3h ngày 1/11/2014, đường dây nóng khẩn cấp 999 reo vang, đầu bên kia là một giọng nam nói tiếng Anh, khẳng định muốn đầu thú. Khi điều phối viên hỏi, anh ta tỏ ra mất kiên nhẫn: “Các người tự đến mà xem”.
Đến nhà người này điều tra, cảnh sát phát hiện hai thi thể trong căn hộ tầng 31 tòa chung cư cao cấp J Residence ở quận Wan Chai. Một thi thể trong phòng khách, thi thể thứ hai được tìm thấy trong chiếc valy ngoài ban công, đã chết khoảng một tuần.
Thủ phạm là Rurik Jutting, 29 tuổi, cố vấn đầu tư ngân hàng người Anh. Rurik vốn có tương lai đầy hứa hẹn, nhưng do áp lực công việc, anh ta rơi vào vòng xoáy ma túy và các hành vi tình dục lệch lạc, dẫn đến việc tra tấn và sát hại dã man hai phụ nữ Indonesia.
Nạn nhân đầu tiên là Sumarti Ningsih (23 tuổi), có một con trai 5 tuổi ở Indonesia. Vì cuộc sống khó khăn, cô trốn gia đình sang Hong Kong làm gái mại dâm. Nạn nhân thứ hai là Seneng Mujiasih (26 tuổi), vừa làm giúp việc vừa bán dâm tại khu phố đèn đỏ ở Wan Chai.
Cú trượt dài của kẻ có IQ hơn người
Rurik xuất thân từ một gia đình giàu có, chỉ số IQ 137 – thuộc nhóm 1% người có chỉ số IQ cao nhất. Sau khi tốt nghiệp khoa luật và lịch sử của Đại học Cambridge, hắn làm việc cho các ngân hàng đầu tư của Anh và Mỹ, nhanh chóng thăng tiến với mức lương hàng năm 270.000 bảng Anh.
Tuy nhiên, năm 2012, do những sai phạm trong việc bán các sản phẩm đầu tư của ngân hàng, Rurik bị cấp trên khiển trách và thuyên chuyển đến chi nhánh Hong Kong vào năm 2013.
Vốn tự cao, Rurik coi đây là “bước ngoặt tiêu cực” trong sự nghiệp và cảm thấy việc bị chuyển đến Hong Kong là do cấp trên sắp xếp để loại bỏ mình.
Thời điểm này, Rurik uống rượu mất kiểm soát, vì phải uống rất nhiều mới có thể ngủ được. Hắn đã gặp bác sĩ tâm thần một thời gian ngắn, tâm sự rằng thường cảm thấy buồn bã và dễ khóc ở nơi làm việc.
Khi đến Hong Kong vào tháng 10/2013, Rurik thường uống hết 3/4 chai vodka để ngủ, đồng thời sử dụng cocaine. Hắn nói đã giấu cocaine qua đường hậu môn trên chuyến bay.
Rurik ngày càng cảm thấy chán nản và bi quan khi sống ở xứ Cảng thơm, dành nhiều thời gian ở nhà uống rượu và chơi game trên máy tính. Hắn còn có những sở thích tình dục cực đoan và ám ảnh với phim khiêu dâm bạo lực. Rurik bắt đầu mua dâm từ năm 2009 và theo thời gian, hành vi của hắn ngày càng hung bạo.
Đến 2014, Rurik “mất kiểm soát hoàn toàn”. Hắn thường xuyên sử dụng cocaine trong nhiều ngày liền. Có lần, hắn bỏ lỡ một cuộc họp đã lên lịch ở London và nói với sếp rằng mình bị HIV. Rurik bắt đầu thèm thuốc liên tục, cân nặng tăng vọt và ngừng đi làm trong hai tuần trước án mạng. Thay vào đó, hắn dành hàng giờ xem và đọc các nội dung khiêu dâm bạo lực.
