Lực lượng chức năng thành phố Đà Nẵng đang xác minh một người đàn ông trượt ván ở làn ô tô, khi bị tài xế nhắc nhở, thay vì tiếp thu người này hùng hổ cầm ván lên văng tục và đe dọa.
Theo clip ghi lại, khoảng 10h30 ngày 1/7, khi nhiều ô tô di chuyển trên đường Điện Biên Phủ, hướng từ trung tâm thành phố lên cầu vượt Ngã Ba Huế phải né một người đàn ông cởi trần, mang ba lô và trượt ván ở dưới lòng đường.
Khi một tài xế ô tô bóp còi, nhắc nhở người đàn ông quay lại cầm ván trượt lên đe dọa, lớn tiếng thách thức đòi đập xe. Người đàn ông này còn nói “biết bố mày là ai không”?
Chưa dừng lại ở đó, người đàn ông dùng những từ ngữ tục tĩu khác dành cho tài xế phương tiện có camera hành trình. Ngoài ra, người này còn vứt ván trượt và ba lô lên con lươn để đòi “ăn thua” với tài xế.
Tuyến đường Điện Biên Phủ có 3 làn ô tô, xe máy, xe thô sơ và một làn dừng khẩn cấp mỗi bên. Vị trí nam thanh niên trượt ván là làn đường sát con lươn, chỉ dành riêng cho ô tô lưu thông.
Chiều 5/7, trao đổi với phóng viên Dân trí, đại diện Phòng Cảnh sát giao thông Công an thành phố Đà Nẵng cho biết sẽ phối hợp công an phường để xác minh vụ việc.
Tin Gốc: Dân Trí

Ông Trương Văn Sa Tăng (59 tuổi, nguyên Chủ tịch Hội Nông dân P.Cam Phúc Bắc, TP.Cam Ranh (cũ), Khánh Hòa) là em họ của liệt sĩ Trần Văn Khôi, kể lại mẹ ông Tăng là bà Nguyễn Thị Nhơn (em gái mẹ ông Khôi), lấy chồng và sinh sống ở khu vực Mỹ Ca (Cam Ranh) từ trước năm 1975. Giữa năm 1975, trung úy Khôi cùng đơn vị ra đóng quân ở căn cứ Cam Ranh. Trong một lần về thăm quê Hoài Nhơn (Bình Định cũ), biết bà dì Nguyễn Thị Nhơn đang sống cách nơi mình đóng quân khoảng 20 km, ông Khôi đã cất công dò tìm và gặp được.
Từ thời điểm cuối năm 1975 - đầu tháng 3.1976 (trước khi ra đảo Sinh Tồn), trung úy Khôi thường xuyên đạp xe ra gia đình dì Nguyễn Thị Nhơn thăm chơi, ăn ở dịp cuối tuần, lễ tết. Thấy cháu vất vả, bà dì đã cho mượn chiếc xe gắn máy làm phương tiện đi lại và đây cũng là chiếc xe máy duy nhất có mặt tại doanh trại Tiểu đoàn 4 (Lữ đoàn Hải quân đánh bộ 126) ở căn cứ Cam Ranh lúc đó.
Khoảng 10 ngày trước khi xuống tàu ra đảo, trung úy Khôi ra nhà bà dì Nguyễn Thị Nhơn chào "con phải ra Trường Sa làm Chỉ huy trưởng đảo Sinh Tồn" và gửi lại chiếc xe gắn máy trả dì. Gần Tết âm lịch Đinh Tỵ 1977, một người bạn của ông Khôi thường đi cùng ra chơi, tìm gặp bà Nhơn thông báo tin dữ: "Anh Trần Văn Khôi đã chết ngoài đảo. Thông tin cụ thể đơn vị sẽ báo sau"…
"Năm 2010, trước khi nhắm mắt, mẹ tôi vẫn nhắc hỏi về anh Khôi", ông Trương Văn Sa Tăng nhớ lại và kể: Từ khi ông Trần Văn Hảo đi bộ đội về, cứ mấy năm lại từ Bình Định nhảy xe đò vào Mỹ Ca dò hỏi thông tin anh trai Trần Văn Khôi. Do căn cứ Cam Ranh được bảo vệ rất chặt, ông Hảo không thể qua cổng để vào Lữ đoàn 146 và Bộ Tư lệnh Vùng 4 Hải quân, nên phải bắt quen nhờ vả các cán bộ hải quân sinh sống xung quanh, tiện xe chở qua các cổng vệ binh.
