Phát biểu tại Phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 5/2026 diễn ra vào sáng 3/6, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn cho biết, trong bối cảnh thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường, đặc biệt là tác động từ xung đột tại Trung Đông, nhưng dưới sự chỉ đạo quyết liệt, đồng bộ của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, tình hình kinh tế-xã hội nước ta tiếp tục đạt nhiều kết quả tích cực.
Theo đó, chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 5 ước tăng hơn 8,7% so với cùng kỳ. Tính chung 5 tháng, chỉ số này tăng hơn 9%, cao nhất trong cùng kỳ từ năm 2021, trong đó chế biến, chế tạo tăng gần 9,5%.
Một điểm sáng nữa trong bức tranh kinh tế là tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 5 tháng tăng hơn 11%, cao nhất từ năm 2024 đến nay. Khách quốc tế đạt gần 11 triệu lượt, cao nhất từ trước đến nay, tăng gần 15%. Sản xuất nông nghiệp duy trì đà tăng khá.
“Tuy nhiên, cần lưu ý ảnh hưởng của El Nino, thời tiết cực đoan, nắng nóng, hạn mặn, mưa lũ, chi phí phân bón, vật tư nông nghiệp ở mức cao”, Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn lưu ý và cho rằng cần tiếp tục tập trung vào lĩnh vực công nghiệp, tiêu dùng, nông nghiệp để khai thác cho tăng trưởng.
Về lạm phát và nguồn cung xăng dầu, điện, chỉ số giá tiêu dùng tháng 5 tăng 0,3% so với tháng trước, thấp nhất trong 3 tháng gần đây. Tuy nhiên, tháng 5 tăng 5,6% so với cùng kỳ, bình quân 5 tháng tăng 4,31%.
Bên cạnh đó, giá xăng dầu trong nước được điều hành ở mức thấp so với khu vực, giúp ổn định giá cả. Nguồn cung xăng dầu đến hết tháng 5 cơ bản đáp ứng nhu cầu.
Song, Bộ Tài chính khuyến nghị việc điều chỉnh giá điện, giáo dục, y tế trong năm 2026 cần tính toán kỹ lưỡng để tránh tác động cộng hưởng lên mặt bằng giá. Đồng thời, cần tăng cường quản lý giá cả, không để tăng giá đột biến trong mùa cao điểm, mưa bão.
Ngoài ra, Bộ Tài chính kiến nghị Bộ Công Thương làm việc với các tập đoàn liên quan để rà soát lại, nâng kế hoạch sản lượng sản xuất và khai thác; chủ động các kịch bản điều tiết nguồn điện, không để thiếu điện cho sản xuất và cho tăng trưởng 2 con số.
Bám sát quan điểm tại Kết luận số 18-KL/TW là “vượt qua khó khăn của năm 2026, bứt phá trong giai đoạn 2027-2030”, Bộ Tài chính kiến nghị nguyên tắc điều hành thời gian tới là kiên định mục tiêu phấn đấu tăng trưởng 2 con số, đồng thời theo dõi chặt để kiểm soát lạm phát, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô.
Trên cơ sở đó, Bộ Tài chính đề xuất một số nhiệm vụ trọng tâm. Cụ thể, Bộ sẽ trình Chính phủ gia hạn nộp thuế và tiền thuê đất, để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân.
Bộ đề xuất Chính phủ chỉ đạo các bộ, địa phương đẩy nhanh giải ngân đầu tư công gắn với nâng cao hiệu quả đầu tư công, đặc biệt 12 bộ, địa phương đang giải ngân thấp, chưa giải ngân và các dự án trọng điểm.
Bộ Xây dựng chủ trì rà soát, kiến nghị biện pháp giải quyết dứt điểm vấn đề nguồn cung và giá vật liệu xây dựng theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, kiên quyết xử lý các trường hợp gây cản trở, cục bộ, găm hàng để tăng giá trục lợi; triển khai cơ chế điều phối liên vùng về vật liệu xây dựng cho các dự án trọng điểm.
Về chính sách tiền tệ, Ngân hàng Nhà nước điều hành bảo đảm ổn định lãi suất, bảo đảm thanh khoản; chỉ đạo các ngân hàng thương mại đẩy mạnh tiết giảm chi phí hoạt động, tạo dư địa giảm thực chất lãi suất cho vay; kiểm soát chặt dòng ngoại tệ và nợ xấu; theo dõi sát cán cân thanh toán hằng tháng.
Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước phối hợp chặt chẽ để bảo đảm thanh khoản cho thị trường trái phiếu Chính phủ và sửa đổi quy định hướng tới nâng hạng thị trường chứng khoán theo chuẩn mực quốc tế.
Về sản xuất kinh doanh và xuất nhập khẩu, từng bộ, địa phương, tập đoàn, doanh nghiệp Nhà nước bám sát kịch bản, xác định rõ dư địa để thúc đẩy tăng trưởng, đặc biệt là 22 địa phương có sản xuất công nghiệp thấp hơn kịch bản.
Bộ Công Thương bảo đảm nguồn cung xăng dầu, điện cho tăng trưởng, xúc tiến thương mại theo từng ngành hàng, thị trường và theo dõi sát để xử lý vấn đề nhập siêu. Thúc đẩy tiêu dùng gắn với nâng cao hiệu quả đóng góp của thị trường trong nước vào tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng xanh, bền vững, tạo thị trường hàng hóa cho các doanh nghiệp trong nước.
Đối với việc điều hành giá cả, Bộ Công Thương, các bộ, cơ quan, địa phương phối hợp làm tốt công tác quản lý giá cả, thị trường, điều tiết cung-cầu; xử lý nghiêm các hành vi đầu cơ, trục lợi, tăng giá bất thường, bảo đảm kiểm soát theo kịch bản đề ra. Bộ Y tế, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Công Thương đánh giá kỹ lộ trình tăng giá dịch vụ y tế, giáo dục, giá điện gắn với kịch bản lạm phát.
Ngày 29.5 vừa qua, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) công bố dự thảo sửa đổi bổ sung Nghị định 24/2012 về quản lý hoạt động kinh doanh vàng. Điểm mới đáng chú ý được đưa vào dự thảo lần này là bỏ giấy phép con đối với hoạt động sản xuất, gia công, kinh doanh mua, bán vàng trang sức mỹ nghệ (TSMN) kể từ ngày 1.7. Đồng thời, NHNN không còn kiểm tra, thanh tra đối với hoạt động sản xuất vàng TSMN như quy định cũ. Dù vậy, dự thảo cũng yêu cầu tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động sản xuất, gia công, kinh doanh mua, bán vàng TSMN có trách nhiệm tuân thủ quy định của pháp luật về chất lượng sản phẩm, hàng hóa, tiêu chuẩn, đo lường, nhãn hàng hóa, niêm yết giá, hóa đơn, chứng từ, thuế, phòng cháy chữa cháy, bảo vệ môi trường, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, phòng chống rửa tiền và pháp luật khác có liên quan.
Giám đốc một doanh nghiệp (DN) sản xuất vàng nữ trang có trụ sở tại TP.HCM cho biết hiện để có được giấy phép sản xuất vàng trang sức, DN sẽ phải mất từ 3 - 6 tháng đáp ứng các điều kiện đưa ra để hoàn tất hồ sơ, trong đó quan trọng nhất là phòng cháy chữa cháy, bảo vệ môi trường. Ngay cả tiệm chuyên kinh doanh vàng, muốn có thợ sửa trang sức cũng phải có giấy phép. Vì vậy khi được bỏ giấy phép con thì các DN được giảm thủ tục hành chính, rút ngắn được thời gian.
Ông Nguyễn Văn Dưng, Chủ tịch Hội Mỹ nghệ kim hoàn TP.HCM, phấn khởi cho biết: Nhiều năm qua, Hiệp hội Kinh doanh vàng VN (VGTA) liên tục kiến nghị đưa hoạt động sản xuất TSMN ra khỏi danh sách ngành nghề kinh doanh có điều kiện. Đến luật Đầu tư sửa đổi, bổ sung chính thức được thông qua năm 2025 đã đưa TSMN ra khỏi ngành nghề kinh doanh có điều kiện và nay Dự thảo sửa đổi, bổ sung Nghị định 24/2012 là tin vui lớn đối với ngành kim hoàn.