Rurik từng cố tìm kiếm đàn ông trên ứng dụng Grindr để quan hệ tình dục, sau đó nói với một nhà tâm lý học rằng hắn đã “cố gắng làm mọi thứ có thể để có những trải nghiệm mới”, nhưng mô tả mọi thứ đều “đáng thất vọng”.
Rurik từng có nhiều bạn gái nhưng các mối quan hệ luôn ngắn ngủi, dài nhất không quá hai năm rưỡi.
7 ngày kinh hoàng trong căn hộ
Khoảng 3h ngày 25/10/2014, Rurik đưa Sumarti Ningsih về căn hộ, sau khi đề nghị trả tiền để quan hệ tình dục.
Trước đó, Rurik từng liên hệ với Sumarti qua trang web mua bán dâm và hẹn gặp tại khách sạn. Tuy nhiên, do hắn quá thô bạo, Sumarti đã trả lại một nửa số tiền và yêu cầu rời đi. Sumarti ban đầu từ chối đề nghị lần thứ hai của Rurik, nhưng không thể cưỡng lại cám dỗ của 8.000 HKD nên đồng ý giao dịch.
Ác mộng của Sumarti bắt đầu khi Rurik đánh đập, cưỡng bức cô. Sau đó, hắn giam cầm và tra tấn cô bằng kìm, thắt lưng, đồ chơi tình dục, đồng thời quay video cảnh tra tấn bằng điện thoại.
Đến ngày 27, Rurik hưng phấn bất thường sau khi sử dụng cocaine. Hắn trói Sumarti bằng thắt lưng rồi đánh liên tục, lạm dụng tình dục, tra tấn. Tại đó, hắn dùng dao sát hại nạn nhân rồi quay video, chụp ảnh hiện trường.
Rurik khai rằng lúc tỉnh lúc mê khi gây án do cocaine: “Khi cocaine bớt ảnh hưởng, tôi thấy khá hối hận, tôi liên tục nói yêu cô ấy”, hắn khai trong một cuộc thẩm vấn với cảnh sát. Tuy nhiên, trong cuộc thẩm vấn khác, Rurik nói chưa tra tấn Sumarti nhiều như mong muốn trước khi giết cô.
Xác định Sumarti đã chết, Rurik cho thi thể vào một túi nhựa lớn, bỏ vào valy chuyển ra ban công.
Sau vài ngày sống chung với thi thể, vào 31/10, Rurik lên kế hoạch tra tấn nạn nhân thứ hai. Hắn mua các dụng cụ, bao gồm giấy nhám, đinh và đèn khò, rồi quay video bằng iPhone, mô tả cách sử dụng chúng để tra tấn nạn nhân.
Đêm đó, Rurik gặp Seneng Mujiasih trong một quán bar ở Wan Chai và đề nghị trả 10.000 HKD để quan hệ tình dục. Tại căn hộ, Seneng nhìn thấy dụng cụ bạo dâm nên từ chối tiếp tục, la hét chửi bới. Rurik dí dao vào cổ cô, nói sẽ giết nếu cô tiếp tục chống cự. Trong lúc giằng co, Rurik cứa cổ nạn nhân.
Rurik nói với cảnh sát: “Tôi đang săn mồi và không may cô ta lại là kẻ bị săn đuổi”.
Sau khi dùng thêm cocaine, Rurik cho biết đã nghĩ đến việc tự tử, nhưng cuối cùng lại gọi số 999. Hắn cũng gọi cho sếp và nói: “Tôi đang gặp rắc rối lớn, ông cần phải làm gì đó để cứu vãn danh tiếng của ngân hàng”.
Kẻ ác trả giá
Trong quá trình thẩm vấn, Rurik tỏ ra ăn năn, hai lần xin lỗi các nạn nhân và gia đình.
Nhưng theo bác sĩ Kavin Chow, chuyên gia của bên công tố, Rurik vẫn tiếp tục tưởng tượng về việc cưỡng hiếp và bắt cóc ngay cả khi bị tạm giam tại một trung tâm tâm thần.