Năm 2012, ông Hảo đã già yếu nhưng vẫn cố gắng ra Vùng 4 Hải quân, nhờ ông Tăng đưa vào gặp cán bộ chính sách Vùng 4 Hải quân, tiếp tục hỏi tin anh trai Trần Văn Khôi. Đơn vị cho xe chở 2 ông ra nghĩa trang liệt sĩ Cam Ranh (cũ), chỉ ngôi mộ ghi trên bia "Liệt sĩ Đỗ Văn Khôi, hy sinh 1976, đảo Sinh Tồn".
Ông Hảo thắc mắc: "Anh tôi họ Trần chứ không phải họ Đỗ. Nếu nhận phần mộ này thì làm cách nào biết đó là xương cốt anh trai tôi? Là liệt sĩ, sao đơn vị không báo tin cho gia đình và giấy tờ, chế độ liệt sĩ bao năm qua đang ở đâu?". Cán bộ chính sách Vùng 4 Hải quân xoa dịu: "Bác cứ về đi, rồi chúng tôi sẽ có cách giải quyết và báo tin đến tận nhà!". 14 năm đã trôi qua, ông Hảo và thân nhân liệt sĩ Trần Văn Khôi vẫn chưa nhận được thông tin cụ thể.
Theo danh sách "Liệt sĩ hy sinh vì hòa bình và ổn định tại Cam Ranh" (kèm theo Công văn số 10.234/CT-CS ngày 16.9.2009 của Cục Chính trị Hải quân), từ năm 1975 - 2009, chỉ có 1 liệt sĩ tên Khôi, hy sinh năm 1976. Thông tin cụ thể được ghi trong danh sách: Liệt sĩ Đỗ Văn Khôi, sinh năm 1954, nhập ngũ tháng 1.1972, hy sinh 1976, cấp bậc chức vụ: trung úy - đảo trưởng, đơn vị: Lữ 146, Vùng 4; quê quán: thành phố Quy Nhơn, Bình Định.
Với sự giúp đỡ rất nhiệt tình, trách nhiệm của Thủ trưởng Quân chủng Hải quân, Bộ Tư lệnh Vùng 4 Hải quân và Lữ đoàn 146 thuộc Vùng 4 Hải quân…, chúng tôi đã được tiếp cận các tài liệu lưu trữ để lấy thông tin về liệt sĩ Đỗ Văn Khôi.
Thậm chí, Chuẩn đô đốc (thiếu tướng) Nguyễn Đình Hùng, Phó tư lệnh Quân chủng Hải quân, đã trực tiếp yêu cầu ngành chính sách rà soát kiểm tra.
Ngày 2.6, đại tá Nguyễn Công Thắng, Phó chủ nhiệm Chính trị Hải quân, đã có văn bản báo cáo Chuẩn đô đốc Nguyễn Đình Hùng, cụ thể như sau: "Cục Chính trị rà soát Sổ đăng ký liệt sĩ công tác tại Lữ đoàn 146, Vùng 4 Hải quân. Kết quả như sau: Liệt sĩ Đỗ Văn Khôi, sinh năm 1951, quê quán: Quy Nhơn, Bình Định (nay là tỉnh Gia Lai); nhập ngũ 1.3.1973; cấp bậc trung úy, đại đội trưởng; hy sinh ngày 29.5.1975. Hiện mộ phần được an táng tại nghĩa trang liệt sĩ phường Cam Ranh (cũ), nay là phường Ba Ngòi. Số phần mộ 193 - Khu K8"…
Các thông tin này có nhiều điểm không trùng khớp với nhau (năm sinh, thời gian nhập ngũ - hy sinh…). Về thông tin thân nhân liệt sĩ, các cán bộ ngành chính sách Hải quân đã tìm kiếm rất kỹ, nhưng không có thông tin gia đình người thân.
Từ thông tin "quê quán: Quy Nhơn, Bình Định" của liệt sĩ Khôi, chúng tôi liên hệ với chị Nguyễn Thị Thanh Lịch, Phó chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai, và được chị Lịch cùng các cán bộ Sở Nội vụ, Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh giúp đỡ rất nhiệt thành.
"Trong hồ sơ lưu trữ của tỉnh Gia Lai mới và Bình Định cũ, không có thông tin về liệt sĩ Đỗ Văn Khôi, quê quán Quy Nhơn, Bình Định, hy sinh năm 1975 - 1976", ông Phan Đình Hòa, Phó giám đốc Sở Nội vụ Gia Lai, khẳng định.
