấy mẫu nấm, đoàn nghiên cứu phải hết sức cẩn thận, tránh gây gãy đổ và chỉ lấy một mẫu nhỏ đối với các loài nấm có trong Sách đỏ Việt Nam nhưng không gây ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây.
Mục đích lớn nhất của đoàn nghiên cứu là làm sao bảo tồn các loài nấm quý hiếm đang ngày càng hạn chế, khó tìm, có thể sẽ mất đi trong tương lai. Trong 20 năm qua, ông Nguyên đã thu thập, trưng bày hàng trăm mẫu nấm của các tỉnh Tây nguyên cũ trong một phòng thí nghiệm tại trường.
Ngoài ra, ông còn thu thập được khoảng 1.000 mẫu nấm các loại nhưng chưa có không gian để trưng bày. Với ông, nguyên tắc thu mẫu ngoài tự nhiên phải được bảo quản, lưu trữ tốt.
Ông Nguyên cho biết: "Khoảng 5 năm trở lại đây, nhiều loại nấm ngoài tự nhiên đã ít xuất hiện, số lượng giảm sút đáng kể do nhiều yếu tố khác nhau. Thứ nhất, người dân lên rừng thu hái về sẽ không quan tâm việc bảo tồn dẫn đến số lượng suy giảm. Thương lái ở các khu vực gần rừng thu mua và bán cho thị trường Trung Quốc. Thứ hai là biến đổi khí hậu cũng ảnh hưởng đến môi trường sống của nấm".
Theo ông Nguyên, vai trò của nấm trong tự nhiên rất quan trọng, tham gia vào vòng tuần hoàn vật chất tự nhiên. Tất cả lá cây mục, nếu không có nấm sẽ khó phân hủy, có thể gây cháy rừng. Nấm đóng vai trò hoại sinh các loại cây mục, thảm mục, tăng độ mùn cho đất rừng.
Hiện tại, "Bảo tàng nấm" ở Trường đại học Tây Nguyên là một trong những nơi lưu trữ các giống nấm với số lượng khá lớn. Đối với từng loại nấm có độ quý hiếm, chức năng về dưỡng chất sẽ được phân chia một cách rõ ràng, tách biệt với các loài nấm độc.
"Bảo tàng nấm cũng là một không gian học tập dành cho các sinh viên trong trường. Sinh viên đến bảo tàng có thể tự tìm hiểu, nhận biết nhiều loại khác nhau từ nấm dược liệu đến nấm độc. Trên mỗi bình nấm ngâm trong cồn chuyên dụng đều có tên và mã QR để các sinh viên có thể thuận tiện học tập. Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi cứ tích lũy mỗi năm mỗi loại nấm, tăng thêm sự đa dạng cho bảo tàng", ông Nguyên cho hay.
Đặc biệt, nấm ở tự nhiên sẽ có màu sắc và kích thước khác với nấm đã được lấy mẫu, bảo quản. Điều dễ nhận biết nhất là màu sắc của nấm sẽ nhạt dần theo thời gian. Mỗi loại nấm tiêu bản đều có hình ảnh, ghi chú kích thước đầy đủ để sinh viên dễ so sánh.
Ông Nguyên cho biết thêm, hiện tại, các loài nấm có tính dược liệu cao đã được nuôi trồng, nhân giống trong các trang trại, chẳng hạn là dòng nấm linh chi. Quy trình nhân giống phải trải qua nhiều lần thử nghiệm, nhiều công đoạn đòi hỏi kỹ thuật cao, hiểu về tính chất và môi trường thuận lợi của nấm.