Rurik không nhận tội giết người, nhưng nhận tội ngộ sát với lý do suy giảm năng lực nhận thức do chứng rối loạn nhân cách ái kỷ và rối loạn bạo dâm tình dục, cùng việc lạm dụng ma túy và rượu.
Tại tòa, luật sư mô tả mặt tối đằng sau cuộc sống hào nhoáng bề ngoài của Rurik, bị ảnh hưởng bởi ma túy, bạo dâm và mắc chứng rối loạn nhân cách nghiêm trọng.
Tuy nhiên, khi tuyên án, thẩm phán nhận định rằng đạo đức của bị cáo đã bị tha hóa bởi ma túy, tình dục và rượu. Ông mô tả bị cáo là “kẻ cực kỳ nguy hiểm”, đã gây ra “một trong những vụ án kinh hoàng nhất ở Hong Kong”. Thẩm phán cho rằng bị cáo quay video cảnh tra tấn và giết người chỉ vì cảm thấy tự hào về điều đó, không tin rằng bị cáo thực sự hối hận về những gì đã làm với các nạn nhân. Ông tuyên án tù chung thân đối với Rurik, tháng 11/2016.
Theo các chuyên gia tâm lý tội phạm, dù hung thủ có trí thông minh cao, nhưng công việc không như ý đã dần dẫn hắn tìm đến những phương pháp sai lầm để đối phó với cảm xúc tiêu cực, hình thành những thói xấu như nghiện rượu, ma túy và đắm chìm trong nội dung bạo dâm.
Sau khi bị bắt, Rurik khai với cảnh sát rằng đã sử dụng cocaine và bị ảo giác, cảm thấy buồn bã trong lúc gây án nhưng không thấy tội lỗi. Theo các nhà tâm lý học lâm sàng, hung thủ mắc chứng rối loạn sử dụng rượu và ma túy; vào thời điểm gây án, hắn say rượu và sử dụng cocaine, dẫn đến tâm trạng hưng phấn, kích động, rối loạn tâm thần, ảo giác và giảm khả năng tự kiểm soát. Hắn còn có sở thích tình dục kỳ lạ, nghiện phim bạo dâm và khao khát hiện thực hóa những tưởng tượng bạo lực của mình để đạt được kích thích và thỏa mãn.
Do đó, việc xây dựng những thói quen sinh hoạt và sở thích lành mạnh là rất quan trọng cho sự phát triển thể chất và tinh thần của mỗi cá nhân, vừa giúp tăng cường khả năng phục hồi tâm lý vừa nuôi dưỡng thái độ tích cực với cuộc sống, giúp con người chống chịu tốt hơn trước nghịch cảnh.
Ngày 7-4, Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tiếp tục phiên xét xử 117 bị cáo trong đường dây tội phạm lừa đảo xuyên biên giới từng bị các lực lượng chức năng triệt xóa vào tháng 8-2024. Dự kiến phiên tòa sẽ diễn ra trong 10 ngày (từ ngày 6 đến 16-4).
Theo cáo trạng, A Hào và Cận (là người Trung Quốc, không rõ thông tin, lai lịch) thuê hai căn phòng 304 và 403 tại tòa nhà cao tầng thuộc Đặc khu kinh tế Tam Giác Vàng (tỉnh Bò Kẹo, Lào) hoạt động như một công ty, sau đó tuyển dụng các nhân viên là người Việt Nam để vận hành đường dây lừa đảo trực tuyến thông qua mô hình đầu tư khách sạn "ảo" nhằm chiếm đoạt tài sản.
Các nhân viên khi vào đường dây này sẽ được phân công làm một trong số các nhiệm vụ như: nhân viên quản lý chung; nhân viên phiên dịch; nhân viên chăm sóc khách hàng (hậu đài); các tổ trưởng quản lý; hướng dẫn, đào tạo các nhân viên "sale" (người liên hệ trực tiếp với bị hại).
