Những người ốm nhưng vẫn tích nhiều mỡ bụng thường là do những yếu tố sau:
Không phải ai tăng cân cũng tích mỡ giống nhau. Yếu tố di truyền có tác động quan trọng đến cách cơ thể sẽ tích mỡ ở đâu, chẳng hạn vùng đùi, mông hay bụng. Một số người có xu hướng tích mỡ nội tạng nhiều hơn dù tổng lượng mỡ không cao, theo chuyên trang sức khỏe Verywell Health (Mỹ).
Nghiên cứu đăng trên chuyên san Nature Reviews Endocrinology cho thấy yếu tố gien có ảnh hưởng rõ rệt đến phân bố mỡ trong cơ thể, đặc biệt ở người châu Á. Đây là nhóm có nguy cơ tích mỡ nội tạng cao hơn ngay cả khi BMI bình thường.
Điều này giúp giải thích vì sao có những người ăn uống và sinh hoạt không quá khác biệt nhưng vẫn dễ bị bụng mỡ. Tuy nhiên, di truyền không phải yếu tố quyết định hoàn toàn. Lối sống vẫn có thể làm giảm hoặc khuếch đại thêm tình trạng này.
Một người có cân nặng bình thường chưa chắc đã có cơ thể khỏe mạnh. Điều quan trọng hơn là tỷ lệ giữa cơ và mỡ. Khi cơ bắp thấp, cơ thể đốt calo kém hơn, khiến phần calo dư thừa dễ tích tụ thành mỡ, đặc biệt là mỡ nội tạng.
Không phải cứ có tập thể dục là đủ để thâm hụt calo và giảm mỡ bụng. Nếu cường độ tập quá nhẹ hoặc không đủ kích thích cơ bắp, cơ thể sẽ không tiêu hao nhiều calo và mỡ nội tạng vẫn tích tụ.
Ngoài ra, lối sống ít vận động làm giảm khả năng sử dụng đường glucose của cơ bắp, khiến lượng đường glucose dư thừa dễ chuyển thành mỡ. Những người ngồi nhiều, ít hoạt động trong ngày dù thân hình ốm nhưng nguy cơ tích mỡ bụng cao vẫn cao hơn người vận động đều đặn.
Căng thẳng kéo dài không chỉ ảnh hưởng tâm lý mà còn tác động đến nội tiết. Khi cơ thể bị căng thẳng liên tục, hoóc môn cortisol được tiết ra nhiều hơn. Chúng làm tăng đường huyết và thay đổi cách cơ thể sử dụng calo.
Hệ quả là phần calo dư thừa dễ chuyển thành mỡ và tích tụ ở vùng bụng. Đây là lý do nhiều người dù ăn ở chế độ bình thường nhưng vẫn tăng mỡ bụng.
Nhiều người nghĩ rằng chỉ cần ăn ít hoặc tránh đồ béo là đủ. Tuy nhiên, nếu khẩu phần ăn vẫn chứa nhiều đường hoặc tinh bột trắng thì khả năng tích mỡ nội tạng vẫn cao.
Vấn đề là nhiều người ăn các món này nhưng không nhận thức rõ, chẳng hạn như bánh mì, bánh bao, hủ tiếu, phở hay cà phê sữa. Chúng dễ làm tăng đường huyết, kéo theo sự tăng tiết hoóc môn insulin. Về lâu dài, điều này còn dẫn đến kháng insulin và làm tăng nguy cơ tiểu đường loại 2, theo Verywell Health.
Từ 1/7, người tham gia bảo hiểm y tế (BHYT) tự đi khám, chữa bệnh ngoại trú trái tuyến tại một số cơ sở y tế cấp cơ bản và chuyên sâu sẽ được Quỹ Bảo hiểm y tế thanh toán 50% mức hưởng đối với các bệnh, nhóm bệnh.
Bà Nguyễn Lan Hương, Phó ban Thực hiện chính sách BHYT thuộc Bảo hiểm xã hội Việt Nam, cho biết "50% mức hưởng" không được hiểu là Quỹ sẽ thanh toán 50% toàn bộ số tiền ghi trên hóa đơn khám, chữa bệnh. Tỷ lệ này được tính trên mức hưởng BHYT của từng người và chỉ áp dụng với số tiền nằm trong phạm vi được hưởng, theo mức giá và điều kiện thanh toán BHYT.
