Ngày 8/4, TAND TP HCM xét hỏi bà Nguyễn Thị Như Loan (Tổng giám đốc, nguyên Chủ tịch HĐQT Công ty Quốc Cường Gia Lai) cùng các bị cáo, về các sai phạm trong chuyển nhượng hơn 6.000 m2 đất “vàng” tại 39-39B Bến Vân Đồn, gây thiệt hại hơn 542 tỷ đồng cho Nhà nước.
Bị gọi lên thẩm vấn, bà Loan cầm theo nhiều hồ sơ, cho biết tham gia giao dịch khu đất do Tập đoàn Cao su Việt Nam quản lý từ cuối năm 2013, thông qua hợp đồng hứa mua – hứa bán có công chứng với nhóm Lê Y Linh (Giám đốc Công ty Việt Tín) và Đặng Phước Dừa (Chủ tịch HĐQT Công ty Việt Tín).
Bà Loan bị cáo buộc thâu tóm khu đất khi nhận chuyển nhượng vốn tại Công ty TNHH Phú Việt Tín (do nhóm Linh, Dừa và hai công ty thuộc Tập đoàn Cao su Việt Nam thành lập) với tổng giá trị giao dịch khoảng 460,9 tỷ đồng, gồm cả tiền sử dụng đất. Dù dự án chưa hoàn tất thủ tục pháp lý, tháng 9/2014 bà tiếp tục ký thỏa thuận chuyển nhượng; đến tháng 11 cùng năm, toàn bộ vốn tại Phú Việt Tín được bán cho hai công ty thuộc Novaland với giá hơn 846 tỷ đồng.
Cơ quan tố tụng xác định bà biết bên chuyển nhượng chưa hoàn tất nghĩa vụ tài chính nhưng vẫn nhận mua rồi nhanh chóng sang tay, hưởng lợi hơn 297,8 tỷ đồng. Hành vi này là phạm tội Vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước gây thất thoát, lãng phí.
Phủ nhận biết trước vướng mắc pháp lý, đối chất gay gắt
Trả lời tòa, bà Loan cho biết trước khi ký hợp đồng đã gặp Linh tại khách sạn Rex (quận 1), yêu cầu cung cấp hồ sơ pháp lý. Sau đó Linh cho số điện thoại ông Dừa để liên hệ. Sau khi nhận hồ sơ và nghiên cứu, bà quyết định mua vì thấy Công ty Reto (do Linh đại diện) đã sở hữu 80% cổ phần. Bà khẳng định khi đó hoàn toàn không biết khu đất có nguồn gốc là tài sản Nhà nước.
Tuy nhiên, bị thẩm vấn trước đó, bị cáo Phạm Văn Thành (nguyên Trưởng ban Kế hoạch và Đầu tư, Tập đoàn Cao su Việt Nam) khai bà Loan từng liên hệ hỏi về dự án, đồng thời gặp Trần Ngọc Thuận (nguyên thành viên HĐTV, Tổng giám đốc Tập đoàn).
HĐXX vì vậy hỏi bà Loan “có cùng ông Dừa hoặc người nào của Tập đoàn Cao su Việt Nam đi tìm hiểu pháp lý dự án hay không”. Bà trả lời “không”, thêm rằng: “Bị cáo nói có cơ sở chứ không nói bằng mồm. Cho đến thời điểm làm việc với cơ quan điều tra, tức 12 năm sau, bị cáo mới biết công ty của Linh chưa thanh toán tiền sử dụng đất”.
Cựu CEO Quốc Cường Gia Lai cho biết thời điểm gặp ông Thành là sau khi đã chuyển cho nhóm Linh và Dừa 50 tỷ đồng, theo hợp đồng chuyển nhượng. Khi đó, do liên hệ ông Dừa để thúc đẩy giao dịch nhưng không được nên bà lo ngại rủi ro, mới tìm gặp ông Thành để hỏi thông tin.
Được gọi lên đối chất, bị cáo Thành khai bà Loan từng đến công ty gặp mình và được cho biết về việc hợp tác với Linh, Dừa triển khai dự án trên khu đất này.
Nghe vậy, bà Loan lập tức phản bác “không đúng”, nói chỉ khi làm việc với cơ quan điều tra mới biết mình đã “lầm”. Bà cho rằng, ngay cả thông tin tìm hiểu từ phía các sở, ngành cũng bị nhóm Linh làm giả hồ sơ nên không phát hiện dự án chưa hoàn tất nghĩa vụ tài chính.
