Bác sĩ day dứt, đau lòng vì nhiều trẻ đuối nước bị sơ cứu sai
Thông tin từ Bệnh viện Nhi Trung ương cho biết, 3 trẻ đuối nước tuổi từ 6-14 được đưa đến Khoa Cấp cứu chống độc trong 2 ngày cuối tuần.
Trong đó, một em đã mãi mãi không trở về, hai em khác đang phải giành giật từng cơ hội sống với nguy cơ di chứng nặng nề suốt đời.
TS.BS Lê Ngọc Duy, Trưởng Khoa Cấp cứu chống độc chia sẻ: “Điều khiến chúng tôi day dứt nhất là nhiều trẻ đuối nước vẫn bị sơ cứu sai: dốc ngược, vác chạy, chờ nước chảy ra rồi mới ép tim”.
Theo TS Duy, năm nào khoa cũng tiếp nhận nhiều trẻ đuối nước, trong đó, những trẻ được tiếp cận sơ cứu đúng ngay từ đầu, được ép tim khi ngừng tuần hoàn, tiên lượng thường tốt hơn, có nhiều cơ hội trở về cuộc sống bình thường.
Trong khi đó, những trẻ bị sơ cứu sai cách, như dốc ngược người rồi chạy, nhiều ca diễn biến nặng, ảnh hưởng não, thậm chí không qua khỏi.
Trong khi đó, PGS.TS Hoàng Bùi Hải, Trưởng khoa Cấp cứu – Hồi sức tích cực, Bệnh viện Đại học Y Hà Nội cũng phải thốt lên: “Nhìn cách sơ cứu trẻ đuối nước (dốc ngược em bé) qua một clip tại 1 bể bơi ở khu vực gần bệnh viện Đại học Y Hà Nội, Cơ sở Hoàng Mai mà tôi thấy đau lòng”.
Thông tin ban đầu, tại bể bơi xảy ra tình huống một em bé bị đuối nước. Khi được vớt lên, em bé được sơ cứu bằng cách dốc ngược đầu.
Sau khi được đưa vào viện cấp cứu, các bác sĩ đã tái lập được tuần hoàn của bệnh nhi, đặt ống, thở máy và chuyển sang Bệnh viện Nhi Trung ương, tiên lượng rất nặng.
Xin hãy đọc để biết cách sơ cứu đúng cách!
Theo TS Duy, dốc ngược trẻ và chạy là sai lầm thường gặp trong sơ cứu đuối nước có thể khiến trẻ nguy kịch, tổn thương thần kinh nặng thậm chí tử vong.
“Dốc ngược trẻ lên vai rồi chạy sẽ làm cho các dịch ở dạ dày trào ngược hít vào đường thở và làm chậm trễ hồi sức tim phổi (ép tim/thổi ngạt), làm mất thời gian vàng để cấp cứu trẻ, thậm chí gây thêm các tổn thương cho trẻ”, bác sĩ khuyến cáo.
Thời gian chịu đựng thiếu oxy của não tối đa 4-5 phút. Vì thế, khi trẻ bị đuối nước ngừng tim, cần hồi sức tim phổi ngay để trẻ có cơ hội được cứu sống.
“Nguyên nhân chính gây tử vong ở trẻ đuối nước là tổn thương não do thiếu oxy. Nếu không ép tim, thổi ngạt kịp thời sẽ dẫn tới tổn thương não không hồi phục, gây tử vong hoặc di chứng thần kinh.
Vì thế, khi thấy một trẻ bị đuối nước không tỉnh, không thở, ngừng tim thì cần phải hồi sức tim phổi (ép tim – thổi ngạt) ngay và làm liên tục đến khi trẻ thở trở lại. Trong quá trình hồi sức tim phổi, tuyệt đối không ngừng hồi sức tim phổi nếu trẻ chưa có nhịp thở và khi có nhân viên y tế đến.