Đơn cử, người có mức hưởng BHYT 80%, khi thuộc trường hợp được thanh toán 50% mức hưởng thì Quỹ trả 40% chi phí; người có mức hưởng 95% được Quỹ thanh toán 47,5% trong phạm vi được hưởng. Phần chi phí ngoài phạm vi hưởng, dịch vụ theo yêu cầu hoặc các khoản không đủ điều kiện thanh toán vẫn do người bệnh tự túc.
Theo bà Hương, quy định mới không đồng nghĩa với việc người tham gia BHYT có thể đến khám ngoại trú tại bất kỳ bệnh viện nào và được Quỹ Bảo hiểm y tế chi trả 50%. Mức thanh toán này căn cứ vào cấp chuyên môn kỹ thuật mà cơ sở khám, chữa bệnh đã được cơ quan có thẩm quyền xếp (cấp ban đầu, cấp cơ bản hoặc cấp chuyên sâu); bệnh hoặc nhóm bệnh được chẩn đoán; mức hưởng BHYT của người bệnh và phạm vi Quỹ chi trả.
Cụ thể, chính sách áp dụng tại ba nhóm: cơ sở khám chữa cấp cơ bản mà trước năm 2025 đã được cơ quan có thẩm quyền xác định là tuyến tỉnh, tuyến trung ương hoặc tương đương tuyến tỉnh, tuyến trung ương; cơ sở được xếp cấp cơ bản, có tổng điểm đánh giá năng lực chuyên môn từ 50 đến dưới 70 điểm; cơ sở cấp chuyên sâu mà trước năm 2025 được xác định là tuyến tỉnh hoặc tương đương tuyến tỉnh.
Bảo hiểm xã hội Việt Nam khuyến cáo người dân nên đi khám tại nơi đăng ký khám chữa ban đầu hoặc đúng tuyến. Nếu đi khám ngoại trú, người bệnh nên liên hệ trước với cơ sở y tế hoặc cơ quan Bảo hiểm xã hội để được thông tin về cơ sở, phạm vi và mức thanh toán được hưởng.
Đến hết năm 2025, tỷ lệ bao phủ BHYT đạt trên 95% dân số.
Khi tập luyện, đặc biệt là tập nặng, các sợi cơ sẽ bị tổn thương nhẹ. Đây là điều bình thường và cần thiết để cơ bắp phát triển. Tuy nhiên, cơ bắp chỉ thực sự mạnh lên trong quá trình phục hồi, không phải trong lúc tập, theo chuyên trang sức khỏe Verywellfit (Mỹ).
Nếu tập liên tục mỗi ngày mà không cho cơ thể nghỉ, các tổn thương này sẽ tích tụ lại. Cơ thể không hồi phục kịp nên dần dần trở nên yếu đi.
Một sai lầm rất phổ biến là tập nhiều nhưng ăn không đủ. Tình trạng này thường gặp ở những người đang muốn giảm mỡ nhanh. Khi đốt nhiều calo mà không bổ sung lại đầy đủ, cơ thể sẽ phải tìm nguồn năng lượng khác. Cơ bắp chính là một trong những nguồn đó.
Nếu thiếu calo và protein, cơ thể sẽ huy động dinh dưỡng từ cả mỡ thừa và cơ bắp để duy trì hoạt động. Điều này khiến càng tập thì càng yếu. Ngoài ra, thiếu vitamin và khoáng chất cũng làm giảm hiệu quả hoạt động của các enzyme trong cơ thể, khiến quá trình phục hồi kém đi.
Tập luyện quá sức không chỉ ảnh hưởng đến cơ bắp mà còn làm rối loạn hoóc môn trong cơ thể. Đây là yếu tố rất quan trọng nhưng thường bị bỏ qua.
Khi tập quá nhiều, cơ thể sẽ tăng sản xuất hoóc môn cortisol, trong khi các hoóc môn giúp phát triển cơ bắp như testosterone và hoóc môn tăng trưởng lại giảm xuống. Sự mất cân bằng này khiến cơ thể cảm thấy mệt mỏi, khó tăng cơ, thậm chí mất cơ và giảm sức mạnh dù vẫn tập đều.
Nếu tập cùng một bài tập mỗi ngày với cùng cường độ, cơ thể sẽ dần thích nghi và không còn phản ứng mạnh nữa. Đây là nguyên lý rất cơ bản trong thể thao.