Tiếp tục được triệu tập đối chất, bị cáo Dừa khai khi nhận 50 tỷ đồng đặt cọc từ bà Loan đã thông báo rõ tình trạng pháp lý dự án, đồng thời nói “khoản tiền này dùng để hoàn tất thủ tục khu đất”.
Bà Loan lớn giọng đáp lại: “Anh Dừa nói bằng mồm, tôi nói bằng cơ sở pháp lý”.
Khi bị HĐXX yêu cầu dừng, bà này bật khóc, cho rằng mình bị “vu khống” và khẳng định mọi lời khai đều có chứng cứ.
Thừa nhận thiếu tìm hiểu pháp lý, nhận sai khi sang nhượng cho Novaland
Sau giờ giải lao, bà Loan bình tĩnh trở lại, thừa nhận khi ký hợp đồng với ông Dừa chỉ tập trung thúc đẩy giao dịch, thanh toán mà không tìm hiểu kỹ pháp lý dự án, dẫn đến việc phải ra tòa.
Chủ tọa phân tích, bản chất giao dịch là nhận chuyển nhượng phần vốn góp hình thành từ quyền sử dụng đất, trong khi vốn đầu tư thực tế không đáng kể. “Không chỉ bị cáo, nhiều người ngồi đây, kể cả cựu lãnh đạo thành phố, cũng có sai phạm nên mới phải ra tòa hôm nay”, chủ tọa nói.
Đối với việc chuyển nhượng tiếp dự án cho phía Novaland, bà Loan thừa nhận hành vi như cáo trạng
Liên quan đến vấn đề khắc phục hậu quả vụ án, bà Loan cho biết, quá trình điều tra cho đến trước khi diễn ra phiên tòa, đã nộp khắc phục được hơn 230 tỷ đồng. Ngoài ra, bà còn bị kê biên một số bất động sản. Như vậy, theo bị cáo, bà đã khắc phục được toàn bộ hậu quả.
Bà giải thích thêm, trong số tiền bị cáo buộc hưởng lợi, thực tế đã có những khoản tiền được tính vào doanh thu của công ty, đã được chia lợi tức cho hơn 1.600 cổ đông.
Trước đó, các bị cáo là lãnh đạo, cán bộ Tập đoàn Cao su Việt Nam thừa nhận sai phạm. Trong đó, ông Lê Quang Thung (nguyên Tổng giám đốc, quyền Chủ tịch HĐQT) khai đã đồng ý chủ trương chuyển nhượng khu đất cho nhóm Linh và Dừa thông qua góp vốn lập Công ty Phú Việt Tín, kèm theo các thỏa thuận lợi ích vật chất.
Ông Thung thừa nhận đã nhận 200.000 SGD (thanh toán viện phí cho con) và 300.000 USD tiền mặt từ Linh.
Do không đủ năng lực tài chính, nhóm Linh và Dừa sau đó chuyển nhượng dự án cho bà Loan.
Vừa qua, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh (Phòng Cảnh sát kinh tế) đã ra Quyết định khởi tố vụ án, Quyết định khởi tố bị can đối với Mai Xuân Chiến (sinh năm 2001, trú tại xóm 4, xã Khánh Nhạc, tỉnh Ninh Bình) về hành vi phạm tội Xâm phạm sở hữu quyền công nghiệp.
Đây là vụ án kinh doanh hàng hóa giả mạo nhãn hiệu đã được bảo hộ tại Việt Nam xảy ra tại cửa hàng kinh doanh giầy thể thao "Bull Sneaker", có địa chỉ tại Tổ dân phố Văn Lâm, phường Nam Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình.
Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra thu giữ hàng hóa là giày, dép có trị giá hơn 3,1 tỷ đồng.
Phòng Cảnh sát kinh tế Công an tỉnh khuyến cáo doanh nghiệp và hộ kinh doanh tuân thủ nghiêm quy định của pháp luật.
Hành vi kinh doanh hàng giả, hàng hóa giả mạo nhãn hiệu không chỉ xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu nhãn hiệu, còn ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường kinh doanh, trật tự quản lý kinh tế trên địa bàn.
Việc bắt giữ, xử lý hình sự các đối tượng xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp là lời cảnh báo đối với các cá nhân, tổ chức vì lợi nhuận mà cố tình thực hiện hành vi vi phạm pháp luật trong kinh doanh hàng hóa.
Sáng 13/7, TAND TP.Hà Nội tiếp tục xét xử 19 bị cáo trong vụ án sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm xảy ra tại Công ty TNHH Công nghệ Herbitech.