"Thật sự, hành trình phục hồi lại, trồng được các loài nấm ngoài tự nhiên là một hành trình rất gian nan, không đơn giản như chúng ta nghĩ. Khi thu mẫu nấm ngoài tự nhiên về đã xác định là loài có giá trị dược liệu. Tuy nhiên, nguồn nấm này ngày càng ít đi, chúng tôi tiến hành khảo sát, làm sao để nhân giống được. Bởi vì không phải loài nấm nào ngoài tự nhiên, chúng ta đem về đều có thể nhân giống, nuôi trồng được, mà phải có cả một quá trình rất dài", ông Nguyên nói và cho biết thêm: "Chúng tôi nghiên cứu rất nhiều công thức khác nhau để nhân giống nấm trong phòng thí nghiệm. Chúng tôi đã cho từng loại nấm phát triển trong môi trường có nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng giống với ngoài tự nhiên. Hiện nay, chúng tôi đã thí nghiệm nhân giống thành công loài nấm có tên là hắc chi (màu đen thuộc họ Ganodermataceae hay còn gọi nấm linh chi)".
Ông Nguyên và đội ngũ đang tiếp tục triển khai nhiệm vụ khoa học ở tỉnh Gia Lai, đưa nấm hắc chi từ phòng thí nghiệm ra với môi trường tự nhiên. Để một loài nấm có thể phục hồi ngoài tự nhiên sẽ mất rất nhiều thời gian. Ngoài nấm hắc chi, đội ngũ nghiên cứu của ông Nguyên còn có thể trồng thêm nhiều loại nấm quý trong Sách đỏ Việt Nam ra ngoài tự nhiên.
"Sau nhiều năm nghiên cứu, đây là một bước tiến mới trong việc tái tạo nấm trong môi trường tự nhiên. Từ nhiệm vụ khoa học ở tỉnh Gia Lai, chúng tôi có thêm động lực để tiếp tục nghiên cứu quy trình nhân giống với nhiều loài đặc biệt hiếm với mục đích phục hồi hệ sinh thái nấm, bảo tồn, gìn giữ và bảo vệ môi trường rừng…", ông Nguyên nói.
Theo ông Nguyên, trong tương lai, nhóm nghiên cứu sẽ tinh chế nấm dược liệu thành các viên nang, thực phẩm chức năng sẽ tiếp cận phổ biến đến người tiêu dùng. Nấm là loài có nhiều hợp chất tốt cho sức khỏe người, tăng sức đề kháng, giảm thiểu bệnh tiểu đường, đặc biệt có thể dùng trong bệnh ung thư.
Tin Gốc: Thanh Niên
Thời Sự
Hai vụ đuối nước liên tiếp ở Quảng Ngãi: 1 người tử vong, 1 người mất tích

Chiều 30.4, trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi xảy ra liên tiếp hai vụ đuối nước, khiến một người tử vong và một người hiện mất tích chưa tìm thấy.
Tối cùng ngày, trao đổi với PV Thanh Niên, ông Ung Đình Hiền, Chủ tịch UBND xã Vạn Tường (Quảng Ngãi), cho biết khoảng 15 giờ cùng ngày, ông Nguyễn Lành (54 tuổi, ở thôn 5, xã Vạn Tường) cùng khoảng 10 người bạn ngồi nhậu tại khu vực bờ đập Gò Lang, thôn 5. Trong lúc uống rượu, do thấy nóng, ông Lành xuống đập bơi qua bờ bên kia.
Khi bơi ra giữa đập, ông Lành bất ngờ bị đuối nước và chìm xuống. Ngay sau khi sự việc xảy ra, Ban Chỉ huy quân sự xã Vạn Tường phối hợp lực lượng Cảnh sát PCCC và cứu nạn, cứu hộ Công an tỉnh Quảng Ngãi nhanh chóng có mặt, tổ chức tìm kiếm.
Tiểu đoàn 3, Trung đoàn Cảnh sát Cơ động Nam Trung bộ đã huy động 20 cán bộ, chiến sĩ cùng xuồng máy và các phương tiện chuyên dụng, phối hợp với 9 dân quân xã Vạn Tường tích cực tìm kiếm nạn nhân. Đến tối cùng ngày, công tác tìm kiếm vẫn đang được khẩn trương triển khai.