Sau khi trẻ có nhịp thở, cần đưa trẻ đến các cơ sở y tế để tiếp tục kiểm tra và theo dõi các biến chứng sau đuối nước.
Cùng quan điểm này, PGS Hải lưu ý: “Xin hãy nhớ: khi phát hiện trẻ đuối nước, hãy gọi cấp cứu, kiểm tra phản ứng và bắt đầu CPR (hồi sức tim phổi) ngay nếu trẻ ngừng thở hoặc thở bất thường. Đừng dốc ngược trẻ. Đừng chờ nước chảy ra. Đừng để những phút vàng bị đánh mất”.
Theo PGS Hải, nguy cơ đuối nước luôn hiện hữu, có thể xảy ra với bất cứ ai. Khi gặp một người bị đuối nước, cần thực hiện sơ cứu theo các bước sau:
– Gọi người xung quanh đến hỗ trợ, nhanh chóng đưa nạn nhân lên bờ.
– Ưu tiên xác định được tình trạng ngừng tuần hoàn để tiến hành hồi sinh tim phổi càng sớm càng tốt.
– Thổi ngạt bằng cách hít một hơi thật sâu rồi ngậm miệng nạn nhân thổi một hơi thật mạnh, lặp lại lần thứ 2, việc này cần phải tiến hành ngay khi có thể, khi nạn nhân đã được kéo đến chỗ nông hơn, ít nguy hiểm hơn, khi chân người cứu chạm đất.
– Nếu nạn nhân không tỉnh trở lại sau 2 lần thổi ngạt đủ mạnh làm ngực phồng lên thì cần tiến hành ngay hồi sinh tim phổi kết hợp ép tim và thổi ngạt.
“Đặt nạn nhân nằm ngửa trên bờ, đặt cườm tay lên giữa ngực ép mạnh xuống, tốc độ nhanh 100 đến 120 lần/phút; cứ sau 30 lần ép tim ngoài lồng ngực, thổi ngạt 2 lần. Phải làm liên tục cho đến khi có đơn vị cấp cứu ngoại viện, nhân viên y tế đến hỗ trợ. Hạn chế tối đa gián đoạn ép tim ngoài lồng ngực”, PGS Hải lưu ý.
Ông cũng nhấn mạnh, hồi sức tim phổi là phương pháp đúng nhất khi sơ cứu bệnh nhân đuối nước. Các phương pháp như Heimlich, dốc ngược nạn nhân để nước tống ra từ phổi không mang lại giá trị gì nên tuyệt đối không làm mất thời gian, hãy tập trung để ép tim cho nạn nhân.
Việc tập trung cấp cứu nạn nhân liên tục, kiên trì hàng giờ có thể mang lại cơ hội sống cho người bệnh. Chỉ chuyển nạn nhân đến bệnh viện khi đã thở trở lại, khi tuần hoàn được tái lập. Vận chuyển bằng xe chuyên dụng, kể cả người đã tự thở vẫn có nguy cơ suy hô hấp sau đó do nước đã vào phổi, nên vẫn phải vận chuyển vào bệnh viện.
Các chuyên gia cũng khuyến cáo, cần đẩy mạnh phòng ngừa đuối nước bằng cách cấm trẻ em dưới 4 tuổi bơi trong bể bơi (có thể giảm được 80% vụ đuối nước ở trẻ); có người giám sát bể bơi; có người bơi cùng; dùng phao cá nhân.
Các bể cạn, toilet, thùng chứa nước ăn, nước rửa cần có che chắn, có nắp, khoá; cấm trẻ con chơi gần; phải có cảnh báo với người đi qua.
PGS Hải cũng đề xuất phải tập huấn an toàn cho nhân viên các bể bơi, khu bãi tắm.