Trong số 67 sản phẩm bảo vệ sức khỏe bị xác định là hàng giả có nhiều sản phẩm như Ăn ngon Baby Shark, Bổ phổi vương đan Xuyên Tâm Liên, Kha tử An phế đơn, Dạ dày Mộc Khôi, SunBee ăn ngon...
Tại phiên tòa, đại diện VKSND Tp.Hà Nội đã luận tội và đề nghị mức án đối với các bị cáo. Theo VKS, từ năm 2018 đến tháng 4/2022, Phạm Vũ Khiêm - Giám đốc Công ty Herbitech vì mục đích vụ lợi đã chỉ đạo thay đổi thành phần, hàm lượng nguyên liệu so với hồ sơ công bố để sản xuất, buôn bán 67 sản phẩm giả, tổng trị giá hơn 11 tỷ đồng, thu lợi bất chính hơn 1,3 tỷ đồng.
Bị cáo còn chỉ đạo sử dụng hai hệ thống sổ sách kế toán, bán hàng không xuất đầy đủ hóa đơn nhằm che giấu doanh thu, gây thiệt hại cho ngân sách Nhà nước hơn 51,7 tỷ đồng. Ngoài ra, Khiêm bị cáo buộc sử dụng hơn 12,3 tỷ đồng có nguồn gốc từ hành vi phạm tội để đầu tư bất động sản, xây dựng nhà máy nhằm hợp thức hóa dòng tiền.
VKS xác định Phạm Vũ Khiêm là người chủ mưu, cầm đầu, điều hành toàn bộ hoạt động phạm tội nên phải chịu trách nhiệm cao nhất trong vụ án. Đại diện VKS đề nghị phạt bị cáo 23-26 năm tù, gồm: 10-11 năm tù về tội Sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm; 8-9 năm tù về tội Vi phạm quy định về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng; 5-6 năm tù về tội Rửa tiền.
Đối với Trần Thị Huệ, quản lý Công ty Herbitech (là vợ của bị cáo Khiêm), VKS xác định bị cáo đã cùng tham gia điều hành hoạt động sản xuất, thay đổi thành phần nguyên liệu, ký hồ sơ để che giấu sai phạm, giúp sức sản xuất, buôn bán 67 sản phẩm giả có tổng trị giá hơn 11 tỷ đồng, thu lợi bất chính hơn 1,3 tỷ đồng.
Trong lĩnh vực kế toán, Huệ bị cáo buộc trực tiếp quản lý hoạt động kinh doanh, quỹ tiền mặt, thực hiện thu chi theo hai hệ thống sổ sách, thống nhất với khách hàng việc không xuất đầy đủ hóa đơn và chỉ đạo mua nguyên liệu không có hóa đơn, góp phần gây thiệt hại cho ngân sách Nhà nước hơn 51,7 tỷ đồng.
Theo VKS, Trần Thị Huệ là người thực hành tích cực, giữ vai trò giúp sức cho Phạm Vũ Khiêm trong hai tội danh trên và phải chịu trách nhiệm hình sự sau bị cáo Khiêm. VKS đề nghị xử phạt bị cáo 11-13 năm tù, gồm: 6-7 năm tù về tội Sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm và 5-6 năm tù về tội Vi phạm quy định về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng.
Đối với các bị cáo còn lại là nhân viên làm công ăn lương, giữ vai trò thứ yếu, không được hưởng lợi và phạm tội theo sự chỉ đạo của chủ doanh nghiệp, VKS đề nghị HĐXX xem xét phân hóa trách nhiệm, áp dụng các tình tiết giảm nhẹ và cho hưởng án treo đối với những trường hợp đủ điều kiện.
Trước phần luận tội, nhiều câu hỏi của bị cáo Khiêm và luật sư tham gia bào chữa tập trung vào kết luận giám định đối với các sản phẩm có kết quả "không phát hiện" hoạt chất và căn cứ để xác định đây là hàng giả.
Trả lời nội dung này, đại diện cơ quan giám định khẳng định kết luận được đưa ra dựa trên kết quả giám định đối với chính các mẫu vật được cơ quan điều tra trưng cầu. Việc vì sao giữa các mẫu cùng một lô sản phẩm lại cho kết quả khác nhau không thuộc phạm vi đánh giá của cơ quan giám định. Theo giám định viên, có nhiều nguyên nhân có thể dẫn đến hiện tượng này, như quá trình phối trộn không đồng đều hoặc chất lượng nguyên liệu đầu vào không bảo đảm.