Trước đó, khoảng 17 giờ cùng ngày, tại bãi biển Hang Câu (đặc khu Lý Sơn) xảy ra một vụ đuối nước khác. Nạn nhân được xác định là chị Trần Thị Huyền Trảng (39 tuổi, ở phường Lào Cai, tỉnh Lào Cai), là khách du lịch.
Ngay sau khi phát hiện vụ việc, người dân và lực lượng chức năng đã đưa nạn nhân lên bờ, tuy nhiên chị Trảng đã tử vong. Cơ quan chức năng đang hoàn tất các thủ tục theo quy định.
Theo nguyện vọng của gia đình, dự kiến trong tối 30.4, thi thể nạn nhân sẽ được đưa về đất liền, sau đó chuyển về quê để lo hậu sự.
Tin Gốc: Thanh Niên

Phát biểu trước Quốc hội về tình hình kinh tế - xã hội sáng 21/4, đại biểu Thạch Phước Bình, Phó đoàn đại biểu tỉnh Vĩnh Long, nhấn mạnh việc điều chỉnh mức lương cơ sở là yếu tố quyết định trực tiếp đến đời sống, động lực làm việc và chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức.
Những năm gần đây, Nhà nước đã nâng mức lương cơ sở từ 1,49 lên 1,8 rồi 2,34 triệu đồng/tháng và dự kiến tiếp tục tăng lên 2,53 triệu đồng từ 1/7/2026. Tuy nhiên theo ông, vấn đề hiện nay không còn là có tăng hay không mà là tăng ở mức nào để vừa bảo đảm đời sống, vừa phù hợp với khả năng ngân sách, đồng thời tạo động lực phát triển khu vực công.
Đại biểu đánh giá mức tăng dự kiến từ 1/7 "hợp lý về mặt kỹ thuật nhưng chưa đủ mạnh để bảo đảm cuộc sống cho đa số người làm khu vực công". Mức này chỉ tăng khoảng 8,12% so với 2,34 triệu đồng hiện hành, tức là cao hơn lạm phát bình quân năm 2025 là 3,63% và cũng cao hơn mức CPI bình quân quý 1 năm 2026 là 3,51%.
"Tuy nhiên, nếu hỏi mức đó đã đủ để người khu vực công sống được bằng lương chưa thì theo tôi là chưa, nhất là đối với người mới vào nghề, người không có nguồn thu bổ sung và người làm việc ở các đô thị lớn", đại biểu tỉnh Vĩnh Long nói.
Ông dẫn chứng một công chức mới vào nghề với hệ số 1,86 chỉ đạt khoảng 4,7 triệu đồng/tháng trước khi trừ bảo hiểm, trong khi chi phí sinh hoạt tối thiểu tại đô thị phổ biến từ 6-7 triệu đồng/tháng. Điều này cho thấy một khoảng cách đáng kể giữa thu nhập và nhu cầu sống cơ bản.
Hệ quả là người lao động khó sống độc lập bằng lương, phải phụ thuộc vào nguồn thu nhập bổ sung, làm giảm động lực và chất lượng cuộc sống. Vì vậy, theo ông, mức 2,53 triệu đồng mới chỉ đạt mục tiêu ổn định, chưa đạt mục tiêu bảo đảm đời sống.
Mặt khác, từ 1/7, lương tối thiểu vùng của khu vực doanh nghiệp dự kiến là 5,31 triệu đồng ở vùng một, 4,73 triệu đồng ở vùng hai, 4,14 triệu đồng ở vùng ba và 3,96 triệu đồng ở vùng bốn. Bình quân bốn vùng khoảng 4,47 triệu đồng/tháng. Nếu lấy mức lương cơ sở 2,53 triệu đồng nhân với hệ số khởi điểm phổ biến 1,86, tiền lương theo công thức hiện hành chỉ khoảng 4,7 triệu đồng/tháng; với hệ số 2,1 thì khoảng 5,3 triệu đồng/tháng.