"Trên thế giới cũng xem hoạt động sản xuất chế tác và kinh doanh vàng TSMN là ngành nghề sản xuất kinh doanh hàng hóa thông thường, không quốc gia nào quy định là ngành nghề kinh doanh có điều kiện. Các nước Thái Lan, Singapore, Indonesia, UAE… còn có nhiều chính sách hỗ trợ, khuyến khích để phát triển mạnh mẽ ngành này nhằm đáp ứng nhu cầu trong nước cũng như xuất khẩu tạo nguồn thu ngoại tệ. Đó là lý do các quốc gia này xuất khẩu sản phẩm vàng TSMN lên tới 5 - 7 tỉ USD mỗi năm", ông Dưng phân tích.
Ông Huỳnh Trung Khánh, Phó chủ tịch VGTA, nhận xét: Chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Thông báo số 211-TB/VPTW ngày 30.5.2025 về "khuyến khích phát triển thị trường vàng trang sức đưa VN trở thành trung tâm chế tác, xuất khẩu vàng trang sức chất lượng cao trong khu vực" là chỉ đạo mang tính đột phá và chiến lược quan trọng để phát triển ngành này thành ngành mũi nhọn, tái tạo nguồn ngoại tệ cho đất nước, góp phần tăng dự trữ ngoại hối quốc gia. Bởi năng lực và trình độ của các DN VN không chỉ đủ sản xuất, chế tác vàng trang sức đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn có thể cạnh tranh xuất khẩu ra thị trường thế giới.
Tuy nhiên theo ông Khánh, sau khi tháo gỡ giấy phép con, để ngành TSMN hoạt động minh bạch, phát triển lành mạnh trong thời gian tới, cơ quan chức năng cần sớm giải quyết vấn đề vàng nguyên liệu, cho phép nhập khẩu vàng nguyên liệu để đáp ứng nhu cầu sản xuất.
Trong những năm qua, nhu cầu vàng nguyên liệu để sản xuất vàng miếng, vàng trang sức trung bình khoảng 50 tấn/năm, tương đương khoảng 5 tỉ USD/năm (khoảng 420 triệu USD/tháng). Sau khi đưa vào sản xuất, chế tác thì môt nửa để đáp ứng nhu cầu trong nước, một nửa để xuất khẩu. Tức là 25 tấn vàng dùng để xuất khẩu, có thể thu về từ 3,5 - 5 tỉ USD. Trong đó giá trị sức lao động chiếm tới trên 30% giá trị sản phẩm xuất khẩu. Như vậy, việc cho DN nhập vàng nguyên liệu về sản xuất, chế tác thành vàng TSMN không những đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước mà còn xuất khẩu, tái tạo nguồn ngoại tệ khá lớn cho đất nước.
Để VN trở thành trung tâm chế tác, xuất khẩu vàng trang sức chất lượng cao trong khu vực, theo ông Nguyễn Văn Dưng, còn nhiều việc cần làm trong thời gian tới, đặc biệt là về nguồn nguyên liệu phục vụ sản xuất. Thực tế, thị trường trang sức vàng VN liên tục suy giảm trong giai đoạn 2023 - 2025 với khối lượng trang sức vàng tiêu thụ giảm trung bình 15%/năm. Nhiều cửa hàng kinh doanh phải đóng cửa, kéo theo nhiều nhân viên bán hàng và công nhân sản xuất phải nghỉ chờ việc hoặc chuyển ngành. Nguyên nhân suy giảm một phần từ sức ép thiếu hụt nguồn nguyên vật liệu. Các DN chế tác gặp nhiều khó khăn trong vận hành nên không dám mạnh dạn đẩy mạnh đầu tư, từ đó bỏ lỡ các lợi thế cạnh tranh của VN. Trong khi đó, những nước lân cận như Thái Lan, Indonesia đang là những quốc gia xuất khẩu trang sức hàng đầu dù họ cũng chỉ có trình độ tương đương, thậm chí thấp hơn chúng ta trong một số lĩnh vực… Nguyên nhân gốc rễ là do chúng ta gộp chung quản lý vàng TSMN với vàng miếng.