Khi không có sự thay đổi về bài tập hoặc cường độ, cơ bắp không còn nhận đủ kích thích cơ. Lúc này, người tập sẽ thấy mình không tiến bộ. Thậm chí, mệt mỏi tích lũy còn cơ thể khiến yếu đi. Vì vậy, tập luyện hiệu quả không chỉ là tập đều mà còn cần thay đổi bài tập một cách hợp lý, theo Verywellfit.
Theo Bệnh viện Ung bướu Hà Nội, điều trị đích là một phương pháp hiện đại trong điều trị ung thư. Thay vì dùng hóa trị truyền thống tấn công cả tế bào ung thư và tế bào khỏe mạnh, điều trị đích tập trung vào những điểm yếu riêng của tế bào ung thư.
Đó có thể là một gen, một protein, hoặc một tín hiệu bất thường mà chỉ tế bào ung thư mới có.
Nhờ cách tiếp cận này, điều trị đích giúp tiêu diệt tế bào ung thư hiệu quả hơn. Đồng thời, nó cũng ít gây hại cho các tế bào khỏe mạnh, giúp giảm tác dụng phụ khó chịu cho người bệnh.
Về cơ chế hoạt động, các thuốc điều trị đích có thể: ngăn chặn các tín hiệu bất thường ra lệnh cho tế bào ung thư lớn lên và nhân đôi nhanh chóng. Như vậy, khối u sẽ không thể phát triển.
Các thuốc điều trị đích ngăn chặn việc hình thành các mạch máu mới. Mạch máu này vốn dùng để cung cấp ô xy và dinh dưỡng cho khối u. Khi không có đủ "thức ăn", khối u sẽ khó sống và phát triển.
Các thuốc này đưa thuốc hóa chất trực tiếp đến tế bào ung thư, gắn thuốc hóa chất vào kháng thể đặc hiệu để vận chuyển chính xác tới tế bào ung thư.
Đối với một số loại ung thư cần hormone để lớn lên (như ung thư vú, ung thư tiền liệt tuyến...), thuốc đích sẽ chặn hoặc cắt nguồn hormone đó, làm khối u teo đi.
Theo Bệnh viện Ung bướu Hà Nội, trước khi quyết định điều trị đích, bác sĩ cần có kết quả xét nghiệm của người bệnh để tìm ra những đặc điểm riêng của khối u ung thư (gọi là "dấu ấn sinh học" hoặc "điểm đích"). Nếu khối u có những "điểm đích" mà thuốc có thể tấn công, thì khả năng điều trị thành công bằng thuốc đích sẽ cao hơn. Thuốc điều trị đích hoạt động như một "mũi tên" đi đến những điểm yếu riêng của tế bào ung thư, nhờ vậy, có thể diệt khối u hiệu quả hơn.
Vì thuốc chỉ tấn công vào tế bào ung thư có "điểm đích" đặc hiệu, nên ít làm tổn thương các tế bào khỏe mạnh khác trong cơ thể. Điều này giúp giảm bớt các tác dụng phụ khó chịu so với hóa trị thông thường.
Nhưng thuốc đích chỉ có tác dụng khi khối u ung thư mang "điểm đích" mà thuốc nhắm tới. Thuốc không hiệu quả nếu khối u không có "điểm đích" phù hợp.
Ngay cả khi phù hợp, vẫn có nguy cơ kháng thuốc. Vì sau một thời gian điều trị, các tế bào ung thư có thể thay đổi và trở nên "khôn ngoan" hơn, tìm cách "né" thuốc. Khi đó, thuốc sẽ dần mất đi hiệu quả, gọi là hiện tượng "nhờn thuốc" hoặc "kháng thuốc".
Ngoài ra, thuốc đích vẫn có thể gây tác dụng phụ. Mặc dù thường nhẹ hơn hóa trị, nhưng người bệnh vẫn có thể gặp các tác dụng phụ như tiêu chảy, rối loạn chức năng gan, hay các tác dụng phụ trên da, niêm mạc…
Mỗi người bệnh là một trường hợp khác nhau. Bác sĩ sẽ giúp người bệnh làm các xét nghiệm cần thiết, tư vấn và cùng người bệnh lựa chọn phương pháp điều trị tốt nhất, phù hợp nhất với tình trạng bệnh.