Các bước sơ cứu đuối nước đúng cách:
Dưới đây là video “Cấp cứu trẻ bị đuối nước” đúng cách, mọi người có thể áp dụng khi gặp tình huống trẻ đuối nước:
Khi đi bộ bình thường, cơ thể chủ yếu sử dụng cơ chân, cơ hông và nhóm cơ cốt lõi như bụng, lưng, hông để duy trì chuyển động. Nếu cầm thêm tạ tay, các cơ ở vai, cánh tay và phần thân trên phải hoạt động nhiều hơn để giữ ổn định cơ thể. Điều này khiến nhu cầu năng lượng tăng lên, theo chuyên trang sức khỏe Verywell Fit (Mỹ).
Thêm tải trọng nhẹ vào khi đi bộ sẽ làm nhịp tim tăng cao hơn so với đi bộ thông thường. Khi nhịp tim tăng, cơ thể cũng tiêu hao nhiều calo hơn.
Cụ thể, một nghiên cứu đăn trên chuyên san Physician and Sports Medicine cho thấy đi bộ với tạ tay làm nhịp tim tăng từ khoảng 120 lên 127 nhịp/phút. Mức tiêu hao năng lượng cũng tăng nhẹ so với đi bộ bình thường.
Một số bằng chứng khoa học khác cho thấy mang tạ tay nhẹ có thể làm mức tiêu hao năng lượng tăng khoảng 5 - 15%, tùy tốc độ đi bộ và trọng lượng tạ. Nếu tạ quá nhẹ, hiệu quả gần như không đáng kể. Ngược lại, nếu tạ quá nặng, người tập dễ thay đổi dáng đi tự nhiên, làm tăng nguy cơ đau cơ và chấn thương.
Một trong những sai lầm phổ biến là người tập chọn tạ quá nặng do muốn đốt nhiều calo hơn. Điều này có thể khiến tư thế đi bộ bị thay đổi.
Khi cầm vật nặng trong thời gian dài, nhiều người có xu hướng gồng vai, cong cổ hoặc vung tay không tự nhiên. Những thay đổi này làm tăng áp lực lên khớp vai, khuỷu tay và cổ tay. Người có tiền sử đau vai gáy hoặc viêm khớp có thể bị đau nặng hơn sau tập luyện.
Mang tạ tay khi đi bộ không phù hợp với tất cả mọi người, đặc biệt nếu người tập có vấn đề về thăng bằng, thoái hóa khớp hoặc bệnh tim mạch. Nhưng với người khỏe mạnh, họ hoàn toàn có thể áp dụng cách tập này.
Phần lớn chuyên gia khuyến nghị nếu muốn đi bộ với tạ tay thì nên bắt đầu bằng mức rất nhẹ, thường khoảng 0,5 - 1 kg mỗi tay. Mang tạ tay quá nặng có thể khiến người tập nhanh mỏi và làm giảm chất lượng vận động. Điều quan trọng là vẫn giữ được tư thế đi bộ tự nhiên, vai thả lỏng và cánh tay chuyển động thoải mái.
Người mới tập cũng không nên mang tạ suốt toàn bộ buổi đi bộ. Có thể bắt đầu bằng vài phút đầu, sau đó tăng dần thời gian nếu cơ thể thích nghi tốt.
Nếu mục tiêu là tăng đốt calo khi đi bộ thì ngoài mang thêm tạ tay, chúng ta vẫn còn những lựa chọn khác. Một trong những cách đơn giản nhất là đi bộ nhanh hơn. Khi tốc độ tăng, nhịp tim cũng tăng theo và cơ thể sẽ đốt nhiều calo hơn. Đi bộ lên dốc hoặc dùng máy chạy bộ có độ nghiêng cũng giúp nhóm cơ chân và cơ mông hoạt động mạnh hơn, từ đó tăng tiêu hao năng lượng, theo Verywell Fit.
Những người ốm nhưng vẫn tích nhiều mỡ bụng thường là do những yếu tố sau:
Không phải ai tăng cân cũng tích mỡ giống nhau. Yếu tố di truyền có tác động quan trọng đến cách cơ thể sẽ tích mỡ ở đâu, chẳng hạn vùng đùi, mông hay bụng. Một số người có xu hướng tích mỡ nội tạng nhiều hơn dù tổng lượng mỡ không cao, theo chuyên trang sức khỏe Verywell Health (Mỹ).