Từ góc nhìn đó, ông Nguyễn Văn Dưng kiến nghị quản lý sản phẩm trang sức vàng mỹ nghệ như là hàng hóa tiêu dùng, tham khảo theo thông lệ quốc tế. Còn vàng miếng, vàng đầu tư thì do ngân hàng trung ương quản lý. Từ đó xây dựng chính sách phát triển ngành kim hoàn VN như một ngành công nghiệp trọng điểm. Ở các quốc gia có ngành kim hoàn phát triển, hằng năm xuất khẩu lượng TSMN lớn ra quốc tế như Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia, ngành kim hoàn được quản lý như một ngành công nghiệp tiêu dùng. Các quốc gia này cũng có các chính sách hỗ trợ rất chi tiết, từ việc xây dựng các khu công nghiệp tập trung đến các chính sách triển khai chuỗi giá trị của ngành.
"Cơ chế quản lý ngành kim hoàn VN như một ngành công nghiệp vừa giữ gìn và phát triển một ngành nghề thủ công mỹ nghệ mang bản sắc dân tộc, vừa hướng tới trở thành quốc gia hàng đầu về xuất khẩu TSMN trên trường quốc tế", ông Nguyễn Văn Dưng nhấn mạnh.
Đó là chỉ đạo nóng trong văn bản được Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Lê Công Thành ký ngày 28.4, gửi các tập đoàn: Điện lực Việt Nam (EVN); Công nghiệp năng lượng quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) và Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) và 32 nhà máy nhiệt điện.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề nghị các chủ đầu tư, đơn vị vận hành nhà máy nhiệt điện rà soát toàn diện hiện trạng thiết bị, hiệu quả vận hành của các công trình xử lý chất thải; chủ động rà soát hệ thống xử lý khí thải nhằm phòng ngừa, giảm thiểu sự cố môi trường có thể dẫn tới nguy cơ xả khí thải vượt quy chuẩn kỹ thuật.
Các nhà máy nhiệt điện bảo đảm vận hành ổn định, hiệu quả hệ thống thu gom, xử lý khí thải và hệ thống quan trắc khí thải tự động, liên tục; ưu tiên rà soát, sửa chữa, thay thế, bổ sung vật tư tiêu hao, định kỳ bảo trì, bảo dưỡng thiết bị để bảo đảm điều kiện vận hành ổn định, đặc biệt là trong các tháng cao điểm mùa khô.
Khi phát hiện hệ thống xử lý khí thải xuống cấp, hư hỏng, các nhà máy phải kịp thời khắc phục, sửa chữa và có kế hoạch định kỳ bảo dưỡng, sửa chữa, thay thế vật tư, hóa chất, thiết bị theo hướng chủ động, ưu tiên thực hiện trước mùa khô hoặc bố trí trong các thời điểm phụ tải thấp; không làm gián đoạn vận hành các tổ máy phát điện.
Trường hợp bảo dưỡng, sửa chữa, cải tạo thiết bị có khả năng ảnh hưởng đến công tác huy động công suất phát điện, các nhà máy cần lập kế hoạch cụ thể, phối hợp với đơn vị điều độ hệ thống điện để bố trí thời gian thực hiện phù hợp với kế hoạch huy động điện trong mùa khô theo chỉ đạo, hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng đề nghị chủ đầu tư, đơn vị vận hành nhà máy nhiệt điện xem xét, lựa chọn, kết hợp thực hiện một số biện pháp cụ thể đối với công tác vận hành tổ máy phát điện và hệ thống xử lý bụi, khí thải.
Các nhà máy nhiệt điện tăng cường kiểm soát chặt chẽ chất lượng nhiên liệu đầu vào, đặc biệt là các chỉ tiêu kỹ thuật về hàm lượng lưu huỳnh, tro, độ ẩm trong than. Trên cơ sở đó, các nhà máy dự báo nồng độ phát thải đối với các thông số ô nhiễm cơ bản trong khí thải (SO2, NOx và bụi tổng) để điều chỉnh tỷ lệ phối trộn nhiên liệu phù hợp; không tiếp nhận than không bảo đảm chất lượng theo thiết kế công nghệ của tổ máy.
Các nhà máy nhiệt điện duy trì và tăng cường bề mặt trao đổi nhiệt (thông qua cơ chế nghiền than, chế độ cấp gió, xử lý xỉ lò), bảo đảm hiệu suất cháy ổn định, hạn chế dao động tải nhằm vận hành tổ máy ở chế độ tối ưu đồng thời hạn chế tối đa việc thay đổi đột biến về nồng độ của các thông số ô nhiễm trong khí thải.