Làm rõ hơn căn cứ xác định hàng giả, giám định viên cho biết cơ quan giám định đối chiếu kết quả phân tích với quy định của pháp luật và hồ sơ công bố sản phẩm. Trường hợp mẫu không phát hiện hoạt chất chính hoặc hàm lượng hoạt chất chính thấp hơn 70% so với mức công bố thì được xác định là hàng giả theo quy định.
Theo giám định viên, khi kết quả ghi nhận là "không phát hiện", điều đó đồng nghĩa hoạt chất chính hầu như không có hoặc có ở mức quá thấp. Nếu hàm lượng đạt khoảng 70%, 80% hoặc ở mức có thể định lượng được thì cơ quan giám định sẽ phát hiện và ghi nhận bằng số liệu cụ thể, thay vì kết luận "không phát hiện". Vì vậy, trong các trường hợp này, cơ quan giám định căn cứ quy định hiện hành để kết luận sản phẩm là hàng giả.
Luật sư cũng đặt vấn đề về việc cơ quan giám định căn cứ vào chỉ tiêu nào để xác định hàng giả, đặc biệt đối với những sản phẩm có nhiều thành phần nhưng chỉ một số hoạt chất tạo nên công dụng chính.
Giải đáp nội dung này, giám định viên cho biết việc giám định được thực hiện theo đúng nội dung trưng cầu của cơ quan điều tra. Đối với sản phẩm đã có hồ sơ công bố chất lượng hoặc xác định rõ hoạt chất chính, cơ quan giám định sẽ đánh giá theo các chỉ tiêu chất lượng chủ yếu hoặc hoạt chất chính được yêu cầu trong quyết định trưng cầu.
Trong trường hợp sản phẩm không có bản công bố chất lượng hoặc không xác định được chỉ tiêu chất lượng chủ yếu, cơ quan giám định sẽ căn cứ vào các thành phần ghi trên nhãn sản phẩm để thực hiện giám định. Theo giám định viên, đây là cách thức vẫn được áp dụng đối với nhiều sản phẩm không có hồ sơ công bố đầy đủ.
Tại phiên tòa, bị cáo và giám định viên đã có cuộc đối chất căng thẳng về việc xác định các chỉ tiêu kỹ thuật để kết luận hàng giả theo Nghị định 98.
Bị cáo cho rằng cơ quan giám định đang nhầm lẫn giữa 'thành phần' và 'chỉ tiêu chất lượng', dẫn đến việc kết luận không chính xác về tính chất hàng giả của sản phẩm, trong khi phía giám định viên khẳng định họ thực hiện theo hồ sơ công bố và yêu cầu của cơ quan điều tra.
Bị cáo viện dẫn Nghị định 98 để lập luận rằng hàng giả phải dựa trên các chỉ tiêu chất lượng hoặc định lượng chất chính đạt dưới 70% so với mức tối thiểu đã công bố.
Bị cáo tranh luận rằng mục 'thành phần' trong hồ sơ sản phẩm chỉ là công thức và không có mức giới hạn tối thiểu, do đó không thể dùng làm căn cứ xác định hàng giả như 'chỉ tiêu chất lượng'.
Cuối tháng 6, Bộ Công an xây dựng dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính. Dự thảo đề xuất tăng mức phạt hành chính tối đa lên 1,5 tỷ đồng với cá nhân, gấp đôi với tổ chức, tức gấp 1,5 lần hiện hành.
Góp ý dự thảo, các cơ quan, bộ ngành cho rằng nâng trần phạt tiền là điều chỉnh tất yếu và phù hợp với thực tiễn phát kinh tế - xã hội hiện nay, nâng cao tính răn đe, đặc biệt lĩnh vực có lợi nhuận kinh tế lớn.
Tuy nhiên, mức phạt cao hơn có thể tạo áp lực tài chính đáng kể đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Bên cạnh đó, nếu không đi kèm với cơ chế kiểm tra, giám sát chặt chẽ cũng có thể làm gia tăng nguy cơ lạm dụng thẩm quyền trong quá trình xử phạt, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Phú Thọ nêu quan điểm.
Một số địa phương cũng bày tỏ sự thận trọng về mức tăng tiền phạt và yêu cầu các căn cứ cụ thể.
Đoàn Đại biểu Quốc hội TP Hà Nội, Ninh Bình đề nghị đánh giá tác động một cách toàn diện và đầy đủ đối với người dân, doanh nghiệp; đưa ra các số liệu thực tiễn thuyết phục hơn để giải thích cho mức tăng này.