Đơn cử, tại phòng 304, Hoàng Thùy Linh (bị can đang bỏ trốn) được giao nhiệm vụ quản lý, Hoàng Bích Ngọc (32 tuổi, ngụ Hải Phòng) và Lê Thiên Hóa (34 tuổi, ngụ tại Đắk Lắk) làm nhân viên chăm sóc khách hàng (hậu đài).
Tại phòng 403, Vũ Khắc Bảo Chung (36 tuổi, ngụ Hải Phòng) và Ngô Tuấn Anh (36 tuổi, ngụ Hải Phòng) được giao nhiệm vụ quản lý. Vi Quỳnh Trang (30 tuổi, ngụ tại Nghệ An) là người phiên dịch và cùng tham gia quản lý. Ninh Thị Kim Oanh (35 tuổi, ngụ tại Nam Định) và Ninh Thị Liễu (37 tuổi, ngụ Ninh Bình) làm nhân viên chăm sóc khách hàng (hậu đài) tham gia chỉ đạo các nhân viên “sale”.
Kịch bản lừa đảo của đường dây này là lập các tài khoản Facebook mạo danh những người thành công, giàu có, doanh nhân thành đạt, thường xuyên đăng tải các hình ảnh ăn chơi, du lịch… để kết bạn, làm quen.
Từ đó từng bước tạo dựng được mối quan hệ tình cảm với bị hại là người ở Việt Nam (chủ yếu là phụ nữ) thông qua các cuộc nói chuyện, tâm sự, chia sẻ.
Sau khi đã tạo được lòng tin, chúng sẽ lôi kéo, rủ rê lừa bị hại đầu tư kinh doanh trên mạng thông qua website kinh doanh khách sạn "ảo" mang tên "OYO" (địa chỉ: https //hotel-oyo.cc) để hưởng lợi nhuận với tỉ lệ phần trăm hoa hồng cao.
Với những “người quản lý”, họ có nhiệm vụ quản lý các tổ lừa đảo về giờ giấc, thời gian làm việc, quân số. Kiểm tra nếu có nhân viên “sale” làm việc riêng trong giờ làm, ngủ gật, đi làm muộn thì nhắc nhở, chấn chỉnh.
Nếu có nhân viên “sale” mới tuyển vào thì người quản lý hướng dẫn và gửi các tài liệu bằng giấy để nhân viên “sale” mới đọc kỹ cách thức lừa đảo người Việt Nam.
Nhóm “tổ trưởng” với trách nhiệm khi nào có khách hàng mới sẽ thông báo lên nhóm các thông tin: tên Facebook, số điện thoại, tình trạng hôn nhân, công việc, thu nhập, đã vào app (trang mạng OYO theo địa chỉ truy cập) hay chưa, sau đó người phiên dịch sẽ nhập máy tính để A Hào quản lý chung và theo dõi, đôn đốc.
Nhóm “nội quy công ty” có nhiệm vụ thông báo những ai đi muộn, ngủ gật, không đeo thẻ, ngồi làm việc không nghiêm túc bị phạt.
Nhóm người chăm sóc khách hàng (hậu đài) được phân công nhiệm vụ trực trang web chăm sóc khách hàng, tương tác với bị hại trên trang web này; trao đổi, hướng dẫn và cung cấp cho bị hại tài khoản ngân hàng để người bị hại chuyển tiền…
Người phiên dịch có nhiệm vụ khi người chủ (người Trung Quốc) có thông báo gì, người phiên dịch sẽ phiên dịch từ tiếng Trung Quốc sang tiếng Việt cho các thành viên trong nhóm biết để thực hiện theo nội dung chỉ đạo. Đồng thời, người phiên dịch còn tham gia nhiệm vụ quản lý.
Các nhân viên “sale” được phân công nhiệm vụ trực tiếp lập và sử dụng các tài khoản Facebook ảo, đóng giả là người thành đạt, doanh nhân... để kết bạn, làm quen, lấy lòng tin và hướng dẫn bị hại đăng ký ứng dụng OYO, cách chuyển tiền đầu tư.