Một cán bộ ngành Nội vụ cho biết: "Trên hệ thống quản lý dữ liệu liệt sĩ toàn quốc, không ghi nhận thông tin về liệt sĩ Đỗ Văn Khôi/Trần Văn Khôi/Trần Khôi, quê quán Bình Định, hy sinh trong thời gian 1975 - 1976" và nhận định: "Có thể khi làm hồ sơ công nhận liệt sĩ, cán bộ phụ trách đã dùng thông tin khác. Cũng có thể đối tượng chưa được công nhận liệt sĩ, nhưng vẫn tự đưa vào danh sách".
Đại tá Nguyễn Kiều Kinh, nguyên Trưởng phòng Chính sách Quân chủng Hải quân, chia sẻ với chúng tôi: Trong gần 10 năm phụ trách công tác chính sách của Quân chủng Hải quân, ông chưa thấy cấp dưới báo cáo về trường hợp này.
"Thời điểm ấy diễn ra việc chia tách - sáp nhập các đơn vị, có thể hồ sơ giấy tờ thất lạc, sơ suất làm thay tên đổi họ. Thế nhưng cán bộ xử lý việc này quá máy móc. Cả đơn vị có 1 người tên Khôi, hy sinh thời điểm ấy, thì cũng có thể xác định sự trùng hợp và thông tin cho thân nhân", đại tá Kinh nói và khẳng định: "Phải tìm kiếm hồ sơ liệt sĩ và thông tin chính thức cho gia đình. Cần thiết thì xác định ADN. Nếu chế độ chính sách chưa thực hiện, phải sửa chữa ngay"…
Tin Gốc: Thanh Niên

Dự án được khởi công tại khu vực ga Hạ Long Xanh, phường Tuần Châu và phường Việt Hưng, tỉnh Quảng Ninh. Đây là tuyến đường sắt tốc độ cao được khởi công đầu tiên ở Việt Nam.
Tuyến Hà Nội - Quảng Ninh được thiết kế đường đôi, khổ 1.435 mm và điện khí hóa. Điểm đầu tại Trung tâm Hội chợ triển lãm quốc gia, xã Đông Anh, TP Hà Nội; điểm cuối tại khu công viên phường Tuần Châu, tỉnh Quảng Ninh.
Tốc độ thiết kế đoạn chính đạt 350 km/h, riêng đoạn qua Hà Nội 120 km/h. Trên tuyến bố trí 5 nhà ga gồm: Cổ Loa, Gia Bình, Ninh Xá, Yên Tử và Hạ Long Xanh. Một depot được đặt tại ga Hạ Long Xanh.
Dự án sử dụng khoảng 551 ha đất, trong đó Hà Nội 44 ha, Bắc Ninh 19 ha, Hải Phòng 210 ha và Quảng Ninh 278 ha.
Tổng mức đầu tư dự án khoảng 147.370 tỷ đồng, chưa bao gồm 10.270 tỷ đồng chi phí giải phóng mặt bằng do ngân sách nhà nước chi trả. Vốn của nhà đầu tư khoảng 22.110 tỷ đồng, phần còn lại hơn 125.000 tỷ đồng được huy động, chiếm khoảng 85% tổng vốn. Nhà đầu tư dự án là Công ty cổ phần đầu tư và phát triển đường cao tốc Vinspeed.
Tuyến đường sắt dự kiến hoàn thành vào năm 2028, giúp rút ngắn thời gian di chuyển đường bộ hiện nay giữa Hà Nội và Quảng Ninh từ 2-2,5 giờ xuống còn 25-30 phút.
Theo UBND tỉnh Quảng Ninh, tuyến đường sắt được xây dựng nhằm đáp ứng nhu cầu vận tải hành khách trên trục Hà Nội - Bắc Ninh - Hải Phòng - Quảng Ninh, tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững, phát huy lợi thế trên hành lang kinh tế khu vực, đồng thời tăng cường kết nối mạng lưới đường sắt trong nước và quốc tế.
Tin Gốc: Vnexpress
Thời Sự
Đình cổ hơn 150 năm 'giữa dòng kênh' độc bản ở TP.HCM, được vua ban sắc phong

Giữa dòng kênh Đôi (TP.HCM) tồn tại một đình cổ hơn 150 năm tuổi - từng được vua Tự Đức ban sắc phong và là cơ sở hoạt động của Công hội bí mật. Ít ai ngờ, giữa đô thị sầm uất, vẫn có một "cù lao lịch sử" lưu giữ gần như nguyên vẹn dấu tích Sài Gòn xưa. Đó là đình Bình Đông (ở quận 8 cũ).
Chiều đầu tháng 5.2026, trong cái nắng đặc trưng của TP.HCM, xuôi theo những cung đường uốn lượn, phóng viên Thanh Niên men theo rạch Bà Tàng để tìm đến một cù lao nhỏ và khám phá rõ hơn về ngôi đình này.