Vi phạm ở thành phố có thể bị phạt cao hơn
Dự thảo của Bộ Công an đề xuất Hội đồng nhân dân thành phố có quyền áp dụng mức phạt cao hơn tại các thành phố nhưng không vượt quá hai lần mức phạt chung.
Đoàn Đại biểu Quốc hội TP Đà Nẵng cơ bản thống nhất với chủ trương phân quyền này để địa phương chủ động trong quản lý kinh tế - xã hội đặc thù. Tuy nhiên, để bảo đảm quyền lực được kiểm soát và tránh gây bất bình đẳng vùng miền, Đà Nẵng đề nghị bổ sung các tiêu chí xác định yêu cầu quản lý đặc thù ngay trong Luật.
Đơn vị này cho rằng việc quyết định mức phạt cao hơn phải dựa trên các căn cứ khoa học như đặc điểm dân cư, mật độ dân số, trình độ phát triển hạ tầng và mức độ phổ biến của hành vi.
Điều này bảo đảm nguyên tắc phân quyền đi đôi với kiểm soát quyền lực, hạn chế tình trạng áp dụng không thống nhất giữa các địa phương.
Đoàn Đại biểu Quốc hội TP Hà Nội cũng bày tỏ lo ngại về tính thống nhất của hệ thống pháp luật và môi trường đầu tư khi mức xử phạt có sự khác biệt giữa các địa phương. Điều này có thể làm phát sinh sự chênh lệch về chi phí tuân thủ pháp luật, gây khó khăn cho các doanh nghiệp hoạt động trên nhiều địa bàn khác nhau.
Hộ kinh doanh không nên bị phạt bằng mức cá nhân
Một khía cạnh khác về sự công bằng trong trách nhiệm pháp lý được chỉ ra liên quan đến hộ kinh doanh. Cụ thể, dự thảo đề xuất: hộ kinh doanh, hộ gia đình, cộng đồng dân cư vi phạm hành chính bị áp dụng mức phạt tiền đối với cá nhân.
Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Quảng Ngãi nhận thấy trong thực tiễn có nhiều hộ kinh doanh có quy mô sản xuất rất lớn, doanh thu cao và sử dụng nhiều lao động tương đương với doanh nghiệp, nhưng theo dự thảo họ vẫn bị áp dụng mức phạt tiền như cá nhân.
Do đó, việc cào bằng mức phạt cá nhân cho mọi hộ kinh doanh là thiếu công bằng và chưa tương xứng với trách nhiệm pháp lý của các chủ thể kinh doanh lớn.
Từ đó, đơn vị này đề nghị cơ quan soạn thảo nghiên cứu quy định theo hướng phân loại hộ kinh doanh theo quy mô, doanh thu hoặc tiêu chí phù hợp để xác định mức phạt tương ứng, bảo đảm công bằng, thống nhất trong môi trường kinh doanh.
Trước các đóng góp ý kiến này, Bộ Công an với vai trò cơ quan chủ trì soạn thảo giải thích các chính sách về nâng mức phạt tiền đã được Chính phủ thông qua trong hồ sơ dự án Luật. Căn cứ thực tiễn dẫn chứng là sự biến động lớn của quy mô kinh tế, thu nhập bình quân và sự trượt giá của đồng tiền trong hơn một thập kỷ qua.
Báo cáo tổng kết cho thấy mức phạt hành chính và mức phạt tiền tối đa trong các lĩnh vực vẫn giữ nguyên từ năm 2012 đến nay. Trong khi lương cơ sở năm 2012 là 1.050.000 đồng/tháng đã tăng 2,2 lần vào năm 2025, lên 2.340.000 đồng/tháng. Thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam năm 2012 khoảng 2 triệu đồng/tháng, đến năm 2024 đã là 7,7 triệu đồng (gấp 3,85 lần).
Bộ Công an đánh giá tại nhiều lĩnh vực như môi trường, an toàn thực phẩm, khoáng sản hay an ninh mạng, lợi nhuận thu được từ vi phạm thường cao gấp nhiều lần số tiền phạt tối đa hiện tại, khiến chế tài hành chính mất đi ý nghĩa phòng ngừa.
Riêng đối với các thành phố, việc áp dụng mức phạt cao hơn trong các lĩnh vực như giao thông, đất đai, môi trường và an toàn thực phẩm được kế thừa từ quy định hiện hành và bổ sung thêm các lĩnh vực mới phát sinh yêu cầu quản lý cao như phòng cháy chữa cháy để đảm bảo an toàn đô thị.
Dự thảo dự kiến trình Quốc hội xem xét, thông qua tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI (tháng 10/2026).