Để tăng cường khả năng vận hành hiệu quả hệ thống xử lý khí thải, giảm thiểu nguy cơ xả khí thải vượt quy chuẩn kỹ thuật môi trường, Bộ Nông nghiệp và Môi trường khuyến nghị thiết lập ngưỡng cảnh báo nội bộ về các thông số ô nhiễm trong khí thải (như CO, NOx, SO2, bụi tổng) phù hợp để chủ động điều chỉnh tỷ lệ thành phần nhiên liệu, chế độ vận hành của tổ máy.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng lưu ý các đơn vị về lộ trình áp dụng Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia mới về khí thải công nghiệp (QCVN 19:2024/BTNMT) có hiệu lực từ ngày 1.7.2025. Các nhà máy vận hành trước ngày 1.7.2025 tiếp tục áp dụng quy chuẩn cũ (QCVN 22:2009/BTNMT) đến hết ngày 31.12.2031.
Ngay từ bây giờ, các chủ đầu tư nhà máy nhiệt điện khẩn trương nghiên cứu chuyển đổi công nghệ sản xuất và xử lý chất thải ngay để đáp ứng các quy định nghiêm ngặt tại quy chuẩn QCVN 19:2024/BTNMT từ ngày 1.1.2032.
Một người dùng mở điện thoại, quét QR để thanh toán ly cà phê. Trên màn hình, giao dịch hoàn tất gần như tức thì. Nhưng phía sau vài giây ấy là hàng loạt quy trình diễn ra đồng thời: xác thực danh tính, xử lý dữ liệu real-time, đối soát tài khoản và kích hoạt các lớp giám sát chống gian lận. Đó là phần ít được nhìn thấy nhất của ngân hàng số.
Người dùng thường cảm nhận chuyển đổi số qua tốc độ và sự tiện lợi của giao dịch. Nhưng với các ngân hàng lớn, điều quan trọng hơn nằm ở khả năng vận hành ổn định và an toàn ở quy mô rất lớn.
Trong bối cảnh Việt Nam thúc đẩy kinh tế số, thanh toán không tiền mặt và dữ liệu số quốc gia, ngân hàng số cũng không còn là câu chuyện riêng của ngành tài chính, mà đang dần trở thành một phần hạ tầng vận hành của nền kinh tế.
Đại diện Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam - Vietcombank cho biết, năm 2025, hệ sinh thái số của ngân hàng này xử lý khoảng 1,17 tỉ giao dịch số với tổng giá trị khoảng 14,7 triệu tỉ đồng; gần 99% giao dịch bán lẻ được thực hiện qua kênh số. Quy mô của một định chế hàng đầu quốc gia giúp người dùng có thể xác thực bằng VNeID để hoàn tất hồ sơ vay, quét QR thanh toán ở nước ngoài hay giao dịch ngay trên điện thoại mà không cần đến quầy. Với doanh nghiệp, các nền tảng số giúp xử lý dòng tiền theo thời gian thực, giảm giấy tờ và tối ưu vận hành.
Quá trình số hóa này cũng góp phần thúc đẩy thanh toán không tiền mặt và giảm đáng kể chi phí vận hành xã hội liên quan tới tiền mặt, giấy tờ và quy trình thủ công.
Trong nhiều năm, chuyển đổi số ngân hàng thường được nhìn qua mobile banking, QR hay eKYC. Nhưng với các ngân hàng lớn, phần cốt lõi lại nằm ở dữ liệu và hạ tầng công nghệ phía sau.
Một cột mốc quan trọng của Vietcombank là việc go-live thành công hệ thống core-banking năm 2020. Trong ngành ngân hàng, core-banking được xem là nền tảng quyết định khả năng xử lý realtime và mở rộng dịch vụ số ở quy mô lớn.
Từ nền tảng này, Vietcombank từng bước xây dựng hệ sinh thái số gồm VCB Digibank cho khách hàng cá nhân, VCB DigiBiz cho doanh nghiệp SME, VCB CashUp cho quản trị dòng tiền, VCB Online Lending cho vay trực tuyến cùng các nền tảng số trong lĩnh vực y tế, giáo dục.