Nghiên cứu đăng trên chuyên san Nature Reviews Endocrinology cho thấy yếu tố gien có ảnh hưởng rõ rệt đến phân bố mỡ trong cơ thể, đặc biệt ở người châu Á. Đây là nhóm có nguy cơ tích mỡ nội tạng cao hơn ngay cả khi BMI bình thường.
Điều này giúp giải thích vì sao có những người ăn uống và sinh hoạt không quá khác biệt nhưng vẫn dễ bị bụng mỡ. Tuy nhiên, di truyền không phải yếu tố quyết định hoàn toàn. Lối sống vẫn có thể làm giảm hoặc khuếch đại thêm tình trạng này.
Một người có cân nặng bình thường chưa chắc đã có cơ thể khỏe mạnh. Điều quan trọng hơn là tỷ lệ giữa cơ và mỡ. Khi cơ bắp thấp, cơ thể đốt calo kém hơn, khiến phần calo dư thừa dễ tích tụ thành mỡ, đặc biệt là mỡ nội tạng.
Không phải cứ có tập thể dục là đủ để thâm hụt calo và giảm mỡ bụng. Nếu cường độ tập quá nhẹ hoặc không đủ kích thích cơ bắp, cơ thể sẽ không tiêu hao nhiều calo và mỡ nội tạng vẫn tích tụ.
Ngoài ra, lối sống ít vận động làm giảm khả năng sử dụng đường glucose của cơ bắp, khiến lượng đường glucose dư thừa dễ chuyển thành mỡ. Những người ngồi nhiều, ít hoạt động trong ngày dù thân hình ốm nhưng nguy cơ tích mỡ bụng cao vẫn cao hơn người vận động đều đặn.
Căng thẳng kéo dài không chỉ ảnh hưởng tâm lý mà còn tác động đến nội tiết. Khi cơ thể bị căng thẳng liên tục, hoóc môn cortisol được tiết ra nhiều hơn. Chúng làm tăng đường huyết và thay đổi cách cơ thể sử dụng calo.
Hệ quả là phần calo dư thừa dễ chuyển thành mỡ và tích tụ ở vùng bụng. Đây là lý do nhiều người dù ăn ở chế độ bình thường nhưng vẫn tăng mỡ bụng.
Nhiều người nghĩ rằng chỉ cần ăn ít hoặc tránh đồ béo là đủ. Tuy nhiên, nếu khẩu phần ăn vẫn chứa nhiều đường hoặc tinh bột trắng thì khả năng tích mỡ nội tạng vẫn cao.
Vấn đề là nhiều người ăn các món này nhưng không nhận thức rõ, chẳng hạn như bánh mì, bánh bao, hủ tiếu, phở hay cà phê sữa. Chúng dễ làm tăng đường huyết, kéo theo sự tăng tiết hoóc môn insulin. Về lâu dài, điều này còn dẫn đến kháng insulin và làm tăng nguy cơ tiểu đường loại 2, theo Verywell Health.
Truyền thông Trung Quốc cho hay sau khi tốt nghiệp đại học, Zhang trở thành hộ sinh tại Bệnh viện Phụ thuộc số 4 thuộc Đại học Chiết Giang, thành phố Kim Hoa, tỉnh Chiết Giang. Theo thống kê của tờ Southern Daily, tính đến năm 2021, nam giới chỉ chiếm khoảng 3% trong lực lượng điều dưỡng tại Trung Quốc và tỷ lệ nam giới làm nghề hộ sinh còn thấp hơn nhiều.
Trong một cuộc phỏng vấn với chuyên trang y tế Yixuejie, Zhang cho biết một số người thân lớn tuổi trong gia đình từng chỉ trích quyết định của anh, gọi đó là một lựa chọn "đáng xấu hổ". Anh kể bị choáng ngợp trong lần đầu tiên tận mắt chứng kiến một ca sinh nở.