Khi bị hại muốn rút tiền, nhân viên “sale” sẽ đề xuất với “tổ trưởng” phương án xử lý cho người bị hại rút tiền nhằm tiếp tục dụ dỗ hoặc "giết khách" để chiếm đoạt tiền.
Trong quá trình thực hiện hành vi lừa đảo, A Hào và Cận trả tiền công cho nhóm quản lý từ 5.500 - 7.000 nhân dân tệ/tháng, nhóm chăm sóc khách hàng (hậu đài) dao động từ 6.000 - 7.000 nhân dân tệ/tháng, người phiên dịch 8.000 nhân dân tệ/tháng, nhóm tổ trưởng và nhân viên “sale” được trả công khoảng 5.000 nhân dân tệ/tháng.
Kết quả điều tra của công an trong khoảng thời gian từ tháng 12-2023 đến ngày 1-8-2024, 111 bị can trong đường dây này đã thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tổng số hơn 23,5 tỉ đồng của 190 bị hại.
Quyền được Nhà nước bồi thường là quyền có tính chất hiến định, được ghi nhận xuyên suốt trong các bản Hiến pháp của Việt Nam và tiếp tục được khẳng định tại Hiến pháp năm 2013.
Thể chế hóa nguyên tắc này, Nhà nước đã từng bước hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường, từ Nghị định số 47-CP năm 1997, Nghị quyết số 388/2003/NQ-UBTVQH11 đến Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009 và Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017.
Sau gần 8 năm thi hành, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 đã trở thành công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức bị thiệt hại do hoạt động công vụ gây ra; đồng thời khẳng định trách nhiệm của Nhà nước trước Nhân dân và góp phần củng cố niềm tin vào pháp luật.
Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng luật này cho thấy một số khoảng trống cần tiếp tục nghiên cứu sửa đổi.
Thứ nhất, về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường
Từ Điều 8 đến Điều 12 của luật hiện hành quy định tương đối đầy đủ các văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường.
Tuy nhiên thực tế xuất hiện trường hợp người bị thiệt hại đã có kết luận tố cáo đúng hoặc kết luận thanh tra xác định rõ hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ, nhưng cá nhân vi phạm không bị xử lý kỷ luật hoặc xử lý hành chính do hết thời hiệu hoặc chưa đến mức xử lý.
Hệ quả là người bị thiệt hại không có văn bản thuộc diện luật quy định để làm căn cứ yêu cầu bồi thường. Do đó, cần nghiên cứu bổ sung kết luận giải quyết tố cáo hoặc kết luận thanh tra theo quy định pháp luật xác định rõ hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ là một trong các căn cứ phát sinh quyền yêu cầu bồi thường.
Thứ hai, về phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước
Các Điều 17 đến Điều 21 luật hiện hành quy định phạm vi trách nhiệm bồi thường theo hướng liệt kê. Tuy nhiên thực tiễn phát sinh nhiều trường hợp có hành vi trái pháp luật và có thiệt hại thực tế nhưng không thuộc diện được bồi thường.
Ví dụ: Luật quy định trách nhiệm bồi thường đối với việc cấp hoặc thu hồi giấy phép trái pháp luật, nhưng chưa quy định trường hợp hủy bỏ giấy phép trái pháp luật; hoặc quy định trách nhiệm đối với cấp, thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trái pháp luật nhưng chưa điều chỉnh trường hợp không cấp giấy chứng nhận trái pháp luật.
Đặc biệt, cần nghiên cứu bổ sung cơ chế bồi thường trong trường hợp đặc biệt khi công lý không còn khả năng được thực hiện do hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.
Thực tiễn đặt ra những vụ việc mà người bị hại hoặc thân nhân chịu thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng nhưng cuối cùng không thể xử lý hình sự vì hết thời hiệu, trong khi quá trình giải quyết kéo dài có dấu hiệu gắn với trách nhiệm của cơ quan bảo vệ pháp luật.