"Nói cách khác, người ở nhóm thấp nhất chỉ vừa nhỉnh hơn mức lương tối thiểu vùng bình quân, còn người ở nhóm hệ số 2,1 thì chỉ vừa chạm ngưỡng vùng một", ông phân tích.
Với mặt bằng chi phí đô thị, theo đại biểu Bình, đó chỉ là mức cầm cự, chưa phải mức bảo đảm cuộc sống ổn định. Bên cạnh đó, áp lực chi tiêu cũng không nhỏ khi ngay trong năm 2025, nhiều nhóm chi phí thiết yếu tăng nhanh hơn CPI chung như nhà ở, điện, nước và vật liệu xây dựng tăng 8,3%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 12,92%. Đây đều là các khoản chi khó tránh của hộ gia đình công chức, viên chức.
Do đó, dù lương cơ sở tăng 8,12%, cảm nhận thực tế của nhiều người vẫn "chưa đạt mức an tâm", nhất là khi phải trang trải chi phí nuôi con, thuê nhà, đi lại, học hành và chăm sóc y tế.
Từ các phân tích trên, đại biểu đề xuất mức 2,65-2,7 triệu đồng/tháng, tương đương tăng khoảng 13-15% so với mức lương cơ sở hiện hành, là phương án hợp lý và khả thi hơn trong giai đoạn hiện nay. Với mức này, người có hệ số 1,86 có thể đạt khoảng 4,9-5 triệu đồng/tháng, người có hệ số 2,1 đạt trên 5,5 triệu đồng/tháng.
So với mức 2,53 triệu đồng, thu nhập tăng thêm khoảng 200.000-400.000 đồng/tháng, là mức tăng có ý nghĩa rõ rệt đối với nhóm có thu nhập thấp. Quan trọng hơn, mức này giúp thu hẹp khoảng cách với lương tối thiểu vùng của khu vực doanh nghiệp, giảm áp lực thiếu hụt chi tiêu thiết yếu cả về đời sống và tâm lý.
Theo ông, mức tăng lên 2,65-2,7 triệu đồng tuy chưa thể bảo đảm hoàn toàn sống được bằng lương ở đô thị lớn nhưng có ý nghĩa quan trọng trong việc giúp người lao động giảm phụ thuộc vào nguồn thu nhập ngoài lương, tạo cảm nhận rõ ràng về sự cải thiện thu nhập thay vì chỉ tăng danh nghĩa, qua đó góp phần ổn định tâm lý và nâng cao động lực làm việc.
Đại biểu cũng cho rằng mức 2,65-2,7 triệu đồng/tháng "không tạo áp lực quá lớn" lên ngân sách nhà nước, có thể thực hiện nếu đi kèm với tinh giản biên chế, cơ cấu lại chi tiêu công và giảm các khoản chi kém hiệu quả. Điểm mấu chốt là đạt được sự cân bằng giữa khả năng chi trả và yêu cầu cải thiện đời sống.
Cuối tháng 3, Bộ Nội vụ trình Chính phủ dự thảo nâng lương cơ sở từ 2,34 lên 2,53 triệu đồng, tương đương tăng 8,1% từ ngày 1/7 theo lộ trình điều chỉnh tiền lương khu vực nhà nước.
Mức lương cơ sở là căn cứ tính lương trong bảng lương, phụ cấp và các chế độ khác theo công thức lương = lương cơ sở x hệ số lương. Đồng thời, đây cũng là cơ sở để tính hoạt động phí, sinh hoạt phí và các khoản trích theo quy định. Cơ quan soạn thảo cho biết việc điều chỉnh là cần thiết nhằm tạo động lực làm việc, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác, góp phần cải thiện đời sống người hưởng lương và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị.
Tin Gốc: Vnexpress