Điểm đáng chú ý là các nền tảng này không vận hành riêng lẻ mà kết nối thông qua dữ liệu, định danh số và hệ thống xử lý tập trung. Điều đó giúp trải nghiệm khách hàng liền mạch hơn, đồng thời cho phép ngân hàng tự động hóa nhiều quy trình vận hành phía sau.
Song song với thanh toán số, Vietcombank cũng là một trong những ngân hàng tiên phong triển khai xác thực sinh trắc học qua CCCD gắn chip, tích hợp VNeID và chữ ký số từ xa. Đến cuối năm 2025, ngân hàng đã thu thập sinh trắc học cho hơn 15 triệu khách hàng, khoảng 2,5 triệu tài khoản liên kết an sinh xã hội qua VNeID và giải ngân khoảng 8.350 tỉ đồng thông qua ký số cá nhân VNeID.
Xu hướng này cũng diễn ra tại nhiều quốc gia như Ấn Độ, Singapore hay Brazil, nơi dữ liệu và định danh điện tử đang trở thành lớp nền của ngân hàng hiện đại.
Với các startup, việc thử nghiệm công nghệ hay thay đổi mô hình có thể diễn ra rất nhanh. Nhưng với ngân hàng lớn, đơn cử như nhóm Big4, chuyển đổi số là một bài toán hoàn toàn khác.
Một ngân hàng có hàng chục triệu khách hàng, lượng giao dịch thuộc nhóm lớn nhất hệ thống và yêu cầu an toàn rất cao không thể "reset" như một ứng dụng công nghệ thông thường. Mọi thay đổi đều phải đi cùng bài toán ổn định, bảo mật và quản trị rủi ro. Đây cũng là điều tạo nên "đặc thù" trong tiến trình chuyển đổi số của Vietcombank.
Ông Lê Quang Vinh - Tổng Giám đốc Vietcombank cho biết, năm 2026 được xác định là giai đoạn khởi đầu cho chiến lược phát triển mới với yêu cầu "đổi mới mạnh mẽ hơn, hiệu quả cao hơn và phát triển bền vững hơn". Trọng tâm của ngân hàng là đổi mới mô hình tăng trưởng gắn với chuyển dịch cơ cấu hoạt động, phát huy sức mạnh hệ sinh thái; đồng thời nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thích ứng với chuyển đổi số, tích hợp AI, Big Data và các mô hình dự báo hiện đại vào quản trị, kinh doanh và quản trị rủi ro.
Điều này cho thấy chuyển đổi số của ngân hàng không còn dừng ở việc "đưa dịch vụ lên online", mà đang bước sang giai đoạn vận hành bằng dữ liệu, AI và tự động hóa.
Ngoài ra, Vietcombank đang mở rộng chuyển đổi số theo hướng vận hành thông minh và phát triển bền vững. Ngân hàng tự động hóa nhiều quy trình nghiệp vụ, giảm phụ thuộc giấy tờ truyền thống, tối ưu vận hành nội bộ và nâng cao khả năng xử lý dịch vụ ở quy mô lớn. Vietcombank cũng xác định công nghệ số là một trong những nền tảng giúp giảm tiêu thụ tài nguyên, tối ưu vận hành và giảm phát thải carbon - xu hướng đang được nhiều ngân hàng quốc tế theo đuổi.
Năm 2025, Vietcombank được Asian Banking & Finance vinh danh cho các sáng kiến ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số trong quản trị rủi ro; đồng thời là ngân hàng Việt Nam tiêu biểu được Moody's, S&P và Fitch xếp hạng ngang trần tín nhiệm quốc gia - những ghi nhận cho thấy thị trường quốc tế không chỉ đánh giá cao tốc độ số hóa, mà còn ở năng lực quản trị và độ an toàn của quá trình chuyển đổi số.
Trong bối cảnh riêng của Việt Nam: Vietcombank chuyển đổi số trên nền một ngân hàng có quy mô tài sản, dữ liệu, khách hàng và yêu cầu an toàn thuộc nhóm lớn nhất hệ thống, nhưng vẫn duy trì hiệu quả kinh doanh, độ ổn định và chất lượng tài sản hàng đầu.