Người dân địa phương khi được hỏi đều không thể xác định chính xác thời điểm đình được xây dựng. Họ chỉ biết rằng đình đã tồn tại từ xa xưa, ban đầu chỉ là một ngôi nhà lá đơn sơ nơi dân làng tụ họp, cúng bái và sinh hoạt cộng đồng.
Theo ghi chép trong Gia Định thành thông chí của tác giả Trịnh Hoài Đức, đình Bình Đông đã được ban sắc phong vào năm Tự Đức ngũ niên (1853). Điều này đồng nghĩa ngôi đình phải được dựng lên trước thời điểm này.
Sắc phong cho Thần Thành hoàng bổn cảnh của thôn Bình Đông, huyện Tân Long mang niên đại ngày 29.11 âm lịch năm Nhâm Tý (tức 8.1.1853), minh chứng rõ nét cho bề dày lịch sử của công trình.
Thủ từ của đình Bình Đông chia sẻ: "Sắc phong của vua được thờ ở chính điện, không ai dám mở ra xem. Chỉ có lễ Kỳ Yên (cầu an), đình thực hiện nghi thức vén rèm, xịt dầu thơm cho sắc phong như một cách gìn giữ, chăm chút báu vật. Sau khi bế mạc lễ Kỳ Yên, sẽ hạ rèm đỏ và bảo quản sắc phong phía sau rèm".
Trải qua thời gian, đình nhiều lần được trùng tu. Đến năm 1922, đình được nâng cấp với mái ngói, vách ván, cột kèo gỗ theo phong cách đình Nam bộ đặc trưng.
Biến cố lịch sử năm 1968 khiến đình Bình Đông bị tàn phá nặng nề. Sau đó, đình được xây dựng lại bằng kết cấu bê tông cốt thép nhưng vẫn giữ nguyên kiến trúc truyền thống.
Tổng thể công trình gồm võ ca và chính điện nằm trung tâm, 2 bên là Đông lang, Tây lang cùng nhà Nghĩa từ..., là bố cục quen thuộc của đình làng Nam bộ.
Điểm nhấn đặc biệt của đình nằm ở hệ thống hiện vật bên trong chính điện. Các khám thờ, Tả Hữu ban, Hội đồng được chạm thủng viền quanh với hình ảnh rồng vờn châu, tứ linh... đầy tính nghệ thuật.
Những bao lam chạm khắc tinh xảo trên gỗ quý với hình mai, lan, cúc, trúc, mẫu đơn, sóc..., càng làm nổi bật giá trị mỹ thuật truyền thống. Đáng chú ý, bức hoành phi Bình Đông Đình treo tại cửa chính điện vẫn còn được lưu giữ nguyên vẹn.
Không chỉ là một ngôi đình cổ linh thiêng, đình Bình Đông còn gắn liền với những dấu mốc quan trọng của lịch sử cách mạng.
Tài liệu ở đình Bình Đông giới thiệu: "Năm 1920, người công nhân Tôn Đức Thắng (sau này là Chủ tịch nước) đã thành lập Công hội bí mật - tổ chức đầu tiên của giai cấp công nhân Việt Nam.
Người đã chọn đình Bình Đông là nơi hội họp, sinh hoạt của công hội những năm 1920 - 1925 và Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên 1927 - 1929. Đình Bình Đông cũng là một cơ sở cách mạng trong thời kỳ chống Mỹ".
Bên cạnh giá trị lịch sử, đình Bình Đông còn lưu giữ đời sống văn hóa tâm linh đặc sắc của người dân Nam bộ. Hằng năm, lễ Kỳ Yên diễn ra vào ngày 12, 13 và 14.2 âm lịch với đầy đủ nghi thức truyền thống.
Chia sẻ với chúng tôi, thủ từ đình Bình Đông cho hay: "Bà con tin đình linh thiêng nên năm nào cũng ghé thăm. Có người cầu xong, công việc thuận lợi thì quay lại tạ lễ".
Với những giá trị tiêu biểu về lịch sử và văn hóa, đình Bình Đông đã được Bộ Văn hóa (nay là Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch) công nhận là di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia năm 1997.
Gần 2 thế kỷ trôi qua, đình Bình Đông - ngôi đình cổ hiếm hoi ở TP.HCM tồn tại giữa dòng kênh Đôi lặng lẽ giữ lại ký ức Sài Gòn xưa như "điểm chạm quá khứ" mà không phải ai cũng biết rõ.
Tin Gốc: Thanh Niên