Song khoảnh khắc kỳ diệu đó đã khiến chàng trai xúc động trước sự kiên cường của những người mẹ, trở thành nguồn cảm hứng mạnh mẽ, giúp anh nhận ra giá trị và ý nghĩa cao đẹp từ công việc của mình.
Theo Zhang, khó khăn lớn nhất trong công việc của anh là tạo dựng niềm tin với các sản phụ và gia đình họ. Do những rào cản từ quan niệm truyền thống về sự riêng tư, một số phụ nữ vẫn từ chối sự chăm sóc của các nam hộ sinh.
Đối mặt với điều này, Zhang khẳng định nguyên tắc của mình là luôn tôn trọng tuyệt đối nguyện vọng của người bệnh. Áp lực từ những lời từ chối từng có lúc khiến anh nản lòng đến mức muốn bỏ nghề nhưng cuối cùng chàng trai vẫn quyết định kiên trì bám trụ với công việc.
Zhang cho hay người hộ sinh đóng vai trò quan trọng trong suốt hành trình sinh nở, từ theo dõi sự phát triển của thai nhi trước sinh, hướng dẫn sản phụ lúc chuyển dạ, nhận diện sớm các nguy cơ, hỗ trợ giảm đau, cho đến tư vấn nuôi con bằng sữa mẹ sau sinh.
Tại Trung Quốc, hộ sinh được đào tạo chuyên sâu về điều dưỡng và chăm sóc các ca sinh thường, trong khi bác sĩ sản khoa là những người có đủ thẩm quyền chuyên môn để xử lý biến chứng, thực hiện phẫu thuật và quản lý các thai kỳ nguy cơ cao. Theo Zhang, công việc hộ sinh đòi hỏi thể lực lớn và đây chính là cơ hội để các nam hộ sinh thể hiện "sự dịu dàng đầy sức mạnh" của mình.
"Hộ sinh cần phải thấu hiểu nỗi đau vượt cạn của các bà mẹ để giúp họ giải tỏa lo âu. Vào thời điểm nhạy cảm đó, nếu nhân viên y tế tỏ ra thiếu kiên nhẫn thì chỉ khiến tình hình của sản phụ trở nên tồi tệ hơn", anh nói.
Nhiều sản phụ nhận xét Zhang "rất đáng tin cậy trong công việc". Một người mẹ mô tả anh "dịu dàng, chuyên nghiệp và tinh tế không thua kém các đồng nghiệp nữ", trong khi một sản phụ khác chia sẻ luôn mong ca trực của anh mỗi ngày.
Trong môi trường đầy áp lực và căng thẳng của phòng sinh, sự xuất hiện của một hộ sinh có ngoại hình sáng đã góp phần làm giảm bớt tâm lý lo âu cho người bệnh. Điều dưỡng trưởng khoa sản của bệnh viện cũng đồng tình với những đánh giá này.
Bà cho biết hiện khoa có 3 nam hộ sinh, những người có lợi thế lớn về thể lực nhưng vẫn đảm bảo sự chăm sóc tỉ mỉ trong quá trình đỡ đẻ vốn đòi hỏi nhiều sức lực. Bản thân Zhang Jintao cũng bày tỏ hy vọng có thể góp phần xóa bỏ những định kiến về giới tính đối với nghề hộ sinh.
Thời gian tới, Zhang dự định học tập nâng cao và tham gia phổ biến kiến thức y khoa để giúp cộng đồng hiểu rõ hơn về quá trình sinh nở. Anh khẳng định y học không có giới tính và các nam hộ sinh cũng có những thế mạnh riêng của mình.
Đón nhận câu chuyện này, một cư dân mạng bình luận rằng việc chứng kiến một nam hộ sinh xuất sắc như vậy là điều vô cùng khích lệ, bởi một khi niềm tin vào chuyên môn được thiết lập thì sự khác biệt về giới tính sẽ không còn là rào cản.