Trường hợp ông Đỗ Thanh An tại Bình Thuận (nay thuộc tỉnh Lâm Đồng) mà báo Tuổi Trẻ nhiều lần phản ánh, là một ví dụ được dư luận quan tâm. Theo thông tin được báo phản ánh, gia đình nạn nhân nhiều năm cung cấp tài liệu, liên tục kiến nghị làm rõ cái chết của người mẹ. Tuy nhiên vụ việc kéo dài qua nhiều giai đoạn, đến khi xác định được đối tượng thì phát sinh vấn đề hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.
Từ thực tiễn đó, câu hỏi pháp lý được đặt ra không chỉ là còn hay không còn thời hiệu xử lý hình sự, mà còn là: Ai chịu trách nhiệm đối với những tổn thất vật chất và tinh thần kéo dài của gia đình người bị hại khi công lý không thể thực hiện được bằng bản án?
Trong khi đó, Hiến pháp năm 2013 quy định Nhà nước có trách nhiệm công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; quyền sống được pháp luật bảo hộ. Vì vậy, bảo vệ quyền tiếp cận công lý không chỉ dừng lại ở việc thiết lập chế tài hình sự mà còn cần cơ chế khắc phục khi quyền đó không được bảo vệ hữu hiệu.
Đề xuất này không đồng nghĩa mở rộng vô hạn trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Cơ chế đặc biệt chỉ nên áp dụng khi đồng thời đáp ứng các điều kiện: thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng; có căn cứ cho thấy quá trình giải quyết vụ án kéo dài bất hợp lý hoặc có phần trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng; việc hết thời hiệu làm mất cơ hội phục hồi quyền lợi chính đáng của người bị hại.
Trong quá trình thảo luận chính sách sửa đổi Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, Bộ trưởng Bộ Tư pháp nhấn mạnh yêu cầu bảo đảm tính ổn định của hệ thống pháp luật, nhưng đồng thời khẳng định Quốc hội vẫn là cơ quan có thẩm quyền quyết định cuối cùng đối với những trường hợp đặc biệt phát sinh từ thực tiễn. Đó là một gợi mở đáng suy ngẫm: Pháp luật cần ổn định nhưng không nên khép kín trước những hoàn cảnh đặc biệt của đời sống.
Vì vậy, luật sửa đổi nên bổ sung trường hợp đặc biệt: Nhà nước có trách nhiệm bồi thường cho thân nhân người bị thiệt hại trong vụ án hình sự bị đình chỉ do hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi phạm tội như vụ án ông Đỗ Thanh An cả đời đi tìm công lý sau cái chết của mẹ.
Ngày 25/6, Công an tỉnh Tây Ninh cho biết, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Lê Văn Cường (ngụ xã Cần Giuộc, Tây Ninh) để điều tra về tội Gây ô nhiễm môi trường.
Trước đó, Phòng Cảnh sát kinh tế Công an tỉnh Tây Ninh phối hợp các đơn vị chức năng và Công an xã Cần Giuộc bắt quả tang Cường điều khiển xe tải đổ trái phép gần 600 tấn chất thải là các tấm xi măng sợi hỏng (fiber cement) tại khu đất thuộc ấp Long Hậu 1, xã Cần Giuộc.
Kết quả điều tra ban đầu xác định, Cường không có giấy phép môi trường, đồng thời không được cấp chức năng tiếp nhận, xử lý chất thải rắn công nghiệp thông thường.
Tuy nhiên, người này vẫn ký hợp đồng thu gom các tấm xi măng sợi hỏng, bị loại bỏ từ một số công ty sản xuất vật liệu xây dựng.
Thay vì chuyển giao cho đơn vị có chức năng xử lý chất thải rắn theo quy định, Cường đem bán lại cho người có nhu cầu và đổ ra môi trường.